Những năm Đinh Mùi trong sử Việt: 1427, 1787, 1847, 1907, 1967 — năm Thiên Hà Thủy đã qua ra sao

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Những năm Đinh Mùi trong sử Việt: 1427, 1787, 1847, 1907, 1967 — năm Thiên Hà Thủy đã qua ra sao

Năm Đinh Mùi lặp lại sáu mươi năm một lần. Trong sử Việt, các năm Đinh Mùi có ghi chép rõ mang những gương mặt trái ngược: 1427 thắng trận Chi Lăng – Xương Giang, 1787 anh em Tây Sơn chia rẽ, 1847 tàu Pháp bắn phá cửa Hàn, 1907 phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, 1967 chiến tranh lan rộng. Cùng can chi, không cùng số phận.

Vì sao phải nhìn lại các năm cùng can chi

Mỗi dịp cuối năm, rất nhiều bài "dự báo năm mới" suy từ can chi và nạp âm của năm ra thời cuộc: năm Đinh Mùi lửa âm trên đất khô, nạp âm Thiên Hà Thủy, nên năm nay thế này thế kia. Bài năm 2027 là năm con gì đã giải nghĩa ba lớp ấy. Câu hỏi của bài này đơn giản hơn: nếu can chi quyết định thời cuộc, thì các năm Đinh Mùi trước đây phải giống nhau. Có giống không?

Cách kiểm thì ai cũng làm được: lấy các năm Đinh Mùi, đặt cạnh những gì sử sách ghi lại. Can chi các năm dưới đây đã chạy bằng bộ âm lịch của site. Sự kiện chỉ chọn những việc có ghi chép rõ, không chọn việc để vừa với một lời đoán.

Đinh Mùi 1427: năm kết thúc hai mươi năm thuộc Minh

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm Đinh Mùi là năm then chốt của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Quân Lam Sơn vây thành Đông Quan; nhà Minh đưa viện binh sang, cánh chính do Liễu Thăng chỉ huy theo đường Lạng Sơn. Khoảng tháng Mười năm ấy, viện binh bị chặn và phá ở Chi Lăng, rồi tan ở Xương Giang. Cuối năm, Vương Thông trong thành Đông Quan xin giảng hoà, có hội thề, và quân Minh rút về nước sang đầu năm sau. Bình Ngô đại cáo ra đời đầu năm Mậu Thân 1428.

Nếu chỉ nhìn năm này, người ta dễ viết: "Đinh Mùi là năm của chiến thắng, lửa Đinh soi đường, nước Thiên Hà gột rửa". Câu nghe xuôi tai. Hãy giữ nó lại và đọc tiếp.

Đinh Mùi 1787: năm anh em Tây Sơn đánh nhau

Ba trăm sáu mươi năm sau, năm Đinh Mùi 1787 là năm rối ren nhất của nhà Tây Sơn. Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ bất hoà sau chuyến Nguyễn Huệ ra Bắc năm trước; hai anh em đem quân đánh nhau ở vùng Quy Nhơn, rồi mới giảng hoà, chia đất. Ở Bắc Hà, Nguyễn Hữu Chỉnh nắm quyền bên cạnh vua Lê Chiêu Thống; cuối năm, Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc trừ Chỉnh. Cùng năm ấy, ở châu Âu, Giám mục Bá Đa Lộc thay mặt Nguyễn Ánh ký với triều đình Pháp hiệp ước Versailles (tháng 11/1787), một hiệp ước về sau không được thi hành.

"Năm của chiến thắng" ở trên giờ thành năm của chia rẽ. Người muốn giữ lời đoán sẽ nói: "lửa Đinh âm là lửa nhỏ, dễ thành lửa trong nhà". Câu này cũng nghe xuôi tai.

Đinh Mùi 1847: năm tiếng súng đầu tiên ở cửa Hàn

Năm Thiệu Trị thứ bảy, Đinh Mùi 1847. Theo Đại Nam thực lục và các ghi chép của phía Pháp, tháng Tư năm ấy hai chiến hạm Pháp vào cửa Hàn (Đà Nẵng), giao tranh và bắn chìm các thuyền đồng của triều đình. Đây thường được coi là lần nổ súng đầu tiên của chiến thuyền Pháp vào nước ta, mười một năm trước cuộc tấn công Đà Nẵng năm 1858. Cuối năm, vua Thiệu Trị mất, Tự Đức lên ngôi.

Ba năm Đinh Mùi, ba gương mặt: thắng giặc phương Bắc, chia rẽ trong nhà, và lần đầu đối mặt với tàu Tây.

Đinh Mùi 1907: năm của mở trường và đổi vua

Năm 1907 được nhớ nhất qua Đông Kinh Nghĩa Thục, trường học không thu tiền mở ở Hà Nội khoảng tháng Ba, dạy chữ quốc ngữ, khoa học, cổ động bỏ lối học cử nghiệp và cắt tóc ngắn; đến cuối năm thì bị chính quyền thuộc địa đóng cửa. Cũng năm ấy, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu đưa thêm nhiều thanh niên sang Nhật học. Ở Huế, vua Thành Thái bị ép thoái vị, vua Duy Tân mới tám tuổi lên ngôi.

Theo bộ âm lịch của site, Tết Đinh Mùi năm ấy rơi vào ngày 13/2/1907. Đây là năm của canh tân, của chữ nghĩa, không giống năm nào trong ba năm Đinh Mùi trước.

Đinh Mùi 1967: năm chiến tranh và một quyết định về lịch

Năm 1967, Tết Đinh Mùi vào ngày 9/2. Chiến tranh lan rộng trên cả hai miền; đây là năm ngay trước Tết Mậu Thân 1968. Trong khu vực, ngày 8/8/1967 năm nước Đông Nam Á lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Việt Nam gia nhập năm 1995).

Có một sự kiện nhỏ mà người làm lịch nhớ mãi: từ năm 1967, miền Bắc quyết định soạn âm lịch theo múi giờ +7 thay cho múi +8 dùng từ trước, áp dụng từ năm 1968. Kết quả là Tết Mậu Thân miền Bắc rơi vào 29/1/1968, sớm hơn miền Nam (vẫn theo múi +8) một ngày. Đó là lý do bộ âm lịch của site đổi múi tính ở năm 1968, và là lý do một số năm Tết Việt Nam lệch Tết Trung Hoa (xem bài sinh tháng 1, tháng 2 dương lịch tuổi gì).

Đặt năm năm Đinh Mùi cạnh nhau

NămThờiViệc nổi bật có ghi chépGương mặt của năm
1427khởi nghĩa Lam SơnChi Lăng – Xương Giang, hội thề Đông Quankết thúc thời thuộc Minh
1787Tây SơnNhạc – Huệ đánh nhau, Bắc Hà rối ren, hiệp ước Versailleschia rẽ trong nhà
1847Thiệu Trị năm thứ 7tàu Pháp bắn phá cửa Hàn, vua Thiệu Trị mấtva chạm đầu tiên với phương Tây
1907Thành Thái, Duy TânĐông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du, đổi vuacanh tân, học chữ mới
1967chiến tranhchiến sự lan rộng, ASEAN ra đời, miền Bắc đổi múi lịchchiến tranh

Không có một điểm chung nào ngoài cái tên. Có năm thắng, có năm chia rẽ, có năm mất mát, có năm mở trường. Nếu đặt thêm các năm Đinh Mùi khác vào bảng (1487, 1547, 1607, 1667, 1727), bức tranh chỉ càng rời rạc hơn; chúng tôi không đưa vào vì chưa tìm được sự kiện có ghi chép đủ rõ để dẫn.

Điều đáng học nằm ở các câu "nghe xuôi tai" rải trong bài: với năm nào, người khéo chữ cũng tìm được một cách đọc Thiên Hà Thủy, lửa Đinh, đất Mùi cho vừa. Một lời giải thích khớp với mọi kết quả thì không giải thích được kết quả nào. Đó là cơ chế mà tâm lý học gọi là hiệu ứng Barnum; xem bài hiệu ứng Barnum.

Vậy can chi năm dùng để làm gì

Can chi năm là một cái tên của thời gian, và nó có ích thật khi dùng đúng việc:

  • Để nhớ. Người Việt nhớ "Tết Mậu Thân", "nạn đói Ất Dậu", "Đông Kinh Nghĩa Thục năm Đinh Mùi" dễ hơn nhớ con số. Can chi là chỉ mục của ký ức chung.
  • Để tính. Trong lá số Tử Vi, can năm phát ra Tứ Hoá, chi năm đặt Thái Tuế; đó là phép tính cho từng người, đọc trên lá số riêng, không phải lời phán cho cả nước. Cách đọc ở bài tử vi năm 2027.
  • Để chọn nhịp. Lịch Huyền Không, chọn ngày dùng can chi để sắp việc theo hướng, theo ngày, cũng ở mức từng ngôi nhà, từng việc.

Cái nó không làm được là quyết định thời cuộc của một đất nước. Thời cuộc do con người, tương quan lực lượng, kinh tế, khí hậu, và rất nhiều thứ không có tên trên lịch.

Sách cổ nói gì

Thiên hành hữu thường, bất vi Nghiêu tồn, bất vi Kiệt vong.

Dịch: Trời vận hành có lẽ thường, không vì vua Nghiêu mà còn, không vì vua Kiệt mà mất. — Tuân Tử, thiên Thiên Luận

Bình: Tuân Tử viết câu này vào thời Chiến Quốc, đúng lúc thuyết âm dương ngũ hành đang lên. Ông tách bạch trời và người: trời có nhịp của trời (bốn mùa, ngày đêm, vòng can chi), còn trị hay loạn là việc của người. Năm Đinh Mùi 1427 thắng trận không phải vì lửa Đinh, năm Đinh Mùi 1847 mất thuyền không phải vì nước Thiên Hà.

Đại Việt sử ký toàn thư chép năm Đinh Mùi 1427 bằng những trận đánh, cuộc vây thành, lời thư qua lại giữa Lê Lợi và tướng Minh, đại ý như phần trên; không có dòng nào nói thắng lợi ấy do can chi của năm. Người chép sử thời ấy dùng can chi để đánh dấu năm, và chỉ có vậy.

Đọc cho đúng mức

  • Bài này không bác bỏ Tử Vi hay Bát Tự. Hai môn ấy đọc can chi trên lá số từng người. Thứ bài này kiểm là lối suy can chi năm ra vận nước, thứ hay xuất hiện mỗi dịp cuối năm.
  • Sự kiện được chọn theo mức ghi chép, không theo ý muốn. Những năm Đinh Mùi khác không vào bảng vì chúng tôi chưa có nguồn đủ rõ, không phải vì chúng phá lập luận.
  • Ngày tháng cụ thể của các sự kiện cũ được ghi ở mức tháng, mức năm; các nguồn có thể lệch vài ngày giữa lịch âm và lịch dương.
  • Một mẫu năm năm là nhỏ, không đủ để chứng minh điều gì theo thống kê. Nhưng chính một mẫu nhỏ đã đủ thấy các năm Đinh Mùi không có chung một gương mặt.

Việc nên làm

  • Khi đọc một bài dự báo năm 2027 cho cả nước, thử hỏi: lời này có đúng với năm 1427, 1787, 1847, 1907, 1967 không? Nếu cái gì cũng giải thích được, nó không dự báo gì.
  • Dùng can chi năm để đọc lá số của chính mình, ở mức việc cụ thể của bạn; bài đọc lá số năm 2027 có quy trình bốn bước.
  • Đọc lại một đoạn sử của năm Đinh Mùi nào đó cùng con cháu dịp Tết; đó là cách dùng can chi đẹp nhất: làm cầu nối với quá khứ.

Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?

Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.

Xem lịch các thầy

Nguồn tham khảo

  • Đại Việt sử ký toàn thư — Bản kỷ, kỷ nhà Lê, năm Đinh Mùi 1427 (đại ý: Chi Lăng, Xương Giang, hội thề Đông Quan).
  • Đại Nam thực lục — Chính biên, đời Thiệu Trị, năm Đinh Mùi 1847 (đại ý: việc tàu Pháp ở cửa Hàn, vua Thiệu Trị mất).
  • Tuân Tử — thiên Thiên Luận (câu "Thiên hành hữu thường…").
  • Các sự kiện năm 1787, 1907, 1967 theo các bộ thông sử Việt Nam phổ biến; can chi và ngày Tết các năm 1907, 1967, 1968 tính bằng bộ âm lịch của aihuyenhoc.com.

Câu hỏi thường gặp

Những năm nào là năm Đinh Mùi?

Đinh Mùi lặp lại sáu mươi năm một lần: 1847, 1907, 1967, 2027, 2087; lùi về trước là 1787, 1727, 1667, 1607, 1547, 1487, 1427.

Năm Đinh Mùi 1967 có sự kiện gì?

Tết Đinh Mùi vào 9/2/1967, chiến tranh lan rộng trên cả hai miền, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ra đời ngày 8/8/1967. Từ năm này miền Bắc quyết định soạn âm lịch theo múi giờ +7, áp dụng từ năm 1968.

Năm Đinh Mùi 1907 có gì đáng nhớ?

Đông Kinh Nghĩa Thục mở ở Hà Nội và bị đóng cửa trong cùng năm, phong trào Đông Du đưa thanh niên sang Nhật, và vua Duy Tân lên ngôi thay vua Thành Thái.

Năm Đinh Mùi có phải năm xấu cho đất nước không?

Không có căn cứ. Năm năm Đinh Mùi có ghi chép rõ mang những gương mặt khác hẳn nhau, từ thắng trận lớn đến chia rẽ, mất mát, canh tân. Can chi năm không quyết định thời cuộc.

Vậy năm 2027 đọc can chi để làm gì?

Để đọc lá số của từng người (Tứ Hoá can Đinh, Thái Tuế ở Mùi), để chọn ngày, chọn hướng cho từng việc, và để nhớ. Không phải để đoán vận nước.

Nguồn tham khảo: Đại Việt sử ký toàn thư — Bản kỷ, kỷ nhà Lê — năm Đinh Mùi (1427) · Đại Nam thực lục — Chính biên, đời Thiệu Trị — năm Đinh Mùi (1847) · Tuân Tử — thiên Thiên Luận · Can chi các năm: bộ âm lịch aihuyenhoc.com

Tuổi phạm Kim Lâu năm 2027: ai nên cân nhắc khi cưới hỏi, làm nhàNăm 2027 ai phạm Kim Lâu: bảng năm sinh theo tuổi mụ, bốn loại Thân, Thê, Tử, Lục Súc, vì sao mẹo đuôi 1, 3, 6, 8 sai, cách mượn …
Đọc lá số cho năm 2027 trong 30 phút: đại vận, tiểu vận, cung lưu Thái Tuế và Tứ Hóa can ĐinhXem tử vi năm 2027 theo lá số của bạn: bốn bước đại vận, tiểu vận, cung Mùi lưu Thái Tuế, Tứ Hóa can Đinh, kèm ví dụ tính bằng má…
Cưới năm 2027: tuổi nào thuận, tháng nào đẹp và phần nào chỉ là tục lệCưới năm 2027 Đinh Mùi: tuổi cô dâu nào phạm Kim Lâu, tháng Đại lợi, Tiểu lợi theo tuổi nữ, lịch 12 tháng âm đổi sang dương và nh…
Tử vi 2027 tuổi Tý: năm Mùi hại Tý, đọc thế nào cho đúng mứcTử vi 2027 tuổi Tý: Tý – Mùi lục hại thật ra nói gì, bảng sao hạn, hạn, Kim Lâu cho từng năm sinh 1936 – 2008 và việc nên làm the…
Ngày khai trương đầu năm 2027: chọn theo tuổi chủ và loại hìnhNgày khai trương, mở hàng tháng Giêng 2027: bảng 30 ngày đủ trực, hoàng đạo, ngày kiêng; hai ngày đẹp nhất, ngày ký kết riêng và …
Tết Đinh Mùi 2027 vào ngày nào: lịch dương, giờ giao thừa và Lập XuânTết 2027 ngày nào: mùng 1 Tết Đinh Mùi là thứ Bảy 6/2/2027, không có ngày 30 Tết, Lập Xuân rơi trước Tết hai ngày. Bảng ngày Tết,…