💞 Xem hợp tuổi
Vợ chồng, làm ăn, sinh con: ngũ hành nạp âm, can chi, cung phi.
Cách đọc kết quả
Xem hợp tuổi là đặt hai năm sinh cạnh nhau trên bốn lớp của mệnh lý phương Đông. Lớp ngũ hành nạp âm (Hải Trung Kim, Lộ Bàng Thổ…) cho biết hai "chất" sinh nhau, cùng loại hay khắc nhau. Lớp thiên can (Giáp, Ất…) xét năm cặp ngũ hợp và các cặp khắc. Lớp địa chi, tức con giáp, xét tam hợp, lục hợp, xung, hình, hại, phá. Lớp cung phi Bát Trạch chỉ dùng cho vợ chồng (và để tham khảo với đối tác): ghép cung của hai người ra một trong tám du niên, bốn tốt là Sinh Khí, Diên Niên, Thiên Y, Phục Vị.
Mỗi lớp có thang điểm riêng và một câu lý do, để bạn thấy điểm tổng đến từ đâu chứ không phải một con số rơi từ trên xuống. Các lớp không cùng chiều là chuyện thường: một cặp có thể khắc ở nạp âm mà lại Diên Niên ở cung phi, hay tam hợp con giáp mà can khắc. Lời giải thật nằm ở chỗ đọc cả bốn lớp cùng nhau, và nhận ra mình cần vun ở lớp nào.
Điểm thấp không phải lời khuyên chia tay hay đừng hợp tác. Nó chỉ nói rằng theo năm sinh, hai người khác nhau ở nhiều lớp — mà khác nhau thì cần chủ động hiểu nhau hơn. Phần "cách hoà hợp" gom những gì dân gian và người làm nghề hay khuyên: hành trung gian cho cặp mệnh khắc, cách nói chuyện cho cặp con giáp xung, chọn ngày cưới không xung tuổi cả hai, bố trí nhà theo cung từng người. Và nên nhớ: mọi cặp cùng hai năm sinh trên đời đều nhận đúng một kết quả này, nên tính cách và cách hai người đối xử với nhau mới là phần quyết định.
Với cha mẹ và con, dân gian coi trọng nhất lớp nạp âm: con sinh cho cha mẹ, hoặc cha mẹ sinh cho con, đều là thuận; khắc thì cha mẹ chỉ cần biết để mềm mỏng hơn. Không có lớp nào ở đây nói về chuyện "con khắc cha mẹ phải làm lễ" — đó là lời đồn, không phải phép tính.
Công cụ tính thế nào
Năm âm lịch. Mọi lớp dùng năm sinh âm lịch, đổi năm vào mùng Một Tết. Nhập ngày sinh dương lịch thì công cụ tự đổi theo lịch Việt Nam (múi giờ +7, năm trước 1968 dùng +8), tránh lỗi hay gặp nhất là lấy nhầm năm của người sinh tháng Một, tháng Hai dương lịch.
Nạp âm theo bảng lục thập hoa giáp ba mươi cặp. Thiên can: ngũ hợp Giáp – Kỷ, Ất – Canh, Bính – Tân, Đinh – Nhâm, Mậu – Quý được điểm cao nhất; can khắc cùng dấu âm dương (Canh khắc Giáp, Giáp khắc Mậu…) điểm thấp nhất; khắc khác dấu tính là khắc nhẹ. Địa chi: tam hợp Thân Tý Thìn, Dần Ngọ Tuất, Hợi Mão Mùi, Tỵ Dậu Sửu; lục hợp Tý – Sửu, Dần – Hợi, Mão – Tuất, Thìn – Dậu, Tỵ – Thân, Ngọ – Mùi; lục xung các cặp đối diện; tam hình, lục hại, lục phá theo bảng mệnh lý chuẩn. Cặp vừa hợp vừa vướng (như Tỵ – Thân: lục hợp mà cũng hình, phá) lấy điểm giữa. Chi tiết từng quan hệ ở bài hợp, xung, hình, hại.
Cung phi tính theo năm sinh âm lịch và giới tính (nam: 11 trừ số dư của năm khi chia 9; nữ: 4 cộng số dư; số 5 nam gửi Khôn, nữ gửi Cấn), rồi tra bảng du niên Bát Trạch. Các bảng nạp âm, can hợp – can kỵ, cung phi và du niên đã được đối chiếu với dữ liệu của công cụ hợp tuổi, hướng nhà chạy nhiều năm bên hệ vatpham: khớp đủ 60 năm hoa giáp, 18 dòng cung phi nam nữ và 64 cặp du niên. Thang điểm là quy ước của aihuyenhoc để dễ đọc, không phải điểm số của sách cổ.