🌸 Mai Hoa Dịch Số
Lập quẻ theo thời điểm hoặc theo số, thể – dụng, hỗ quái, biến quái.
Mai Hoa Dịch Số là gì
Mai Hoa Dịch Số là phép lập quẻ bằng con số, tương truyền của Thiệu Ung (Thiệu Khang Tiết) đời Tống. Tên sách lấy từ tích "xem hoa mai": một chiều đông Thiệu Ung thấy hai con chim sẻ tranh nhau trên cành mai rồi rơi xuống đất, ông lấy ngày giờ lúc ấy lập quẻ, đoán chiều hôm sau sẽ có cô gái bẻ hoa, bị người làm vườn đuổi, ngã bị thương ở đùi. Chuyện có thật hay không không quan trọng bằng điều nó dạy: Mai Hoa không cần cỏ thi hay đồng xu, chỉ cần một khoảnh khắc khiến lòng mình động.
Khác với gieo quẻ Chu Dịch là đọc lời quẻ, lời hào, Mai Hoa đọc chủ yếu bằng ngũ hành sinh khắc giữa thể và dụng. Lời quẻ vẫn dùng để tham khảo, nhưng trục chính là quẻ đơn đứng cho mình có được sinh, bị khắc hay tự hao.
Lập quẻ theo thời điểm: công thức trong sách
Sách Mai Hoa Dịch Số, mục "Niên nguyệt nhật thời khởi lệ", lấy bốn số theo âm lịch:
- Số năm là thứ tự chi của năm âm: Tý 1, Sửu 2, Dần 3 … Hợi 12 (không dùng số năm dương lịch).
- Số tháng là tháng âm, số ngày là ngày âm.
- Số giờ là thứ tự chi của giờ: Tý 1 (23 giờ đến 1 giờ), Sửu 2 … Hợi 12.
Năm + tháng + ngày, chia 8 lấy số dư, ra quẻ trên. Cộng thêm giờ, chia 8 lấy dư, ra quẻ dưới. Cũng tổng bốn số ấy, chia 6 lấy dư, ra hào động. Dư 0 thì lấy chính số chia: 8 là Khôn, 6 là hào 6. Số của tám quẻ đơn theo thứ tự Tiên Thiên: Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8.
Chính ví dụ xem hoa mai trong sách là phép thử tốt nhất cho công cụ này: năm Thìn (5), tháng 12, ngày 17, giờ Thân (9). 5 + 12 + 17 = 34, chia 8 dư 2, quẻ trên là Đoài. 34 + 9 = 43, chia 8 dư 3, quẻ dưới là Ly. 43 chia 6 dư 1, hào 1 động. Được Trạch Hỏa Cách, hào đầu động biến thành Trạch Sơn Hàm, hỗ quái là Càn và Tốn. Thể là Đoài (Kim), dụng là Ly (Hỏa): Hỏa khắc Kim, dụng khắc thể, nên sách đoán có người bị thương. Nhập ngày 16/01/2025 lúc 16 giờ (17 tháng Chạp năm Giáp Thìn, giờ Thân) vào công cụ sẽ ra đúng quẻ ấy.
Mấy quy ước công cụ dùng: tháng nhuận lấy số của tháng đó (nhuận tháng 6 vẫn tính 6). Từ 23 giờ đã là giờ Tý của ngày hôm sau, nên ngày âm cũng tính sang hôm sau. Âm lịch tính theo lịch Việt Nam, năm trước 1968 theo múi giờ +8 như lịch thời đó.
Lập quẻ theo hai số
Sách còn nhiều lối lấy số từ vật: đếm tiếng gõ cửa, đếm nét chữ, số người đến. Công cụ gộp lại thành lối hai số: số đầu chia 8 ra quẻ trên, số sau chia 8 ra quẻ dưới, tổng hai số cộng số giờ rồi chia 6 ra hào động, theo câu "hợp số gia thời" (gộp số, thêm giờ) của sách. Có người chỉ lấy tổng hai số không cộng giờ; bạn chọn được ở ô "Hào động lấy theo".
Đọc thể – dụng thế nào
| Quan hệ | Ý theo "Thể dụng tổng quyết" |
|---|---|
| Thể khắc dụng | Cát: việc nắm được, nhưng phải bỏ sức |
| Dụng sinh thể | Cát: có cái được thêm vào, có người giúp |
| Thể – dụng tỷ hoà | Cát: hai bên cùng chiều, việc thuận |
| Thể sinh dụng | Hao: mình phải cho đi, tốn sức tốn của |
| Dụng khắc thể | Bất lợi: việc vướng, nên thận trọng |
Đọc xong thể – dụng thì xem tiếp quẻ hỗ là đoạn giữa của việc, và quẻ biến là đoạn kết. Một quẻ mở đầu bằng dụng khắc thể mà biến ra quẻ sinh thể thường được đọc là "đầu khó sau dễ", và ngược lại. Ngũ hành của tám quẻ: Càn, Đoài là Kim; Ly là Hỏa; Chấn, Tốn là Mộc; Khảm là Thủy; Cấn, Khôn là Thổ.
Hỏi cho nghiêm
Mai Hoa có câu "bất động bất chiêm": không có việc khiến lòng động thì không xem. Quẻ lập theo thời điểm chỉ có ý nghĩa khi khoảnh khắc ấy gắn với việc bạn hỏi: lúc nhận cuộc gọi, lúc đứng trước một lựa chọn. Lấy đại một giờ nào đó cho vui thì quẻ cũng chỉ là trò chơi số học.
Cũng như gieo xu, đừng lập lại quẻ cho cùng một việc chỉ vì kết quả không như ý. Lời quẻ Mông đã dặn: hỏi lần đầu thì được bảo, hỏi đi hỏi lại là nhờn. Quẻ đầu tiên là quẻ để đọc.
Mai Hoa là phép suy ngẫm, không phải lời tiên tri chắc chắn, và không ai đoán trúng mọi lần. Hãy dùng nó như một góc nhìn để cân nhắc, còn quyết định vẫn dựa trên hiểu biết thật về việc của bạn. Việc về sức khoẻ, pháp lý, tiền bạc, hãy hỏi người có chuyên môn.