Quý Nhân ngày và đêm trong Lục Nhâm: bài ca "Giáp Mậu Canh ngưu dương" và ba chỗ các sách an khác nhau

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 11 phút đọc

Quý Nhân ngày và đêm trong Lục Nhâm: bài ca "Giáp Mậu Canh ngưu dương" và ba chỗ các sách an khác nhau

Trong Lục Nhâm, Quý Nhân (Thiên Ất) an theo can ngày bằng bài ca "Giáp Mậu Canh ngưu dương, Ất Kỷ thử hầu hương, Bính Đinh trư kê vị, Nhâm Quý thố xà tàng, lục Tân phùng mã hổ": mỗi can có hai chi, một dùng cho giờ ban ngày, một cho ban đêm. Các sách chia nhau ở ba chỗ: can Canh, chi nào là ngày, và ranh giới ngày đêm.

Ba chỗ ấy không phải chuyện chữ nghĩa. Quý Nhân là mốc để an cả mười hai thiên tướng, nên đặt Quý Nhân lệch một chỗ thì cả bàn tướng đổi theo. Bài này dẫn từng dị bản từ sách gốc, lập bảng đối chiếu cho mười can, rồi chạy một ví dụ để thấy độ vênh thật.

Bài ca và cái lõi mọi bản đều đồng ý

Bản xưa nhất chúng tôi đối chiếu được nằm trong Sự Lâm Quảng Ký, bộ sách bách khoa đời Tống – Nguyên:

甲戊庚牛羊,乙巳鼠猴鄉,丙丁猪雞位,壬癸兔蛇當,六辛逢馬虎,此是貴人方。

(Bản số hoá chép chữ 巳 ở câu hai; theo mọi bản khác và theo nghĩa câu, đó là chữ 己, can Kỷ.)

Phiên âm: Giáp Mậu Canh ngưu dương, Ất Kỷ thử hầu hương, Bính Đinh trư kê vị, Nhâm Quý thố xà đương, lục Tân phùng mã hổ, thử thị quý nhân phương.

Mười hai con vật là mười hai chi: ngưu Sửu, dương Mùi, thử Tý, hầu Thân, trư Hợi, kê Dậu, thố Mão, xà Tỵ, mã Ngọ, hổ Dần. Mọi bản đều đồng ý ở phần lõi: mỗi can có đúng hai chỗ Quý Nhân, và hai chỗ ấy không bao giờ rơi vào Thìn, Tuất. Lục Nhâm gọi Thìn, Tuất là thiên la, địa võng, "chỗ ngục", Quý Nhân không ngồi.

Chỗ thứ nhất: Canh đi với Giáp Mậu hay đi với Tân

Có một bài ca thứ hai, khác đúng ở câu đầu và câu cuối. Cổ Kim Đồ Thư Tập Thành (Nghệ thuật điển, quyển 557) chép:

甲戊兼牛羊,乙己鼠猴鄉,丙丁豬雞位,壬癸兔蛇藏,庚辛逢馬虎,此是貴人方。

"Giáp Mậu kiêm ngưu dương… Canh Tân phùng mã hổ." Theo bản này, Canh có Quý Nhân ở Ngọ và Dần, không phải Sửu và Mùi.

Sách chọn ngày Tuyển Trạch Kỷ Yếu của Nam Bỉnh Cát (Triều Tiên, 1867) nói thẳng rằng bản thứ hai là sai lâu đời:

舊例云:「甲戊兼牛羊,庚辛逢馬虎,」訛錯已久。順治年間,蕭洪治考政,以甲戊庚牛羊,六辛逢馬虎,得其眞的。

Dịch: Lệ cũ nói "Giáp Mậu kiêm ngưu dương, Canh Tân phùng mã hổ", sai đã lâu. Khoảng niên hiệu Thuận Trị (1644 – 1661), Tiêu Hồng Trị khảo đính lại, lấy "Giáp Mậu Canh ngưu dương, lục Tân phùng mã hổ" mới đúng thật.

Phía Lục Nhâm, Lục Nhâm Đại Toàn in hai đồ an Quý Nhân (xem mục dưới) cho ra Canh ở Sửu và Mùi, tức theo bản thứ nhất. Tam Mệnh Thông Hội bên Bát Tự cũng giảng theo bản thứ nhất. Riêng tử vi Việt an Thiên Khôi, Thiên Việt theo bản "Canh Tân mã hổ", nên người học cả hai môn gặp ngay chỗ vênh ở tuổi Canh (bàn kỹ ở bài Thiên Khôi, Thiên Việt).

Chỗ thứ hai: chi nào là Quý Nhân ban ngày

Đây là chỗ ít người để ý nhất, và là chỗ vênh nhiều nhất.

Cách đọc thứ nhất: chữ đứng trước là ngày. Trong Kính Hoa Duyên (Lý Nhữ Trân, đời Thanh), hồi 76, hai cô gái học Lục Nhâm bàn đúng chuyện này: "chữ trên là trú, là dương; chữ dưới là dạ, là âm. Lấy câu đầu mà nói, Sửu là trú quý của Giáp Mậu Canh, Mùi là dạ quý." Đây là cách đọc phổ thông, và cũng là bảng các bài Lục Nhâm khác trên site đang dùng.

Cách đọc thứ hai: theo phép suy dương quý, âm quý. Lục Nhâm Đại Toàn (quyển 1) vẽ hai đồ "Tiên thiên dương quý" và "Hậu thiên âm quý"; Tuyển Trạch Kỷ Yếu giảng cùng phép ấy bằng lời rõ hơn, gồm hai vòng đếm:

  • Dương quý khởi từ Tý (chỗ quẻ Khôn trong Tiên thiên bát quái), đi thuận, bỏ qua Thìn, Tuất và Ngọ (Ngọ xung Tý). Đặt can Kỷ (can của đất, hợp với Khôn) ở Tý, rồi Canh ở Sửu, Tân ở Dần, Nhâm ở Mão, Quý ở Tỵ, Giáp ở Mùi, Ất ở Thân, Bính ở Dậu, Đinh ở Hợi, Mậu quay về Sửu.
  • Âm quý khởi từ Thân (chỗ quẻ Khôn trong Hậu thiên bát quái), đi nghịch, bỏ qua Thìn, Tuất và Dần (Dần xung Thân): Kỷ ở Thân, Canh ở Mùi, Tân ở Ngọ, Nhâm ở Tỵ, Quý ở Mão, Giáp ở Sửu, Ất ở Tý, Bính ở Hợi, Đinh ở Dậu, Mậu ở Mùi.

Lục Nhâm Đại Toàn chú rằng Quý Nhân ban ngày đi thuận, ban đêm đi nghịch, tức dương quý dùng cho ngày. Theo phép này, ngày Giáp Quý Nhân ban ngày ở Mùi, ngược với cách đọc thứ nhất. Điều thú vị là ngay sau đó sách ghi một câu: "其说甚有理,而近不用" — thuyết ấy rất có lý, nhưng gần đây không dùng. Nghĩa là ngay từ đời Minh, phép suy và thói quen thực hành đã tách nhau.

Triều Thanh chọn cách thứ hai làm chuẩn. Lời đề yếu của Tứ Khố Toàn Thư viết cho chính bộ Lục Nhâm Đại Toàn (năm Càn Long thứ 46, 1781) nói rõ: bộ Ngự Định Tinh Lịch Khảo Nguyên đời Khang Hy đã "đính chính cái sai 'ngày Sửu đêm Mùi' của Tào Chấn Khuê", và Hiệp Kỷ Biện Phương Thư đời Càn Long nói lại điều ấy. Các biên tập viên còn dẫn hai quẻ trong Ngô Việt Xuân Thu làm chứng: quẻ của Ngũ Tử Tư ngày Giáp Tuất, giờ gà gáy (ban đêm), cho thấy ngày Giáp, Sửu là âm quý; quẻ của Phạm Lãi ngày Mậu Dần, lúc mặt trời mọc (ban ngày), cho thấy ngày Mậu, Sửu là dương quý. Rồi họ chê Đại Toàn "lấy Thiên Ất vẫn theo lệ tục", chỉ in đồ Tiên thiên mà không dùng. Nói cách khác: cách thứ nhất là thói quen phổ thông, cách thứ hai là chuẩn của lịch quan nhà Thanh. Hai quẻ trong Ngô Việt Xuân Thu là chuyện kể thời Xuân Thu chép lại đời Hậu Hán, nên dùng làm bằng chứng cũng chỉ ở mức "người xưa đã hiểu như vậy".

Bảng 10 can đối chiếu

Bảng dưới theo bản "Giáp Mậu Canh ngưu dương, lục Tân phùng mã hổ". Cột cuối ghi chỗ khác nếu dùng bản "Canh Tân mã hổ".

Can ngàyCách 1: chữ trước là ngày (ngày / đêm)Cách 2: dương quý là ngày (ngày / đêm)Hai cách
GiápSửu / MùiMùi / Sửuđảo
ẤtTý / ThânThân / Týđảo
BínhHợi / DậuDậu / Hợiđảo
ĐinhHợi / DậuHợi / Dậutrùng
MậuSửu / MùiSửu / Mùitrùng
KỷTý / ThânTý / Thântrùng
CanhSửu / MùiSửu / Mùitrùng (bản "Canh Tân mã hổ": Ngọ / Dần)
TânNgọ / DầnDần / Ngọđảo
NhâmTỵ / MãoMão / Tỵđảo
QuýTỵ / MãoTỵ / Mãotrùng

Năm can trùng, năm can đảo. Cột cách 1 còn phụ thuộc thứ tự chữ trong câu bài ca: Sự Lâm Quảng Ký, Đồ Thư Tập Thành và Kính Hoa Duyên viết "Nhâm Quý thố xà" (Mão trước), còn Tuyển Trạch Kỷ Yếu viết "Nhâm Quý xà thố" (Tỵ trước). Bảng trên theo thứ tự "xà thố" như bảng thông dụng ở Việt Nam; đọc theo "thố xà" thì Nhâm, Quý ban ngày ở Mão. Đây là chỗ yếu của cách 1: nó dựa vào thứ tự chữ trong một câu thơ vốn được chép theo nhiều cách.

Cách 2 thì không có điểm yếu ấy, vì mỗi can được đặt bằng phép đếm chứ không bằng thứ tự chữ, và nó là chuẩn mà lịch quan nhà Thanh công bố. Nhưng như chính Đại Toàn thừa nhận, trong thực hành đương thời nó ít được dùng, và đến nay các sách, phần mềm vẫn chia hai phía.

Chỗ thứ ba: lấy gì làm ranh giới ngày và đêm

Ngay trong hồi 76 Kính Hoa Duyên, nhân vật kể ba ý kiến đang có: lấy sáu giờ từ Tý đến Tỵ là ngày, Ngọ đến Hợi là đêm; lấy giờ Mão và Dậu chia ngày đêm; lấy lúc Mặt Trời mọc, lặn thật. Rồi tự nhận "nghị luận bất nhất". Cách thứ hai (giờ Mão đến hết giờ Thân là ngày) là cách phổ biến nhất hiện nay.

Cổ Kim Đồ Thư Tập Thành (Nghệ thuật điển, quyển 708) còn chép một lệ thứ tư, không xét giờ mà xét mùa:

冬至後用陽貴人,夏至後用陰貴人。

Dịch: Sau Đông Chí dùng dương quý nhân, sau Hạ Chí dùng âm quý nhân.

Lệ này coi "dương, âm" là nửa năm dương khí lên và nửa năm âm khí lên, thay vì ngày và đêm. Ít ai dùng, nhưng nó cho thấy cặp chữ dương quý, âm quý từng được hiểu theo hơn một cách.

Một ví dụ: cùng một giờ, hai bàn tướng

Ngày 7/10/2026 là ngày Giáp Dần (27 tháng Tám âm lịch, tính bằng bộ máy lịch của site), nằm giữa Thu Phân và Sương Giáng nên nguyệt tướng là Thìn. Xem giờ Ngọ: đặt Thìn lên Ngọ, mọi chi thiên bàn nằm trên chi địa bàn lùi hai cung (Sửu trên Mão, Mùi trên Dậu). Theo lệ giờ Mão – Dậu và lệ Mặt Trời mọc lặn, giờ Ngọ là giờ ban ngày.

  • Cách 1, Quý Nhân ban ngày ở Sửu. Sửu nằm trên Mão, thuộc nửa Hợi – Thìn, nên mười hai tướng đi thuận.
  • Cách 2, Quý Nhân ban ngày ở Mùi. Mùi nằm trên Dậu, thuộc nửa Tỵ – Tuất, nên mười hai tướng đi nghịch.
Chi thiên bànCách 1 (Quý Nhân Sửu, thuận)Cách 2 (Quý Nhân Mùi, nghịch)
TýThiên HậuBạch Hổ
SửuQuý NhânThiên Không
DầnĐằng XàThanh Long
MãoChu TướcCâu Trần
ThìnLục HợpLục Hợp
TỵCâu TrầnChu Tước
NgọThanh LongĐằng Xà
MùiThiên KhôngQuý Nhân
ThânBạch HổThiên Hậu
DậuThái ThườngThái Âm
TuấtHuyền VũHuyền Vũ
HợiThái ÂmThái Thường

Mười trên mười hai chi đổi tướng. Chỉ Thìn (Lục Hợp) và Tuất (Huyền Vũ) giữ nguyên, vì Sửu và Mùi đối xứng qua trục Thìn – Tuất mà hai cách lại đi ngược chiều nhau. Một người đọc "Thanh Long ở Ngọ" thấy chuyện tiền bạc thuận, người kia đọc "Đằng Xà ở Ngọ" thấy chuyện lo âu: cùng một khóa, hai lời đoán, chỉ vì một bảng tra. Cách an từng tướng có ở bài mười hai thiên tướng.

Sách cổ nói gì

Lời chú dưới hai đồ Quý Nhân trong Lục Nhâm Đại Toàn:

此贵神昼顺行,夜逆行。不坐辰戌牢狱之地。各取喜其合处,不喜其刑害之方。……其说甚有理,而近不用。

Dịch: Quý thần này ban ngày đi thuận, ban đêm đi nghịch, không ngồi ở Thìn Tuất là đất lao ngục; mỗi can lấy chỗ hợp mà mình ưa, tránh chỗ hình hại… Thuyết ấy rất có lý, nhưng gần đây không dùng. — Lục Nhâm Đại Toàn, quyển 1

Bình: câu cuối là một lời thú nhận hiếm thấy trong sách thuật số. Người biên soạn chép phép suy có lý lẽ, đồng thời ghi rằng thực hành đương thời không theo nó. Nghĩa là bảng Quý Nhân mà người học thuộc lòng đã là một quy ước, không phải kết quả của một phép suy được mọi người công nhận. Hiểu như vậy thì bớt được những cuộc tranh luận kiểu "bản nào mới đúng", và chuyển sang câu hỏi thực tế hơn: mình theo bản nào, có ghi rõ không.

Đọc cho đúng mức

  • Không có bản "chuẩn" được mọi phái công nhận. Sách cổ tự mâu thuẫn ở cả ba chỗ. Lời "bản này mới đúng" của bất kỳ thầy nào, kể cả sách cổ, chỉ là lời của một dòng.
  • Bát Tự dùng cùng bài ca nhưng không cần chia ngày đêm. Thần sát Thiên Ất Quý Nhân trong Bát Tự lấy cả hai chi của can ngày, gặp chi nào trong bốn trụ cũng tính (xem thần sát trong Bát Tự). Vì thế người học Bát Tự chỉ vướng chỗ thứ nhất (can Canh), không vướng chỗ thứ hai và ba.
  • Phần mềm Lục Nhâm thường có tuỳ chọn bản Quý Nhân và ranh giới ngày đêm, nhưng mặc định mỗi phần mềm một khác. Hai bàn in ra khác nhau ở thiên tướng thì việc đầu tiên là xem chúng có cùng tuỳ chọn không.
  • Thiên tướng là lớp diễn giải của Lục Nhâm; phần lập bốn khóa và tam truyền (cửu tông môn) không phụ thuộc Quý Nhân, nên hai cách an vẫn cho cùng một tam truyền, chỉ khác tướng cưỡi trên đó.

Việc nên làm

  1. Chọn một bản và ghi vào đầu sổ: bài ca nào (Canh ở Sửu Mùi hay Ngọ Dần), chữ nào là ngày, ranh giới ngày đêm theo giờ Mão – Dậu hay theo Mặt Trời.
  2. Khi chép một khóa trong sách ra để học, xem sách ấy theo bản nào trước khi so với bàn tự lập.
  3. Với các ngày Giáp, Ất, Bính, Tân, Nhâm, thử an cả hai cách như ví dụ trên để quen với mức vênh; với Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Quý thì hai cách cho cùng kết quả.
  4. Đừng dựa vào một thiên tướng duy nhất để kết luận. Đọc nó cùng tam truyền và loại thần của việc hỏi.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Lục Nhâm Đại Toàn — quyển 1: Tiên thiên dương quý đồ, Hậu thiên âm quý đồ và lời chú (nguyên văn theo bản số hoá trên Wikisource tiếng Trung).
  • Sự Lâm Quảng Ký — tục tập, quyển 11, mục "Thiên Ất quý nhân".
  • Cổ Kim Đồ Thư Tập Thành — Bác vật vựng biên, Nghệ thuật điển, quyển 557 (bài ca "Canh Tân phùng mã hổ") và quyển 708 (lệ Đông Chí, Hạ Chí).
  • Nam Bỉnh Cát — Tuyển Trạch Kỷ Yếu (1867), thượng biên, mục "Thiên Ất quý nhân" và hai đồ dương quý, âm quý.
  • Vạn Dân Anh — Tam Mệnh Thông Hội, quyển 3, phần luận Thiên Ất quý nhân (đại ý).
  • Lý Nhữ Trân — Kính Hoa Duyên, hồi 76.
  • Tứ Khố Toàn Thư — lời đề yếu cho Lục Nhâm Đại Toàn (Càn Long 46, 1781): đính chính "ngày Sửu đêm Mùi", dẫn Tinh Lịch Khảo Nguyên, Hiệp Kỷ Biện Phương Thư và hai quẻ trong Ngô Việt Xuân Thu (đại ý).

Câu hỏi thường gặp

Bài ca Quý Nhân trong Lục Nhâm là gì?

"Giáp Mậu Canh ngưu dương, Ất Kỷ thử hầu hương, Bính Đinh trư kê vị, Nhâm Quý thố xà tàng, lục Tân phùng mã hổ." Mỗi can ngày có hai chi Quý Nhân, một dùng ban ngày, một dùng ban đêm.

Ngày Giáp Quý Nhân ban ngày ở Sửu hay ở Mùi?

Tuỳ cách đọc. Theo thói quen phổ thông (chữ đứng trước là ngày) thì ở Sửu; theo phép suy dương quý, cũng là chuẩn lịch quan nhà Thanh đã định, thì ở Mùi. Hai cách trùng nhau ở các ngày Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Quý.

"Canh Tân phùng mã hổ" có đúng không?

Đó là một dị bản, cho can Canh Quý Nhân ở Ngọ và Dần. Tuyển Trạch Kỷ Yếu coi là sai lâu đời; Lục Nhâm Đại Toàn, Tam Mệnh Thông Hội theo bản Canh ở Sửu Mùi; tử vi Việt lại an Khôi Việt theo bản Canh Tân mã hổ.

Giờ nào là ban ngày khi an Quý Nhân?

Phổ biến nhất là từ giờ Mão đến hết giờ Thân. Có thầy lấy theo lúc Mặt Trời mọc, lặn thật; Kính Hoa Duyên còn chép ý lấy Tý đến Tỵ làm ngày. Cần ghi rõ mình theo lệ nào.

Đổi bản Quý Nhân có làm đổi tam truyền không?

Không. Bốn khóa và tam truyền lập từ can chi ngày, nguyệt tướng và giờ, không dùng Quý Nhân. Đổi bản chỉ làm đổi thiên tướng cưỡi trên các chi, nhưng phần lớn lời đoán lại dựa vào thiên tướng.

Nguồn tham khảo: Lục Nhâm Đại Toàn — quyển 1 — Tiên thiên dương quý đồ, Hậu thiên âm quý đồ và lời chú · Sự Lâm Quảng Ký — tục tập, quyển 11, mục Thiên Ất quý nhân · Cổ Kim Đồ Thư Tập Thành — Nghệ thuật điển, quyển 557 và quyển 708 · Tuyển Trạch Kỷ Yếu — Nam Bỉnh Cát (Triều Tiên, 1867), thượng biên, mục Thiên Ất quý nhân · Tam Mệnh Thông Hội — quyển 3, phần luận Thiên Ất quý nhân · Kính Hoa Duyên — Lý Nhữ Trân, hồi 76 · Tứ Khố Toàn Thư tổng mục đề yếu — lời đề yếu cho Lục Nhâm Đại Toàn (1781)

Đại Lục Nhâm: lập thiên bàn, địa bàn, tứ khóa từng bướcĐại Lục Nhâm lập khóa từng bước: địa bàn, nguyệt tướng theo trung khí, đặt thiên bàn lên giờ, can ký cung, bốn khóa, tam truyền. …
Thức bàn đời Hán ở Song Cổ Đôi: chiếc "máy tính" sơn mài mà người ta gọi là thức bàn Lục NhâmThức bàn Lục Nhâm ở mộ Song Cổ Đôi (Phụ Dương, khai quật 1977): thiên bàn tròn có Bắc Đẩu xoay trên địa bàn vuông, cách nó vận hà…
Lưu Niên, Xích Khẩu, Không Vong: ba cung khó của Tiểu Lục Nhâm và nên làm gì khi bấm raXích Khẩu là gì, Lưu Niên và Không Vong nghĩa gốc ra sao: ba cung khó của Tiểu Lục Nhâm đọc không doạ, kèm bảng việc nên làm thực…
Tam thức: Thái Ất, Kỳ Môn, Lục Nhâm khác nhau ở đâu và vì sao gọi là "thức"Tam thức gồm Thái Ất, Kỳ Môn Độn Giáp và Đại Lục Nhâm: chữ thức là cái bàn xoay trời tròn đất vuông; bảng so tầm việc, đầu vào th…
Thần sát trong Lục Nhâm: Dịch Mã, Đinh Mã, Thiên Hỷ, Thiên Y và cách dùng có chừng mựcThần sát Lục Nhâm: bảng 12 thần sát hay dùng (Dịch Mã, Đinh Mã, Thiên Mã, Thiên Hỷ, Thiên Y, Lộc, Đức…), cách tính theo Lục Nhâm …
Đại An, Tốc Hỷ, Tiểu Cát: ba cung tốt của Tiểu Lục Nhâm đọc theo từng việc hỏiĐại An, Tốc Hỷ, Tiểu Cát là ba cung tốt của Tiểu Lục Nhâm: bài thơ cổ từng cung và dị bản, ngũ hành phương vị, bảng đọc khi hỏi v…