Lập quẻ theo người đến hỏi, theo phương hướng, theo màu sắc: các phép "lấy tượng" của Mai Hoa và chỗ chủ quan của chúng

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc

Lập quẻ theo người đến hỏi, theo phương hướng, theo màu sắc: các phép "lấy tượng" của Mai Hoa và chỗ chủ quan của chúng

Lập quẻ theo người là phép "hậu thiên" của Mai Hoa: quy người đến hỏi ra một quẻ (ông già là Càn, thiếu nữ là Đoài…) làm quẻ trên, quy phương họ đến hoặc đi ra một quẻ theo bát quái hậu thiên làm quẻ dưới, rồi cộng số hai quẻ với số giờ, chia 6 ra hào động. Phép này nhanh, nhưng chủ quan: cùng một người, hai thầy có thể quy ra hai quẻ khác nhau.

Bài lập quẻ theo con số, chữ, tiếng động đi qua các cửa "số trước, quẻ sau". Bài này đi qua cửa ngược lại, "quẻ trước, số sau", và dừng lâu ở chỗ mà sách không dạy: khi một người có thể thuộc ba quẻ thì chọn quẻ nào.

Công thức trong ba dòng

  1. Quẻ trên: quẻ của người (hoặc con vật, đồ vật) đang được hỏi đến.
  2. Quẻ dưới: quẻ của phương hướng, tính theo bát quái hậu thiên, đứng từ chỗ người đoán.
  3. Hào động: số tiên thiên của quẻ trên cộng số của quẻ dưới cộng số giờ (Tý 1 … Hợi 12), chia 6 lấy dư (dư 0 là hào 6).

Số tiên thiên: Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8. Bước 3 trùng với chế độ "hai số có cộng giờ" của công cụ Mai Hoa trên site: nhập số quẻ người làm số thứ nhất, số quẻ phương làm số thứ hai.

Ví dụ của sách, chuyện ông lão có vẻ lo: ông lão là Càn (1), đi về phương Tốn (5), giờ Mão (4), tổng 10, hào 4, ra Thiên Phong Cấu. Phân tích đầy đủ ở bài ứng kỳ Mai Hoa.

Xem cho người, ai là Thể?

Quy tắc Thể – Dụng không đổi: quẻ đơn không có hào động là Thể (xem Thể và Dụng). Khi xem cho người khác, Thể đại diện cho người được hỏi đến, dù quẻ của người ấy ban đầu được đặt ở trên. Trong ví dụ ông lão, hào động rơi vào quẻ trên (Càn), nên Thể là Tốn ở dưới, và sách đọc vận của ông lão trên Tốn Mộc bị Càn Kim khắc. Người mới hay nhầm chỗ này: tưởng "ông lão là Càn" thì Càn là Thể.

Bốn loại đối tượng sách nhắc tới

Mục trong sáchQuẻ trênQuẻ dướiGhi chú
Vi nhân chiêm (xem cho người)sách kê tám nguồn: nghe tiếng nói (đếm chữ câu đầu hoặc câu cuối), xem người (ông già Càn, thiếu nữ Đoài), xem thân (đầu động Càn, chân động Chấn, mắt động Ly), vật cầm tay, màu áo, vật bên ngoài chạm tới, năm tháng ngày giờ, chữ viết raphương người đến hoặc điví dụ ông lão, chàng trai có vẻ vui
Tự kỷ chiêm (xem cho mình)dùng năm tháng ngày giờ, hoặc tiếng động nghe được, hoặc vật bên ngoài chạm tới lúc ấysách nói cùng phép với xem cho người, nhưng không bảo tự lấy tượng chính mình
Chiêm động vật (con vật)một con vật cụ thể: ngựa Càn, trâu Khôn, gà Tốn, chó Cấn…; bầy vật đang động thì không lập quẻphương con vật đếnví dụ trâu kêu, gà kêu; vật nuôi mới sinh hay mới mua thì lập theo lúc sinh, lúc mua
Chiêm tĩnh vật (vật đứng yên)sông núi đá không lập quẻ; nhà cửa, cây cối lập theo lúc mới dựng, mới trồng; đồ dùng lập theo lúc làm xong; ngoài ra vô cớ thì không xemcành mai, hoa mẫu đơn được xem vì có cớ: chim rơi, có người hỏi

Điều đáng để ý: sách không bảo người đoán tự lấy tượng chính mình, và đặt ra những chỗ không được xem (bầy vật, sông núi, vật vô cớ). Lý do dễ hiểu: không ai nhìn mình khách quan được, và quẻ phải có một cái cớ cụ thể.

Quy người ra quẻ: ba lớp đặc điểm, ba quẻ khác nhau

Thuyết Quái cho một gia đình tám người: Càn cha, Khôn mẹ, Chấn trai cả, Tốn gái cả, Khảm trai giữa, Ly gái giữa, Cấn trai út, Đoài gái út (nguyên văn ở mục sách cổ). Đó là lớp chắc nhất. Ngoài ra còn lớp nghề nghiệp, dáng dấp, màu áo, vật cầm tay; bảng đầy đủ ở bài bát quái vạn vật loại tượng.

Vấn đề là một người thật luôn có nhiều lớp cùng lúc. Thử một tình huống dựng: lúc 16 giờ (giờ Thân, số 9), một người đàn ông trung niên mặc áo khoác đỏ, tay cầm chiếc ô đen, đi từ phía tây nam tới hỏi về một việc đang làm dở. Phương tây nam là Khôn (số 8).

ThầyQuy người theoQuẻ ngườiQuẻ chủHào độngThể – DụngĐọc chung
Atuổi và giới: đàn ông trung niên, trai giữaKhảm (6)Thuỷ Địa Tỷ6 + 8 + 9 = 23, hào 5Thể Khôn khắc Dụng Khảm; hỗ, biến đều Thổ, tỷ hoàthuận, việc nắm được
Bmàu áo đỏLy (3)Hoả Địa Tấn3 + 8 + 9 = 20, hào 2Thể Ly sinh Dụng Khôn; hỗ trên và biến đều Khảm khắc Thểhao sức, cuối có trở ngại
Cdáng đi vội, nghề chạy giao hàngChấn (4)Lôi Địa Dự4 + 8 + 9 = 21, hào 3Thể Chấn khắc Dụng Khôn; hỗ Khảm sinh Thểthuận, có người giúp

Ba quẻ tính bằng công cụ Mai Hoa của site. Hai thầy ra "thuận", một thầy ra "nghịch", chỉ vì chọn lớp đặc điểm khác nhau. Đây không phải lỗi tính toán; nó là bản chất của phép lấy tượng.

Phương hướng: đứng ở đâu, tính chiều nào

Phương theo bát quái hậu thiên, đứng từ chỗ người đoán:

PhươngQuẻSố
BắcKhảm6
Đông BắcCấn7
ĐôngChấn4
Đông NamTốn5
NamLy3
Tây NamKhôn8
TâyĐoài2
Tây BắcCàn1

Ba chỗ hay vướng:

  • Đến từ hay đi về? Ngay trong sách đã có cả hai: ông lão "đi về phương Tốn", còn chàng trai có vẻ vui thì "từ phương Ly tới", con trâu thì "kêu ở phương Khảm". Sách không đặt luật chung. Cách an toàn: lấy phương nơi người, vật ấy xuất hiện khi mình nhìn thấy, và ghi rõ vào sổ.
  • Mỗi phương rộng 45 độ. Người đi tới theo hướng 112 độ (giữa đông và đông nam) có thể quy Chấn hay Tốn. Dùng la bàn trên điện thoại, chia vòng tròn tám phần, mỗi phần 45 độ, lấy chính Bắc ở giữa phần Khảm.
  • Trong nhà, trong phòng. Người bước vào từ cửa phòng thì phương là phương của cửa, tính từ chỗ mình ngồi; không phải phương của toà nhà.

Màu sắc, âm thanh, đồ vật: thêm lớp, thêm chọn lựa

Màu sắc là lớp chủ quan nhất, vì chính các văn bản cũng không thống nhất. Thuyết Quái ghi Càn là "đỏ thẫm", Khôn là "đen", Chấn là "huyền hoàng" (đen pha vàng), Tốn là "trắng", Khảm là "đỏ" (quẻ của máu). Các bảng đời sau, gồm bảng Mai Hoa lưu hành, lại xếp Khảm là đen, Ly là đỏ, Khôn là vàng. Một chiếc áo đỏ, theo Thuyết Quái có thể là Khảm, theo bảng đời sau là Ly.

Âm thanh và đồ vật cũng vậy: tiếng chuông có thể là Càn (kim loại tròn) hay Đoài (kim loại có tiếng); chiếc ô có thể là Tốn (dài thẳng) hay Khảm (che mưa). Mỗi lớp thêm vào là thêm một ngã rẽ.

Làm sao bớt chủ quan

Sách không có quy tắc, nên người dùng phải tự đặt luật trước khi nhìn thấy người:

  1. Một thứ tự ưu tiên cố định. Ví dụ: tuổi và giới trước; chỉ khi không rõ tuổi giới (nhìn từ xa, trẻ con) mới dùng màu áo; vật cầm tay chỉ dùng làm ngoại ứng, không dùng lập quẻ.
  2. Một bảng màu duy nhất. Chọn hoặc Thuyết Quái, hoặc bảng đời sau, và giữ nguyên.
  3. Ghi lại người thật bằng chữ (tuổi ước, giới, áo, dáng, phương, giờ) trước khi quy ra quẻ, để sau còn soát lại mình đã quy đúng luật chưa.
  4. Không lập quẻ khi đã biết câu chuyện. Nếu người ấy vừa kể hết chuyện rồi, mình dễ chọn quẻ hợp với điều mình đã đoán sẵn.
  5. So với một quẻ lập theo thời gian cùng lúc. Hai quẻ cùng chiều thì thêm tin; ngược chiều thì ghi cả hai, đừng chọn quẻ mình thích.

Sách cổ nói gì

乾,天也,故稱乎父。坤,地也,故稱乎母。震一索而得男,故謂之長男。巽一索而得女,故謂之長女。坎再索而得男,故謂之中男。離再索而得女,故謂之中女。艮三索而得男,故謂之少男。兌三索而得女,故謂之少女。 Càn, thiên dã, cố xưng hồ phụ. Khôn, địa dã, cố xưng hồ mẫu. Chấn nhất sách nhi đắc nam, cố vị chi trưởng nam. Tốn nhất sách nhi đắc nữ, cố vị chi trưởng nữ. Khảm tái sách nhi đắc nam, cố vị chi trung nam. Ly tái sách nhi đắc nữ, cố vị chi trung nữ. Cấn tam sách nhi đắc nam, cố vị chi thiếu nam. Đoài tam sách nhi đắc nữ, cố vị chi thiếu nữ.

Càn là trời nên gọi là cha; Khôn là đất nên gọi là mẹ. Chấn cầu lần thứ nhất được con trai nên gọi là trai cả; Tốn cầu lần thứ nhất được con gái nên gọi là gái cả. Khảm cầu lần thứ hai được trai, gọi là trai giữa; Ly cầu lần thứ hai được gái, gọi là gái giữa. Cấn cầu lần thứ ba được trai, gọi là trai út; Đoài cầu lần thứ ba được gái, gọi là gái út. — Chu Dịch, Thuyết Quái truyện, chương mười

Bình: "cầu lần thứ mấy" là vị trí hào khác loại trong quẻ: Chấn có hào dương ở dưới cùng (lần thứ nhất), Khảm ở giữa, Cấn ở trên. Đây là lớp quy người vững nhất vì nó có trong kinh văn và có lý do cấu trúc. Mọi lớp quy người khác (nghề, màu, dáng) là bảng đời sau thêm vào.

帝出乎震,齊乎巽,相見乎離,致役乎坤,說言乎兌,戰乎乾,勞乎坎,成言乎艮。 Đế xuất hồ Chấn, tề hồ Tốn, tương kiến hồ Ly, trí dịch hồ Khôn, duyệt ngôn hồ Đoài, chiến hồ Càn, lao hồ Khảm, thành ngôn hồ Cấn.

Chủ tể ra ở Chấn, chỉnh tề ở Tốn, gặp nhau ở Ly, dốc sức ở Khôn, vui nói ở Đoài, giao tranh ở Càn, nhọc nhằn ở Khảm, hoàn thành ở Cấn. — Chu Dịch, Thuyết Quái truyện, chương năm

Bình: đoạn này là gốc của vòng bát quái hậu thiên, đi theo phương đông, đông nam, nam, tây nam, tây, tây bắc, bắc, đông bắc. Phép lấy phương trong Mai Hoa đứng trên đúng vòng này.

凡為人占,其例不一。或聽語聲起卦,或觀其人品,或取諸身,或取諸物,或因其服色,觸其外物,或以年月日時,或以書寫來意。 Phàm vi nhân chiêm, kỳ lệ bất nhất. Hoặc thính ngữ thanh khởi quái, hoặc quan kỳ nhân phẩm, hoặc thủ chư thân, hoặc thủ chư vật, hoặc nhân kỳ phục sắc, xúc kỳ ngoại vật, hoặc dĩ niên nguyệt nhật thời, hoặc dĩ thư tả lai ý.

Phàm xem cho người, phép không chỉ một: hoặc nghe tiếng nói mà lập quẻ, hoặc xem phẩm người, hoặc lấy ở thân, hoặc lấy ở vật, hoặc theo màu áo, theo vật bên ngoài chạm tới, hoặc dùng năm tháng ngày giờ, hoặc theo chữ viết ý đến hỏi. — Mai Hoa Dịch Số, Vi nhân chiêm

Bình: tám nguồn cho cùng một người; sách không nói nguồn nào trước. Đó chính là gốc của chỗ chủ quan mà bài này bàn.

Đọc cho đúng mức

  • Lấy tượng là kỹ năng, không phải công thức. Sách cho nhiều nguồn tượng nhưng không cho quy tắc chọn; hai thầy giỏi vẫn có thể ra hai quẻ.
  • Các ví dụ trong sách là chuyện đã ứng, được kể lại; chúng cho thấy cách nghĩ, không chứng minh độ chính xác.
  • Ví dụ người áo đỏ trong bài là tình huống dựng để minh hoạ, không phải chuyện thật.
  • Đừng lấy tượng người khác để phán về họ. Quẻ trả lời câu hỏi đang hỏi, không phán tính cách hay số phận người được quy ra quẻ.
  • Lục Hào và các môn khác không lập quẻ kiểu này; đây là nét riêng của Mai Hoa (xem Mai Hoa và Lục Hào).

Việc nên làm

  1. Viết sẵn vào sổ một thứ tự ưu tiên quy người và một bảng màu bạn sẽ dùng, trước khi thử phép này.
  2. Mang la bàn điện thoại, tập xác định tám phương 45 độ quanh chỗ mình hay ngồi.
  3. Khi gặp tình huống, ghi người, phương, giờ bằng chữ trước, rồi mới quy ra quẻ.
  4. Nhập số quẻ người và số quẻ phương vào chế độ hai số của công cụ Mai Hoa trên site để có quẻ chủ, hỗ, biến chính xác.
  5. Lập thêm một quẻ theo thời gian cùng lúc để đối chiếu, và ghi cả hai vào sổ.
🌸Mai Hoa Dịch Số
Lập quẻ theo thời điểm hoặc theo số, thể – dụng, hỗ quái, biến quái.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Mai Hoa Dịch Số, bản lưu hành, các mục Vi nhân chiêm, Tự kỷ chiêm, Chiêm động vật, Chiêm tĩnh vật (đối chiếu bản số hoá trên Wikisource tiếng Trung).
  • Chu Dịch, Thuyết Quái truyện, chương năm, mười, mười một (đối chiếu bản số hoá).
  • Ba quẻ ví dụ Thuỷ Địa Tỷ, Hoả Địa Tấn, Lôi Địa Dự lập bằng công cụ Mai Hoa của aihuyenhoc.com, chế độ hai số có cộng giờ Thân.

Câu hỏi thường gặp

Lập quẻ Mai Hoa theo người đến hỏi làm thế nào?

Quy người ra một quẻ làm quẻ trên, quy phương họ đến ra một quẻ theo bát quái hậu thiên làm quẻ dưới, cộng số hai quẻ với số giờ rồi chia 6 lấy dư để ra hào động.

Người già, người trẻ quy ra quẻ nào?

Theo Thuyết Quái: ông già là Càn, bà già là Khôn, trai cả Chấn, gái cả Tốn, trai giữa Khảm, gái giữa Ly, trai út Cấn, gái út Đoài. Ngoài ra còn quy theo nghề, dáng, màu áo, nhưng các lớp này chủ quan hơn.

Phương hướng tính từ đâu?

Từ chỗ người đoán đứng hoặc ngồi, theo tám phương hậu thiên: Khảm bắc, Cấn đông bắc, Chấn đông, Tốn đông nam, Ly nam, Khôn tây nam, Đoài tây, Càn tây bắc.

Vì sao cùng một người mà hai thầy ra hai quẻ khác nhau?

Vì một người có nhiều đặc điểm cùng lúc: tuổi, giới, nghề, màu áo. Chọn đặc điểm nào để quy ra quẻ là quyết định của người đoán, sách không có quy tắc bắt buộc.

Có nên tự lấy tượng chính mình để lập quẻ không?

Sách gần như không làm vậy. Xem cho mình thì nên lập theo năm tháng ngày giờ hoặc theo một con số bắt gặp, vì không ai nhìn mình khách quan được.

Nguồn tham khảo: Mai Hoa Dịch Số (bản lưu hành) — các mục Vi nhân chiêm, Tự kỷ chiêm, Chiêm động vật, Chiêm tĩnh vật · Chu Dịch — Thuyết Quái truyện — chương năm, chương mười, chương mười một · Quẻ ví dụ lập bằng công cụ Mai Hoa của aihuyenhoc.com

Quẻ tiên thiên và quẻ hậu thiên trong Mai Hoa: lấy số trước hay lấy tượng trướcMai Hoa chia quẻ tiên thiên (có số rồi ra quẻ) và quẻ hậu thiên (thấy vật ra quẻ, cộng giờ ra hào). Bảng khác nhau và một sự việc…
Mai Hoa và Lục Hào khác nhau thế nào: một quẻ đọc hai cách, và người mới nên học môn nào trướcMai Hoa và Lục Hào khác nhau thế nào: so độ khó, dữ liệu cần, độ chi tiết; cùng một quẻ Lôi Trạch Quy Muội đọc theo hai môn, và g…
Hỗ quái, biến quái trong Mai Hoa: quá trình và kết cục của việc, đọc trọn một quẻ từ đầu đến cuốiHỗ quái biến quái trong Mai Hoa: dựng quẻ hỗ từ hào 2 đến 5, quẻ biến chỉ đổi bên Dụng, ví dụ Lôi Thuỷ Giải đọc trọn ba cảnh, và …
Bát quái vạn vật loại tượng: bảng tượng của tám quẻ dùng khi đoán Mai Hoa, và tầng nào của bảng đáng tinBát quái vạn vật loại tượng: bảng tra người, thân thể, con vật, đồ vật, thức ăn, thời tiết, màu của tám quẻ theo Mai Hoa, tách lớ…
Tam Yếu Linh Ứng: tai nghe, mắt thấy, lòng cảm trong phép đoán Mai Hoa, và vì sao đây là phần khó kiểm chứng nhấtTam Yếu Linh Ứng trong Mai Hoa: ba cửa tai, mắt, lòng; tách phần thuật đoán khỏi phần tu tâm tĩnh và thành, và vì sao trực giác ở…
Quan Mai Chiêm: chuyện hai con chim sẻ tranh cành mai của Thiệu Ung, mổ lại từng bước như một bài tập mẫuQuan Mai Chiêm: năm Thìn tháng Chạp ngày 17 giờ Thân, quẻ Cách biến Hàm. Mổ lại từng bước, tách phần luật, phần tượng, phần ngoại…