Kỳ Môn chuyển bàn và phi bàn: hai lối lập bàn, một giờ ra hai bàn khác nhau

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 11 phút đọc

Kỳ Môn chuyển bàn và phi bàn: hai lối lập bàn, một giờ ra hai bàn khác nhau

Chuyển bàn và phi bàn là hai lối lập bàn Kỳ Môn. Cả hai dùng chung địa bàn, chung cách tìm trực phù, trực sử. Khác ở chỗ phần còn lại di chuyển thế nào: chuyển bàn xoay sao, cửa, thần như một bánh xe quanh tám cung ngoài; phi bàn cho chúng bay theo thứ tự số Lạc Thư qua cả chín cung, kể cả cung giữa.

Vì vậy cùng một giờ, hai lối cho hai bàn mà phần lớn các ô không giống nhau. Bài này lấy đúng giờ đã lập tay ở bài lập bàn Kỳ Môn bằng tay, giờ Mậu Thân ngày 24/12/2026, dương độn 7 cục, lập lại theo lối phi bàn, rồi đặt hai bàn cạnh nhau để thấy khác ở đâu và vì sao.

Chỗ hai lối giống nhau

Trước khi nói khác, cần thấy phần chung, vì phần chung là phần nhiều người tưởng cũng khác:

BướcChuyển bànPhi bàn
Định âm độn, dương độn, số cụcNhư nhauNhư nhau
Bố địa bàn (lục nghi, tam kỳ theo số cung)Như nhauNhư nhau
Tìm tuần thủ, ra trực phù, trực sửNhư nhauNhư nhau
Trực phù tới cung có can giờNhư nhauNhư nhau
Trực sử đếm theo số cung, có tính cung 5Như nhauNhư nhau

Nghĩa là hai cây kim chỉ giờ của bàn đứng cùng chỗ ở cả hai lối (trừ khi kim rơi đúng cung giữa, nói ở dưới). Trong giờ ví dụ, sao trực phù Thiên Nhuế mang can Nhâm tới Đoài 7, đè lên can giờ Mậu; trực sử Tử môn tới Càn 6. Hai lối đều ra như thế. Cách tìm hai kim này có ở bài trực phù, trực sử.

Còn lại bảy sao, bảy cửa, bảy thần (hay tám, như sẽ thấy) đi theo hai luật khác nhau.

Chuyển bàn: bánh xe tám nan

Chuyển bàn coi tám cung ngoài là một vòng tròn: Khảm 1, Cấn 8, Chấn 3, Tốn 4, Ly 9, Khôn 2, Đoài 7, Càn 6, rồi về Khảm. Khi trực phù dời bao nhiêu bước trên vòng thì mọi sao dời bấy nhiêu bước. Cửa cũng thế, thần cũng thế.

Hệ quả của lối này:

  • Hình giữ nguyên, chỉ xoay. Sao nào đứng cạnh sao nào ở bàn gốc thì xoay xong vẫn đứng cạnh nhau. Hưu môn luôn đối diện Cảnh môn, Sinh môn luôn đối diện Tử môn, giờ nào cũng vậy.
  • Cung giữa không có chỗ. Bánh xe chỉ có tám nan, nên Thiên Cầm của cung 5 phải "gửi" đi theo một sao khác (thường theo Thiên Nhuế về Khôn). Đây là lý do chuyển bàn phải có luật gửi cung giữa, và các phái gửi khác nhau (xem cửu cung Kỳ Môn).
  • Tám thần. Trực Phù, Đằng Xà, Thái Âm, Lục Hợp, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Cửu Địa, Cửu Thiên, mỗi thần một nan.
  • Tám bàn sao có thể có. Vì chỉ xoay, thiên bàn chỉ có tám dạng (tám vị trí của bánh xe), cộng thêm cách gửi cung giữa.

Phi bàn: bay theo đường số Lạc Thư

Phi bàn không dùng vòng. Nó dùng đường bay số: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, tức Khảm, Khôn, Chấn, Tốn, Trung, Càn, Đoài, Cấn, Ly. Trên ô Lạc Thư, đường này chạy chữ chi qua bàn, đi qua cả cung giữa. Ai quen Huyền Không Phi Tinh sẽ nhận ra ngay: đây đúng là đường các sao Nhất Bạch đến Cửu Tử bay theo năm.

Luật dời của phi bàn: trực phù đi từ cung gốc tới cung can giờ mất bao nhiêu bước theo số thì mọi sao dời bấy nhiêu bước theo số. Dương độn đi thuận (số tăng), âm độn theo đa số tài liệu phi bàn đi nghịch.

Hệ quả:

  • Cung giữa là một cung thật. Thiên Cầm có chỗ đứng riêng, không phải gửi. Can giờ rơi vào cung 5 thì trực phù bay vào cung 5, không có chuyện gửi Khôn.
  • Hình không giữ nguyên. Hai sao đứng đối diện ở bàn gốc, sau khi bay có thể thành kề nhau, hoặc một sao vào giữa.
  • Chín thần. Nhiều tài liệu phi bàn dùng chín thần để mỗi cung một thần: Trực Phù, Đằng Xà, Thái Âm, Lục Hợp, Câu Trần, Thái Thường, Chu Tước, Cửu Địa, Cửu Thiên. Thái Thường là thần thêm vào; Câu Trần, Chu Tước thay chỗ Bạch Hổ, Huyền Vũ (chuyện hai bộ tên này có ở bài bát thần Kỳ Môn).
  • Tám cửa trên chín cung. Cửa vẫn chỉ có tám, nên dời theo số thì luôn có một ô trống. Ô trống ấy rơi vào đâu, và có cửa nào vào cung giữa không, là chỗ các bản phi bàn hiện nay xử lý không giống nhau.

Lập lại giờ ví dụ theo phi bàn

Địa bàn dương độn 7 cục (chung cho cả hai lối): Mậu 7, Kỷ 8, Canh 9, Tân 1, Nhâm 2, Quý 3, Đinh 4, Bính 5, Ất 6.

Sao. Trực phù Thiên Nhuế ở cung 2, can giờ Mậu ở cung 7. Từ 2 tới 7 theo số là năm bước. Mọi sao dời năm bước theo số, mang can địa bàn cung gốc theo:

Sao (số gốc, can mang theo)Nhuế (2, Nhâm)Xung (3, Quý)Phụ (4, Đinh)Cầm (5, Bính)Tâm (6, Ất)Trụ (7, Mậu)Nhậm (8, Kỷ)Anh (9, Canh)Bồng (1, Tân)
Bay tới cung789123456

Cửa. Trực sử Tử môn từ cung 2 đếm bốn giờ theo số: 3, 4, 5, 6, tới Càn 6. Tức dời bốn bước theo số. Mọi cửa dời bốn bước. Theo phép dời thẳng như vậy, ô trống vốn ở cung 5 sẽ sang Ly 9, còn Hưu môn từ cung 1 sẽ vào cung giữa.

Thần. Trực Phù đặt ở cung có sao trực phù (Đoài 7), tám thần còn lại nối theo số: 8, 9, 1, 2, 3, 4, 5, 6.

Bàn được tính bằng một đoạn mã nhỏ theo đúng luật trên, rồi dò tay lại từng ô.

Hai bàn đặt cạnh nhau

CungChuyển bàn: sao · can trời · cửa · thầnPhi bàn: sao · can trời · cửa · thần
Khảm 1 (Bắc)Tâm · Ất · Kinh · Thái ÂmCầm · Bính · Khai · Lục Hợp
Khôn 2 (Tây Nam)Anh · Canh · Đỗ · Cửu ThiênTâm · Ất · Kinh · Câu Trần
Chấn 3 (Đông)Nhậm · Kỷ · Hưu · Bạch HổTrụ · Mậu · Sinh · Thái Thường
Tốn 4 (Đông Nam)Xung · Quý · Sinh · Huyền VũNhậm · Kỷ · Cảnh · Chu Tước
Trung 5(gửi)Anh · Canh · Hưu · Cửu Địa
Càn 6 (Tây Bắc)Trụ · Mậu · Tử · Đằng XàBồng · Tân · Tử · Cửu Thiên
Đoài 7 (Tây)Nhuế · Nhâm (kèm Cầm, Bính) · Cảnh · Trực PhùNhuế · Nhâm · Thương · Trực Phù
Cấn 8 (Đông Bắc)Bồng · Tân · Khai · Lục HợpXung · Quý · Đỗ · Đằng Xà
Ly 9 (Nam)Phụ · Đinh · Thương · Cửu ĐịaPhụ · Đinh · (không cửa) · Thái Âm

Đếm lại: ngoài hai cây kim (sao trực phù ở Đoài, cửa trực sử ở Càn) và thần Trực Phù đi theo kim, gần như mọi ô khác nhau. Trùng ngẫu nhiên đúng một chỗ: Thiên Phụ mang Đinh ở Ly 9 trong cả hai bàn.

Thử đọc theo cách người hỏi "giờ này đi hướng nào" vẫn làm, tìm ba cửa sách coi là cát (Khai, Hưu, Sinh):

  • Chuyển bàn: Khai ở Đông Bắc, Hưu ở Đông, Sinh ở Đông Nam.
  • Phi bàn: Khai ở Bắc, Sinh ở Đông, Hưu nằm cung giữa nên không chỉ hướng nào.

Hai lối chỉ cùng nhau ở một điều: phương Đông giờ ấy có một cửa cát, nhưng là hai cửa khác nhau. Cách người xưa chọn giờ, chọn hướng có ở bài Kỳ Môn chọn giờ và hướng; điều cần nhớ ở đây là đọc hướng từ một bàn mà không biết bàn ấy theo lối nào thì không kiểm lại được.

Một chỗ trùng thú vị với Huyền Không

Viết số sao của bàn phi ở trên theo số gốc (Bồng 1, Nhuế 2 … Anh 9): cung giữa có 9, Càn có 1, Đoài có 2, Cấn có 3, Ly có 4, Khảm có 5, Khôn có 6, Chấn có 7, Tốn có 8.

Đó đúng là tinh bàn Huyền Không "Cửu Tử nhập trung" — cũng là bàn sao năm 2027, với Ngũ Hoàng ở chính Bắc và Nhị Hắc ở chính Tây (xem phi tinh năm 2027). Không phải trùng ngẫu nhiên: thiên bàn phi bàn bao giờ cũng là một trong chín tinh bàn Lạc Thư thuận phi (dương độn), chỉ khác số nào nhập trung. Chuyển bàn thì không bao giờ ra hình ấy, vì bánh xe không đi qua giữa.

Chỗ trùng này giải thích vì sao người theo phi bàn thường lập luận rằng lối của họ "đúng tinh thần cửu cung": mọi phép cửu cung khác, từ Huyền Không tới Thái Ất, đều cho sao bay theo số. Người theo chuyển bàn đáp: Kỳ Môn dùng tám cửa, tám thần, gắn với tám phương; một cửa không thể đứng ở giữa nhà mà chỉ hướng, nên bánh xe tám nan mới hợp với việc chọn phương. Cả hai lập luận đều có lý trong hệ của nó.

Gốc gác: sách nói gì và chưa nói gì

Phần lớn sách Kỳ Môn in đời Minh, Thanh mà người học ngày nay còn đọc được trình bày theo lối chuyển bàn. Phần mềm và sách Kỳ Môn phổ biến hiện nay, kể cả các bàn trong chuyên mục này, cũng chủ yếu theo chuyển bàn.

Phi bàn có người truyền và có tài liệu lưu hành, phần lớn là sách và lớp học thế kỷ 20. Một số người theo phi bàn cho rằng đây là lối cổ hơn, bị giữ kín nên ít vào sách in. Đó là lời truyền; văn bản hiện còn mà chúng tôi đối chiếu được chưa đủ để xác nhận hay bác bỏ. Chúng tôi không xếp lối nào là "chính tông".

Có một chỗ đáng chú ý trong chính bài ca gốc: Yên Ba Điếu Tẩu Ca nói rõ hai cây kim đi đâu, nhưng không nói rõ bảy sao, bảy cửa còn lại theo kim bằng cách nào. Hai lối lập bàn khác nhau chính ở khoảng trống đó.

Sách cổ nói gì

Tiên tu chưởng thượng bài cửu cung, tung hoành thập ngũ tại kỳ trung.

Đại ý: trước hết phải xếp chín cung trên bàn tay, hàng dọc hàng ngang đều cộng thành mười lăm. — Yên Ba Điếu Tẩu Ca, theo bản thường được dẫn.

Bình: Câu mở đầu đặt Kỳ Môn lên ô Lạc Thư chín cung, có cả cung giữa. Người theo phi bàn dẫn câu này để nói cung 5 phải là cung thật. Người theo chuyển bàn hiểu đây là khung để bố địa bàn và đếm trực sử, việc mà chuyển bàn vẫn làm qua cả cung 5.

Câu về hai cây kim, đại ý: trực phù luôn được đưa tới đặt lên can giờ; trực sử theo thuận nghịch mà đi qua các cung. (Các bản chép khác nhau vài chữ ở câu này nên chúng tôi chỉ ghi đại ý.)

Bình: Chữ "cung" ở vế sau cho trực sử đi qua các cung theo số, và cả hai lối đều làm đúng như vậy. Bài ca dừng ở hai cây kim; phần "cả bàn theo kim thế nào" là của sách đời sau, và đời sau chia làm hai đường.

Đọc cho đúng mức

Không có phép thử nào phân xử được hai lối. Muốn biết lối nào "đúng", phải có tiêu chí đo kết quả, mà Kỳ Môn chưa có kiểm nghiệm thống kê nào cho thấy chọn giờ, chọn hướng theo bàn cho kết quả khác chọn tuỳ ý. Tranh luận giữa hai lối vì thế là tranh luận về truyền thừa và tính nhất quán của hệ, không phải về hiệu quả.

Đừng trộn. Nghĩa của cách cục, của "cửa đối cung", của thần ở cung nào, đều được viết trong một lối. Lấy bàn phi bàn rồi đọc bằng bảng cách cục của sách chuyển bàn là trộn hai hệ.

Phần phi bàn trong bài ghi theo lối phổ biến nhất mà chúng tôi đối chiếu được. Hai điểm còn khác nhau giữa các tài liệu phi bàn: âm độn sao bay thuận hay nghịch, và ô trống của tám cửa xử lý ra sao. Bàn ví dụ là dương độn nên điểm đầu không ảnh hưởng; điểm sau chúng tôi trình bày theo phép dời thẳng.

Việc nên làm

  1. Lấy phần mềm Kỳ Môn bạn đang dùng, xem giờ Mậu Thân 24/12/2026. So với hai cột của bảng trên: nếu cung giữa có sao riêng, có thần thứ chín, thì đó là phi bàn; nếu Thiên Cầm đi kèm một sao khác, thì đó là chuyển bàn.
  2. Chọn một lối và học trọn lối đó, kể cả bảng cách cục đi kèm, trước khi so với lối kia.
  3. Khi ghi chép hay trao đổi một bàn, viết rõ bên cạnh: chuyển bàn hay phi bàn, định nguyên theo phép nào (chia bổ hay siêu thần tiếp khí), cung giữa gửi đâu.
  4. Bàn chỉ là một tầng của việc chọn thời điểm. Chuẩn bị cho việc định làm vẫn là phần quyết định.
✨Hỏi AI Huyền Học
Hỏi bất cứ điều gì về tử vi, Kinh Dịch, phong thuỷ, ngày tốt xấu.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Yên Ba Điếu Tẩu Ca, tương truyền Triệu Phổ đời Tống: câu xếp chín cung, câu về trực phù, trực sử (đại ý; câu đầu theo bản thường được dẫn).
  • Các sách Kỳ Môn chuyển bàn đời Minh, Thanh (chúng tôi chưa đối chiếu được một bản in cụ thể): thứ tự bố cục.
  • Tài liệu phi bàn lưu hành thế kỷ 20: luật bay theo số, bộ chín thần (đại ý; các bản khác nhau ở cách xử lý ô trống của cửa và chiều bay âm độn).
  • Bộ âm lịch và tiết khí aihuyenhoc.com: ngày 24/12/2026 là ngày Nhâm Thân, giờ Thân là Mậu Thân; Đông Chí vào 3 giờ 49 ngày 22/12/2026.
  • Bàn chuyển bàn lấy từ bài lập bàn bằng tay của chuyên mục; bàn phi bàn tính bằng đoạn mã theo luật nêu trong bài, dò tay lại từng ô.

Câu hỏi thường gặp

Chuyển bàn và phi bàn khác nhau ở điểm gì?

Chuyển bàn xoay sao, cửa, thần như một bánh xe quanh tám cung ngoài, cung giữa phải gửi đi. Phi bàn cho chúng bay theo thứ tự số 1 tới 9 qua cả cung giữa, thường dùng chín thần thay vì tám.

Hai lối có điểm nào giống nhau không?

Có. Định cục, địa bàn, cách tìm trực phù và trực sử, chỗ đứng của sao trực phù và cửa trực sử đều như nhau. Khác nhau là cách các sao, cửa, thần còn lại đi theo hai cây kim ấy.

Vì sao phi bàn có thần Thái Thường?

Phi bàn dùng cả chín cung nên cần chín thần để mỗi cung có một thần. Nhiều tài liệu phi bàn thêm Thái Thường và dùng Câu Trần, Chu Tước trong bộ chín thần ấy.

Lối nào cổ hơn, lối nào đúng hơn?

Sách in đời Minh, Thanh còn lại chủ yếu theo chuyển bàn; người theo phi bàn cho rằng lối của họ cổ hơn nhưng ít vào sách. Văn bản hiện có chưa đủ để phân xử, và cũng chưa có kiểm nghiệm nào cho thấy lối nào cho kết quả tốt hơn.

Làm sao biết phần mềm đang dùng lối nào?

Nhìn cung giữa: có sao riêng và có thần riêng là phi bàn; trống hoặc Thiên Cầm đi kèm sao khác là chuyển bàn. Lập thử một giờ đã biết trước kết quả, như giờ ví dụ trong bài, là cách kiểm nhanh nhất.

Nguồn tham khảo: Yên Ba Điếu Tẩu Ca (tương truyền Triệu Phổ) — câu về cửu cung và câu về trực phù, trực sử · Các sách Kỳ Môn chuyển bàn đời Minh, Thanh — phép bố cục · Bộ âm lịch và tiết khí aihuyenhoc.com — ngày, giờ can chi 24/12/2026, giờ vào tiết Đông Chí 2026

Kỳ Môn trong truyện kiếm hiệp và phim: đảo Đào Hoa, trận đồ đá và Kỳ Môn thật trong sáchKỳ Môn Độn Giáp trong truyện Kim Dung: đảo Đào Hoa, rừng đào mê trận, trận đá. Kỳ Môn trong sách là bàn chọn giờ, hướng, đổi mỗi …
Lục Giáp ẩn dưới lục nghi: vì sao thuật này gọi là "độn Giáp" và Giáp nấp ở đâu trên bànĐộn Giáp là gì: can Giáp không hiện trên bàn Kỳ Môn mà nấp dưới sáu nghi Mậu đến Quý. Cách tìm Giáp của giờ, lần ra trực phù và v…
Bát môn: Hưu, Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, KhaiBát môn Kỳ Môn: tám cửa Hưu, Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai, cửa nào hợp việc gì theo sách, môn bức, phục ngâm và bảng hư…
Dùng Kỳ Môn chọn giờ và hướng đi: cách người xưa làm và giới hạnKỳ Môn chọn giờ và hướng: ví dụ chọn giờ đi phỏng vấn 16/11/2026 bằng bàn lập máy, ngũ bất ngộ thời, hai phép cho hai đáp án, vì …
Dịch Mã, Không Vong trên bàn Kỳ Môn: hai dấu phụ hay bị bỏ quên, và khi cửa tốt rơi vào chỗ trốngDịch Mã kỳ môn an theo tam hợp của chi giờ, chỉ rơi vào bốn cung góc; không vong lấy theo tuần của giờ. Hai bàn thật: cửa tốt gặp…
Cách cục Kỳ Môn: Thanh Long Hồi Thủ, Phi Điểu Điệt Huyệt, Phục Ngâm, Phản Ngâm và hai mươi thế hay gặpCách cục Kỳ Môn là gì: bảng hơn hai mươi thế hay gặp theo can trời gia can đất, sao cửa, tam độn, ngũ bất ngộ thời, đọc thử trên …