Bát quái vạn vật loại tượng: bảng tượng của tám quẻ dùng khi đoán Mai Hoa, và tầng nào của bảng đáng tin
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc
Bát quái vạn vật loại tượng là bảng xếp mọi thứ trong đời (người, bộ phận cơ thể, con vật, đồ vật, thức ăn, thời tiết, nơi chốn, màu, vị, con số, mùa) vào tám quẻ. Người đoán Mai Hoa dùng nó theo hai chiều: từ quẻ ra sự vật để nói cụ thể, và từ sự vật bắt gặp (ngoại ứng) ra quẻ để so với quẻ Thể.
Bản lưu hành Mai Hoa có một thiên dài cho bảng này, chia mỗi quẻ ra hàng chục mục. Dưới đây gom lại thành ba bảng dễ tra trên điện thoại. Sau bảng là phần quan trọng hơn: bảng có ba tầng với độ tin cậy khác nhau, và cách chọn tượng khi một quẻ có quá nhiều tượng.
Bảng 1: trời, đất, phương, mùa
| Quẻ | Thời tiết | Nơi chốn | Phương (hậu thiên) | Mùa, tháng âm |
|---|---|---|---|---|
| Càn ☰ | Trời quang, băng giá, mưa đá | Kinh đô, chỗ cao ráo, nơi trang nghiêm | Tây Bắc | Cuối thu đầu đông, tháng 9–10 |
| Khôn ☷ | Trời âm u, mây mù | Đồng ruộng, làng quê, đất bằng | Tây Nam | Cuối hạ đầu thu, tháng 6–7 |
| Chấn ☳ | Sấm | Rừng cây, chợ đông, đường lớn | Đông | Giữa xuân, tháng 2 |
| Tốn ☴ | Gió | Vườn cây, nơi cỏ cây tươi tốt | Đông Nam | Cuối xuân đầu hạ, tháng 3–4 |
| Khảm ☵ | Mưa, tuyết, sương, trăng | Sông, giếng, mương rãnh, chỗ ẩm thấp | Bắc | Giữa đông, tháng 11 |
| Ly ☲ | Nắng, chớp, cầu vồng | Bếp lò, chỗ khô, nơi sáng sủa | Nam | Giữa hạ, tháng 5 |
| Cấn ☶ | Mây núi, sương mù | Núi, gò đá, đường nhỏ, cổng | Đông Bắc | Cuối đông đầu xuân, tháng 12–1 |
| Đoài ☱ | Mưa nhỏ, trăng non | Đầm, ao hồ, chỗ đất trũng, bờ lở | Tây | Giữa thu, tháng 8 |
Bảng 2: người và thân thể
| Quẻ | Người trong nhà | Người ngoài xã hội | Thân thể |
|---|---|---|---|
| Càn | Cha | Người có quyền, người cao tuổi, người có danh | Đầu, xương, phổi |
| Khôn | Mẹ | Đám đông, nông dân, người lớn tuổi hiền hậu | Bụng, tỳ vị, thịt |
| Chấn | Con trai cả | Người hăng hái, người làm việc chạy nhanh | Chân, gan, tóc, tiếng nói |
| Tốn | Con gái cả | Người buôn bán, thợ thủ công, người tu hành | Đùi, cánh tay, hơi thở |
| Khảm | Con trai giữa | Người làm nghề sông nước, kẻ trộm | Tai, máu, thận |
| Ly | Con gái giữa | Người làm văn thư, người mặc giáp | Mắt, tim |
| Cấn | Con trai út | Trẻ nhỏ, người ở núi, người giữ cổng | Tay, ngón tay, mũi, lưng |
| Đoài | Con gái út | Thiếu nữ, người làm nghề nói, thầy cúng | Miệng, lưỡi, răng, phổi |
Bảng 3: con vật, đồ vật, thức ăn, màu, vị, số
| Quẻ | Con vật | Đồ vật | Thức ăn | Màu | Vị | Số |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Càn | Ngựa | Vật tròn, kim loại, ngọc, gương, mũ | Thịt có xương, đồ quý, quả tròn | Đỏ thẫm, đen huyền | Cay | 1, 4, 9 |
| Khôn | Trâu bò | Vật vuông, vải vóc, đồ gốm, xe lớn, ngũ cốc | Thịt bò, ngũ cốc, củ trong đất | Vàng, đen | Ngọt | 8, 5, 10 |
| Chấn | Rồng, rắn | Tre gỗ, nhạc cụ có tiếng, vật đang động | Rau tươi, măng, móng chân thú | Xanh | Chua | 4, 3, 8 |
| Tốn | Gà | Dây thừng, vật dài thẳng, quạt, đồ đan | Thịt gà, rau quả, đồ có mùi thơm | Xanh, trắng | Chua | 5, 3, 8 |
| Khảm | Lợn, cá | Bánh xe, cung, vật đựng nước, rượu | Thịt lợn, rượu, đồ biển, món có nước | Đen | Mặn | 6, 1 |
| Ly | Chim trĩ, rùa, cua, ốc, trai | Lửa, văn thư, giáp trụ, vật rỗng giữa, vật khô | Đồ nướng, đồ khô | Đỏ | Đắng | 3, 2, 7 |
| Cấn | Chó, chuột | Đá, đất, cổng, quả hạt | Thú rừng, quả hạt, củ | Vàng | Ngọt | 7, 5, 10 |
| Đoài | Dê | Kim loại, nhạc cụ bằng kim loại, vật sứt mẻ | Thịt dê, đồ ở ao đầm | Trắng | Cay | 2, 4, 9 |
Cột số có hai phần: số đầu là số tiên thiên của quẻ (Càn 1 đến Khôn 8), các số sau là số Hà Đồ của hành quẻ ấy (Kim 4, 9; Mộc 3, 8; Thuỷ 1, 6; Hoả 2, 7; Thổ 5, 10). Đây là cột dùng khi đoán số lượng và ứng kỳ, xem ứng kỳ Mai Hoa.
Ba tầng của bảng: tầng nào đáng tin
Bảng trông như một khối, nhưng thật ra được xếp từ ba tầng có tuổi và độ chắc rất khác nhau. Biết tầng nào là tầng nào giúp bạn ưu tiên khi chọn tượng.
Tầng một: Thuyết Quái truyện. Đây là phần cổ nhất, nằm trong chính Kinh Dịch (Thập Dực). Gồm: tám con vật (chương 8), tám bộ phận cơ thể (chương 9), tám người trong nhà (chương 10), và các danh sách tượng mở rộng (chương 11) như Càn là vàng ngọc, là vật tròn; Khảm là kẻ trộm, là bánh xe; Đoài là thầy cúng, là bẻ gãy. Tầng này ổn định qua hơn hai nghìn năm, mọi bản đều giống nhau.
Tầng hai: suy từ ngũ hành. Màu, vị, tạng phủ, số Hà Đồ, mùa. Những mục này không có trong Thuyết Quái mà được suy từ hành của quẻ: Càn Đoài thuộc Kim nên vị cay, màu trắng, tạng phổi; Khảm thuộc Thuỷ nên vị mặn, màu đen, tạng thận. Tầng này có hệ thống, ít dị bản, nhưng chỉ chính xác đến mức của hành: hai quẻ cùng hành (Càn và Đoài, Chấn và Tốn, Cấn và Khôn) cho cùng màu, cùng vị. Có chỗ tầng hai va với tầng một: Thuyết Quái nói Càn "vi đại xích" (đỏ thẫm) trong khi ngũ hành cho Kim màu trắng. Bản lưu hành giữ cả hai.
Tầng ba: mở rộng đời sau. Sư tử, voi cho Càn; quạt, đồ đan cho Tốn; giếng bỏ cho Đoài; những thức ăn cụ thể. Tầng này suy bằng loại suy: Càn là thứ cao quý, mạnh mẽ nên thêm sư tử, voi; Tốn là dài, thẳng, có gió nên thêm quạt. Đây là tầng nhiều dị bản nhất, và cũng là tầng phản ánh rõ nhất đời sống của người soạn sách (Trung Hoa đời Minh).
Khuyến nghị: khi phải chọn, ưu tiên tầng một, rồi tầng hai, sau cùng mới đến tầng ba. Với đời sống Việt Nam hôm nay, tầng ba nên được mở rộng bằng cùng lối loại suy: điện thoại (vật có tiếng, rung, cầm tay) gần Chấn; xe máy (bánh xe, chạy) gần Khảm và Chấn; giấy tờ, màn hình sáng gần Ly. Đó là việc người dùng tự làm, nên ghi vào sổ để nhất quán.
Cách chọn tượng khi một quẻ có quá nhiều tượng
Đoài có thể là thiếu nữ, thầy cúng, miệng, con dê, đầm nước, vật sứt mẻ. Đọc quẻ mà kể hết thì không nói được gì. Ba luật chọn:
- Theo câu hỏi. Hỏi về người thì lấy tượng người; hỏi về bệnh thì lấy tượng thân thể; hỏi về đồ mất thì lấy tượng đồ vật và nơi chốn; hỏi thời tiết thì lấy tượng trời.
- Theo bối cảnh trước mắt. Ví dụ cành mai chọn "thiếu nữ bẻ hoa" chứ không chọn "con dê" vì người đoán đang đứng trước cây mai. Phân tích ở bài Quan Mai Chiêm.
- Theo ngoại ứng. Nếu lúc lập quẻ có tiếng cười nói, tượng "miệng" của Đoài được ưu tiên; nếu có tiếng vỡ, tượng "sứt mẻ" được ưu tiên. Xem bài ngoại ứng.
Chiều ngược lại, khi gặp một sự vật và cần đổi nó ra quẻ (để so với Thể), hãy hỏi: đặc điểm nổi bật nhất của nó là gì? Chiếc bát sứ vỡ nổi bật ở chỗ vỡ thì là Đoài; nếu nổi bật ở chất đất nung thì là Khôn. Quy định trước thứ tự ưu tiên (người, tiếng, vật, màu) và giữ nhất quán.
Sách cổ nói gì
Càn vi mã, Khôn vi ngưu, Chấn vi long, Tốn vi kê, Khảm vi thỉ, Ly vi trĩ, Cấn vi cẩu, Đoài vi dương.
Dịch: Càn là ngựa, Khôn là trâu, Chấn là rồng, Tốn là gà, Khảm là lợn, Ly là chim trĩ, Cấn là chó, Đoài là dê. — Chu Dịch, Thuyết Quái truyện, chương 8
Bình: Tám con vật được chọn theo tính: ngựa khoẻ và bền như Càn, trâu thuận và chở nặng như Khôn, rồng động như sấm, gà biết giờ như gió theo mùa. Nhìn vào cách chọn sẽ hiểu lối loại suy để tự mở rộng tầng ba.
Mai Hoa Dịch Số, thiên Bát quái vạn vật thuộc loại, đại ý: mỗi quẻ liệt kê theo các mục thiên thời, địa lý, nhân vật, nhân sự, thân thể, thời tự, động vật, tĩnh vật, nhà cửa, ăn uống, sinh nở, cầu danh, mưu sự, buôn bán, xuất hành, bệnh tật, kiện tụng, mồ mả, phương hướng, màu, họ tên, số mục, vị.
Bình: Danh sách mục cho thấy bảng được soạn cho người đi xem quẻ thuê: mục nào cũng ứng với một loại việc khách hay hỏi. Các mục "cầu danh", "buôn bán", "kiện tụng" trong bản gốc là lời đoán việc theo quẻ, không phải tượng; bài này không chép vào bảng vì chúng thuộc về phần đoán, nên được bàn trong các bài đoán theo việc.
Đọc cho đúng mức
Bảng là từ điển, không phải lời đoán. Tra ra "Khảm là kẻ trộm" không có nghĩa quẻ có Khảm là có trộm. Tượng chỉ trở thành lời đoán khi khớp với câu hỏi, bối cảnh và sinh khắc.
Mục thân thể không phải chẩn đoán. Bảng gán phổi cho Càn Đoài, thận cho Khảm theo ngũ hành. Đó là kiến thức văn hoá. Có dấu hiệu sức khoẻ thì đi khám, không tra quẻ.
Các bản khác nhau ở tầng ba. Cùng là Tốn, có bản ghi tu sĩ, có bản ghi goá phụ, có bản ghi thợ thủ công. Đừng coi bất cứ bản nào là duy nhất đúng.
Lục Hào dùng bảng khác. Lục Hào đọc theo lục thân và ngũ hành của hào, tượng quẻ đơn ít quan trọng hơn. Bảng này chủ yếu phục vụ Mai Hoa; xem Mai Hoa và Lục Hào.
Việc nên làm
- Thuộc trọn tầng một (Thuyết Quái): tám con vật, tám bộ phận, tám người trong nhà. Đây là phần dùng nhiều nhất.
- Thuộc tầng hai theo ngũ hành, không cần học từng quẻ: biết hành là suy ra màu, vị, số.
- Lập trang riêng trong sổ cho tầng ba của bạn: đồ vật hiện đại xếp vào quẻ nào, vì sao.
- Khi đọc quẻ, viết câu hỏi trước, rồi mới chọn tượng theo ba luật ở trên.
- Lập một quẻ bằng công cụ Mai Hoa, rồi tự tra bảng để viết ba tượng hợp nhất cho câu hỏi của bạn.
Lập quẻ theo thời điểm hoặc theo số, thể – dụng, hỗ quái, biến quái.✨ Dùng thử
Nguồn tham khảo
- Chu Dịch, Thuyết Quái truyện, chương 8, 9, 10, 11 (phân chương theo Chu Hy).
- Mai Hoa Dịch Số, bản lưu hành đề Thiệu Ung soạn: thiên Bát quái vạn vật thuộc loại (đại ý; tầng mở rộng có nhiều dị bản).
- Số Hà Đồ theo ngũ hành: xem bài Hà Đồ, Lạc Thư trên site.
Câu hỏi thường gặp
Bát quái vạn vật loại tượng dùng để làm gì?
Để đổi quẻ ra sự vật cụ thể khi đoán (Đoài là thiếu nữ, Tốn là đùi), và đổi sự vật bắt gặp ra quẻ để so với quẻ Thể trong phép ngoại ứng của Mai Hoa.
Phần nào của bảng có trong Kinh Dịch?
Tám con vật, tám bộ phận cơ thể, tám người trong nhà và các danh sách tượng mở rộng nằm trong Thuyết Quái truyện, chương 8 đến 11. Màu, vị, tạng phủ suy từ ngũ hành; nhiều đồ vật cụ thể là phần mở rộng đời sau.
Một quẻ có nhiều tượng thì chọn tượng nào?
Chọn theo câu hỏi trước, rồi theo bối cảnh trước mắt, rồi theo ngoại ứng. Không kể hết mọi tượng của quẻ trong một lời đọc.
Vì sao Càn vừa màu đỏ thẫm vừa màu trắng?
Thuyết Quái ghi Càn là "đại xích", tức đỏ thẫm; còn ngũ hành xếp Kim màu trắng. Hai tầng của bảng va nhau, bản lưu hành giữ cả hai.
Đồ vật hiện đại như điện thoại thuộc quẻ nào?
Sách không có. Dùng lối loại suy của chính Thuyết Quái: điện thoại có tiếng, rung, động gần Chấn; màn hình sáng gần Ly. Đây là quy ước riêng, nên ghi vào sổ để dùng nhất quán.
Nguồn tham khảo: Chu Dịch — Thuyết Quái truyện, chương 8 đến 11 — tượng con vật, bộ phận cơ thể, người trong nhà, các tượng mở rộng của tám quẻ · Mai Hoa Dịch Số (bản lưu hành, đề Thiệu Ung soạn) — Bát quái vạn vật thuộc loại