🧭 Hướng nhà Bát Trạch
Cung phi chủ nhà, tám phương cát hung, đặt cửa – bếp – giường.
Cách đọc kết quả
Cung phi là của người, trạch là của nhà. Cung phi (còn gọi mệnh quái) tính từ năm sinh âm lịch và giới tính, cho ra một trong tám quẻ. Trạch là quẻ ở phía lưng nhà: nhà tọa Bắc hướng Nam là Khảm trạch, nhà tọa Đông hướng Tây là Chấn trạch. Hai thứ này mỗi thứ có bốn phương cát, bốn phương hung riêng — vì vậy bảng kết quả có hai cột, và la bàn có hai vòng.
Tám tên du niên là nhãn thứ hạng, không phải lời tiên tri. Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị là bốn cung cát; Họa Hại, Lục Sát, Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh là bốn cung hung. Chúng sinh ra từ phép biến hào của quẻ gốc (đổi lần lượt hào trên, giữa, dưới), nên cung hung không có nghĩa là "có chuyện" — trong sách, cung hung là chỗ dành cho kho, nhà vệ sinh, và để đặt bếp. Đừng đọc chữ "Tuyệt Mệnh" theo nghĩa đen.
"Hợp" theo sách là trạch cùng nhóm với mệnh. Đông tứ (Khảm, Ly, Chấn, Tốn) đi với Đông tứ, Tây tứ (Càn, Khôn, Cấn, Đoài) đi với Tây tứ. Phần lớn bảng "hướng nhà hợp tuổi" trên mạng chỉ so hướng mặt tiền với tuổi — đó là một phép rút gọn, và với trục Đông – Tây, Đông Nam – Tây Bắc nó cho kết luận ngược với sách. Công cụ in cả hai để bạn thấy chỗ khác.
Phương tính từ tâm nhà. "Bếp ở phía Bắc" nghĩa là bếp nằm trong phần nhà phía Bắc khi đứng ở tâm mặt bằng nhìn ra. Nhà ống dài gấp bốn, năm lần bề ngang thì chia tám nan quạt 45 độ rất lệch; nhiều thầy dùng lưới chín ô. Vẽ mặt bằng, đánh dấu tâm, rồi mới đem bảng ra dùng.
Công cụ tính thế nào
Năm âm lịch. Ngày sinh dương được đổi sang âm lịch Việt Nam (thuật toán Hồ Ngọc Đức, múi giờ +8 cho năm trước 1968, +7 từ 1968). Sinh trước Tết thì lấy năm trước. Một số thầy lấy tiết Lập Xuân (4 hoặc 5/2) làm mốc năm; công cụ báo riêng khi hai cách cho kết quả khác.
Cung phi theo lối tam nguyên của sách Bát Trạch, viết gọn: nam lấy (11 − năm âm chia 9 lấy dư) chia 9 lấy dư, nữ lấy (năm âm chia 9 lấy dư + 4) chia 9 lấy dư; ra 0 thì là 9; ra 5 thì nam về Khôn, nữ về Cấn. Chúng tôi cho máy so với lối cộng chữ số quen dùng cho mọi năm 1930–2030, cả nam lẫn nữ: trùng 202/202. Ví dụ đã soát tay: nam 1985 cung Càn; nam 1990 Khảm, nữ 1990 Cấn; nam và nữ 1988 đều Chấn.
Du niên không gõ bảng tay mà sinh bằng phép biến hào: lấy quẻ gốc, đổi hào trên được Sinh Khí, đổi tiếp hào giữa được Ngũ Quỷ, rồi hào dưới – Diên Niên, giữa – Lục Sát, trên – Họa Hại, giữa – Thiên Y, dưới – Tuyệt Mệnh, giữa – trở về Phục Vị. Kết quả 64 ô trùng khít Đại Du Niên ca ("Càn lục thiên ngũ họa tuyệt diên sinh…") và bảng tra của công cụ hướng nhà bên vatpham.
24 sơn theo vòng chính châm, mỗi sơn 15 độ, Tý lấy 0 độ làm giữa — cùng bảng với bài 24 sơn hướng. Ranh giới được chia ba loại như bài đại không vong, tiểu không vong: giữa hai quẻ, giữa hai sơn khác âm dương, giữa hai sơn cùng âm dương. Công cụ cảnh báo khi số đo cách ranh giới từ 3 độ trở xuống.
Giới hạn. Bát Trạch là phép tĩnh: không xét vận, không xét năm, không xét đường đâm, nhà cao chèn, minh đường bí. Một căn nhà hợp trạch mà loan đầu xấu vẫn cần lưu ý; phần đó thuộc minh đường và loan đầu, phần thời gian thuộc Huyền Không. Nguồn: Bát Trạch Minh Kính (bản đời Thanh, Nhược Quan Đạo Nhân biên đính), Dương Trạch Tam Yếu (Triệu Cửu Phong), Thuyết Quái truyện. Đọc thêm: Bát Trạch Minh Kính, Đông tứ trạch, Tây tứ trạch, xác định hướng nhà, đo hướng nhà bằng điện thoại.