Lập quẻ Mai Hoa theo con số, theo chữ, theo vật, theo tiếng động: bốn cửa khởi quẻ và cách dùng với tiếng Việt
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 11 phút đọc
Ngoài năm tháng ngày giờ, Mai Hoa còn lập quẻ từ bất cứ con số nào bắt gặp: số vật đếm được, số tiếng động, số chữ trong câu, chiều dài đo được, hay hai con số người hỏi nói ra. Quy tắc chung: số đầu chia 8 ra quẻ trên, số sau (thường là số đầu cộng giờ) chia 8 ra quẻ dưới, tổng chia 6 ra hào động.
Bốn cửa này là phần "sống" nhất của Mai Hoa, vì chúng buộc quẻ vào một sự việc cụ thể đang diễn ra trước mắt thay vì chỉ vào giờ đồng hồ. Bài đi qua từng cửa theo bản lưu hành, có ví dụ tính tay đã kiểm bằng máy, và dành một mục cho câu hỏi người Việt hay hỏi: chữ Quốc ngữ thì đếm thế nào.
Nguyên tắc chung của mọi phép lấy số
Dù đếm cái gì, các phép khởi quẻ bằng số của Mai Hoa đều theo một khuôn:
| Bước | Việc | Ghi chú |
|---|---|---|
| 1 | Có một con số (hoặc hai) | Phải là con số tự đến, không cố chọn |
| 2 | Số thứ nhất chia 8, dư ra quẻ trên | Dư 0 là Khôn |
| 3 | Số thứ hai chia 8, dư ra quẻ dưới | Nếu chỉ có một số, số thứ hai = số ấy cộng số giờ |
| 4 | Tổng các số (thường cộng cả giờ) chia 6, dư ra hào động | Dư 0 là hào 6 |
Tám số tiên thiên vẫn như ở bài lập quẻ theo thời gian: Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8. Giờ tính theo địa chi: Tý 1 đến Hợi 12.
Chữ "tự đến" ở bước 1 là điểm then chốt mà các trang hướng dẫn trên mạng hay bỏ qua. Mai Hoa không dạy "hãy nghĩ ra một con số". Nó dạy lấy con số có sẵn trong sự việc: bao nhiêu con chim đậu, bao nhiêu tiếng gõ cửa, bao nhiêu chữ trong lời người ta hỏi. Con số là dấu vết của việc, không phải lựa chọn của người đoán.
Cửa thứ nhất: đếm vật
Bản lưu hành, phần Vật số chiêm, đại ý: thấy vật gì đếm được thì lấy số vật ấy làm quẻ trên, cộng thêm số giờ làm quẻ dưới, tổng chia sáu lấy hào động.
Ví dụ. Chiều muộn, giờ Dậu (17–19 giờ), một người đang phân vân về việc chuyển nhà thì thấy một đàn cò bay về đậu trên ruộng trước mặt; đếm được 11 con.
- Quẻ trên: 11 chia 8 dư 3 → Ly.
- Quẻ dưới: 11 + 10 (Dậu) = 21, chia 8 dư 5 → Tốn.
- Hào động: 21 chia 6 dư 3 → hào 3.
Ly trên Tốn dưới là Hoả Phong Đỉnh. Hào 3 ở quẻ dưới, nên Tốn là Dụng, Ly là Thể. Dụng Tốn Mộc sinh Thể Ly Hoả: thuận. Quẻ biến: Tốn đổi hào 3 thành Khảm, ra Hoả Thuỷ Vị Tế; Khảm Thuỷ khắc Thể. Đọc: việc khởi đầu thuận, có người giúp, nhưng kết cục còn dở dang, nên chừa thời gian cho phần cuối. Ở đây có một ngoại ứng đáng ghi: chim về tổ lúc chiều là hình ảnh của "về chỗ ở", hợp với việc đang hỏi; cách dùng ngoại ứng ở bài ngoại ứng.
Đếm vật có hai điều kiện thực hành: vật phải đếm được rõ ràng (đàn chim năm chục con bay loạn thì không dùng), và phải đếm ngay lúc ấy, không quay lại đếm sau.
Cửa thứ hai: đếm tiếng động
Bản lưu hành, phần Thanh âm chiêm, đại ý: nghe tiếng động, đếm được mấy tiếng thì lấy làm quẻ trên, cộng số giờ làm quẻ dưới, tổng chia sáu lấy hào động. Sách có hai ví dụ nổi tiếng thuộc loại này là tiếng trâu kêu (Ngưu ai chiêm) và tiếng gà gáy (Kê minh chiêm), phân tích ở bài năm ví dụ cổ.
Ví dụ. Tối, giờ Tuất (19–21 giờ), có ba tiếng gõ cửa.
- Quẻ trên: 3 → Ly.
- Quẻ dưới: 3 + 11 (Tuất) = 14, chia 8 dư 6 → Khảm.
- Hào động: 14 chia 6 dư 2 → hào 2.
Ly trên Khảm dưới là Hoả Thuỷ Vị Tế, quẻ "chưa xong". Khảm là Dụng (người gõ cửa, việc họ mang tới), Ly là Thể. Dụng Khảm Thuỷ khắc Thể Ly Hoả: việc người ta mang đến là một gánh nặng hoặc một lời nhờ khó từ chối. Quẻ biến Khảm thành Khôn: Thể Ly sinh Khôn, tức mình phải bỏ sức. Quẻ hỗ ra Thuỷ Hoả Ký Tế. Một lời đọc có thể là: có người đến nhờ việc, việc chưa xong ngay, mình sẽ tốn công giúp.
Sách cổ có câu chuyện người hàng xóm gõ cửa ban đêm để mượn đồ, cũng dùng lối đếm tiếng này. Câu chuyện ấy cho thấy tượng của quẻ còn được dùng để đoán mượn cái gì, chứ không chỉ "tốt hay xấu"; xem năm ví dụ cổ.
Cửa thứ ba: đếm chữ
Đây là cửa phức tạp nhất và cũng nhiều dị bản nhất. Ý chính trong bản lưu hành, đại ý như sau.
- Số chữ chẵn: chia đôi, nửa đầu làm quẻ trên, nửa sau làm quẻ dưới.
- Số chữ lẻ: phần ít hơn một chữ làm quẻ trên, phần nhiều hơn làm quẻ dưới. Sách giải thích: trời nhẹ và trong nên ở trên lấy ít, đất nặng và đục nên ở dưới lấy nhiều.
- Một hoặc hai chữ: không đủ để chia theo số chữ, nên đếm nét chữ Hán. Hai chữ thì chữ đầu cho quẻ trên, chữ sau cho quẻ dưới.
- Tổng làm hào động.
Phần chi tiết hơn, như một chữ thì tách nét bên trái bên phải ra sao, câu dài trên mười chữ thì xử lý thế nào, hay có bản dùng thanh điệu (bình, thượng, khứ, nhập) để tính, thì các bản và các thầy nói khác nhau. Bài này chỉ trình bày phần các bản thống nhất.
Ví dụ. Một người nhắn câu hỏi: "Có nên nhận việc mới không". Câu có 7 chữ (7 âm tiết).
- 7 là số lẻ: phần ít 3 chữ làm quẻ trên, phần nhiều 4 chữ làm quẻ dưới.
- Quẻ trên: 3 → Ly. Quẻ dưới: 4 → Chấn.
- Hào động: 7 chia 6 dư 1 → hào 1.
Ly trên Chấn dưới là Hoả Lôi Phệ Hạp. Chấn là Dụng, Ly là Thể. Dụng Chấn Mộc sinh Thể Ly Hoả: thuận. Quẻ biến Chấn thành Khôn (Hoả Địa Tấn, quẻ "tiến lên"), Thể Ly sinh Khôn, có phần phải bỏ công. Quẻ hỗ là Thuỷ Sơn Kiển, giữa chừng có chỗ vướng. Đọc: việc mới hợp với mình và có lợi, giai đoạn đầu phải vượt một vài khó khăn, sau đó tiến được nhưng phải bỏ sức.
Chữ Quốc ngữ: đếm âm tiết, đừng đếm chữ cái
Sách viết cho chữ Hán, nơi mỗi chữ là một âm tiết và có số nét cố định. Tiếng Việt viết bằng chữ Quốc ngữ thì không có "nét" theo nghĩa ấy. Có ba lối người dùng hiện nay hay làm:
| Lối | Cách làm | Nhận xét |
|---|---|---|
| Đếm âm tiết | "Có nên nhận việc mới không" = 7 | Gần sách nhất: một âm tiết tiếng Việt tương ứng một chữ Hán về vai trò trong câu |
| Đếm chữ cái | "nhận" = 5 chữ cái | Quy ước mới, không có gốc trong sách; phụ thuộc chính tả (chữ "ng", "nh" tính một hay hai) |
| Viết ra chữ Hán rồi đếm nét | Dùng cho tên Hán Việt có chữ Hán rõ | Hợp sách, nhưng chỉ dùng được khi biết chắc chữ Hán gốc |
Khuyến nghị của chúng tôi: với câu tiếng Việt, đếm âm tiết và áp quy tắc chia đôi của sách. Với một hoặc hai chữ, nếu không biết chữ Hán thì đừng cố đếm nét; dùng cửa khác (thời gian, vật, tiếng) thay vì bịa ra một cách đếm.
Cửa thứ tư: đo chiều dài, và khi có hai con số
Đo dài. Bản lưu hành có phép đo vật dài theo trượng và thước (Xích trượng chiêm), đại ý: số trượng làm quẻ trên, số thước làm quẻ dưới, cộng cả hai với giờ chia sáu lấy hào động; vật ngắn thì dùng thước và tấc. Với đơn vị hiện đại, người dùng thường lấy mét làm quẻ trên, phần lẻ đề-xi-mét làm quẻ dưới. Đây là chuyển đổi của người đời sau, không phải của sách, vì trượng thước cổ không bằng mét.
Hai con số. Khi việc tự đem tới hai con số (người hỏi nói ra, hoặc thấy hai nhóm vật), lối phổ biến là số trước làm quẻ trên, số sau làm quẻ dưới, tổng hai số chia sáu lấy hào động. Có thầy cộng thêm giờ vào tổng trước khi chia sáu.
Ví dụ. Người hỏi buột miệng nói hai số 15 và 23, lúc giờ Mùi.
- Quẻ trên: 15 chia 8 dư 7 → Cấn. Quẻ dưới: 23 chia 8 dư 7 → Cấn.
- Không cộng giờ: 38 chia 6 dư 2 → hào 2. Cộng giờ Mùi (8): 46 chia 6 dư 4 → hào 4.
Quẻ chủ đều là Thuần Cấn, nhưng hào động khác nhau thì Dụng khác nhau và quẻ biến khác hẳn: không cộng giờ ra Sơn Phong Cổ, cộng giờ ra Hoả Sơn Lữ. Ví dụ này cho thấy vì sao phải chốt một lối từ đầu và ghi vào sổ.
Vì sao các cửa này đáng tin hơn "nghĩ ra một con số"
Nhiều nơi hướng dẫn: "hãy tĩnh tâm, nghĩ ra ba con số rồi lập quẻ". Lối này có chỗ dùng, nhưng nó khác tinh thần Mai Hoa ở hai điểm:
- Con số tự nghĩ ra dễ bị dẫn dắt. Người ta có số quen, số thích, số tránh. Con số "nghĩ ra" vì thế mang dấu của thói quen nhiều hơn dấu của việc.
- Con số tự đến mang theo ngoại ứng. Đàn cò về tổ, ba tiếng gõ cửa, câu hỏi bảy chữ, mỗi thứ vừa cho số vừa cho tượng. Bỏ cửa này là bỏ một nửa phép đoán.
Nói như vậy không có nghĩa con số tự đến thì "linh" hơn. Nó chỉ có nghĩa là phép đoán đi đúng khuôn của chính nó: một sự việc, một dấu động, một con số. Đó là tinh thần câu "không có động thì không xem" mà bài Mai Hoa Dịch Số là gì đã nói.
Sách cổ nói gì
Cực kỳ số, toại định thiên hạ chi tượng.
Dịch: Đi đến tận cùng con số thì định được tượng của thiên hạ. — Chu Dịch, Hệ Từ thượng, chương 10
Bình: Hệ Từ nói về phép cỏ thi, nơi con số đếm cỏ biến thành hào. Mai Hoa mở rộng ý ấy ra mọi con số trong đời sống: số chim, số tiếng, số chữ. Nhưng chữ "định tượng" mới là đích. Con số chỉ có ích khi người dùng biết đọc tượng mà nó dẫn tới.
Mai Hoa Dịch Số, phần Tự chiêm, đại ý: chữ ít một làm quẻ trên vì trời nhẹ trong, chữ nhiều một làm quẻ dưới vì đất nặng đục.
Bình: Câu này cho thấy người soạn sách cố gắng đặt mọi quy ước tính toán vào một lý lẽ âm dương. Lý lẽ ấy hợp với cách nghĩ thời đó, nhưng không có nghĩa là quy ước khác thì sai. Điều đáng học là thái độ: quy ước nào cũng phải có lý do và phải dùng nhất quán.
Đọc cho đúng mức
Nhiều dị bản ở cửa đếm chữ. Phần tách nét một chữ, phần câu dài, phần thanh điệu không thống nhất giữa các bản và các thầy. Ai nói "đây là cách duy nhất đúng" là đang nói quá.
Chuyển sang tiếng Việt là việc của người đời sau. Đếm âm tiết hợp lý hơn đếm chữ cái, nhưng cả hai đều không có trong sách. Hãy coi đó là quy ước cá nhân, ghi rõ trong sổ.
Con số tự đến cũng có thể bị chọn. Đếm đàn chim lúc nào, nghe tiếng gõ thứ mấy mới bắt đầu đếm, đều có chỗ cho người đếm "chỉnh" kết quả mà không biết. Cách giữ khách quan duy nhất là quyết định đếm cái gì trước khi đếm.
Phép lấy số không làm phép đọc dễ hơn. Cửa nào cũng dẫn về cùng một quẻ có Thể, Dụng, hỗ, biến. Phần khó vẫn là đọc, xem Thể và Dụng và hỗ quái, biến quái.
Việc nên làm
- Ở trang đầu sổ quẻ, viết rõ lối mình chọn cho hai con số (có cộng giờ hay không) và cho câu tiếng Việt (đếm âm tiết).
- Khi thấy một dấu động muốn lập quẻ, quyết định đếm cái gì trước, rồi mới đếm.
- Ghi lại cả con số, cả hình ảnh (chim về tổ, tiếng gõ dồn hay thưa) vì hình ảnh là ngoại ứng.
- Nếu không có con số tự đến, dùng phép theo thời gian, đừng tự nghĩ ra số.
- Nhập con số vào công cụ Mai Hoa của site để kiểm phép tính tay.
Lập quẻ theo thời điểm hoặc theo số, thể – dụng, hỗ quái, biến quái.✨ Dùng thử
Nguồn tham khảo
- Mai Hoa Dịch Số, bản lưu hành đề Thiệu Ung soạn: Vật số chiêm, Thanh âm chiêm, Tự chiêm, Xích trượng chiêm và các ví dụ đi kèm (đại ý; phần đếm chữ có nhiều dị bản).
- Chu Dịch, Hệ Từ thượng, chương 10.
- Các ví dụ trong bài được tính lại bằng lớp tra cứu Kinh Dịch của aihuyenhoc.com.
Câu hỏi thường gặp
Lập quẻ Mai Hoa bằng một con số thì làm thế nào?
Số ấy chia 8 lấy dư ra quẻ trên; cộng thêm số giờ (Tý 1 đến Hợi 12) rồi chia 8 ra quẻ dưới; tổng ấy chia 6 ra hào động. Dư 0 lấy Khôn hoặc hào 6.
Có được tự nghĩ ra con số để lập quẻ không?
Được, nhưng khác tinh thần Mai Hoa. Sách dạy lấy con số có sẵn trong sự việc như số vật, số tiếng, số chữ, vì nó mang theo cả ngoại ứng và ít bị thói quen chi phối.
Câu hỏi bằng tiếng Việt thì đếm chữ thế nào?
Nên đếm âm tiết, vì mỗi âm tiết tương ứng một chữ Hán. Số chẵn chia đôi; số lẻ thì phần ít hơn một chữ làm quẻ trên. Đếm chữ cái là quy ước mới, không có gốc trong sách.
Hai con số có cần cộng giờ không?
Các thầy làm khác nhau. Lối phổ biến lấy tổng hai số chia 6; có thầy cộng thêm giờ. Hai lối cho hào động khác nhau, nên chọn một lối và giữ cố định.
Đếm tiếng động thì đếm tới đâu?
Đếm một chuỗi tiếng liền nhau từ đầu tới khi dứt, như ba tiếng gõ cửa hay năm tiếng gà gáy. Tiếng kéo dài lẫn lộn không đếm được thì dùng cửa khác.
Nguồn tham khảo: Mai Hoa Dịch Số (bản lưu hành, đề Thiệu Ung soạn) — Vật số chiêm, Thanh âm chiêm, Tự chiêm, Xích trượng chiêm; các ví dụ Ngưu ai chiêm, Kê minh chiêm · Chu Dịch — Hệ Từ thượng, chương 10 — câu cực kỳ số, toại định thiên hạ chi tượng