Đại An, Tốc Hỷ, Tiểu Cát: ba cung tốt của Tiểu Lục Nhâm đọc theo từng việc hỏi

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc

Đại An, Tốc Hỷ, Tiểu Cát: ba cung tốt của Tiểu Lục Nhâm đọc theo từng việc hỏi

Đại An, Tốc Hỷ, Tiểu Cát là ba cung tốt trong sáu cung của Tiểu Lục Nhâm. Đại An là yên, việc giữ nếp, người chưa động; Tốc Hỷ là tin vui đến nhanh; Tiểu Cát là thuận nhỏ, có người giúp, người sắp tới. Mỗi cung có một bài thơ cổ chỉ cách đọc cho từng loại việc, và nghĩa thay đổi khá nhiều theo câu hỏi.

Ba cung tốt nằm ở đâu trên vòng sáu

Tiểu Lục Nhâm bấm sáu cung theo thứ tự Đại An, Lưu Niên, Tốc Hỷ, Xích Khẩu, Tiểu Cát, Không Vong, rồi quay lại (cách bấm ở bài Tiểu Lục Nhâm). Ba cung tốt đứng ở vị trí lẻ: thứ nhất, thứ ba, thứ năm. Ba cung khó đứng ở vị trí chẵn.

Điều đó dẫn tới một hệ quả ít ai để ý, kiểm được bằng công thức (tháng âm + ngày âm + thứ tự giờ − 2, chia 6 lấy dư):

  • Ngày nào cũng có đúng sáu canh giờ rơi vào ba cung tốt, mỗi cung đúng hai lần.
  • Sáu giờ ấy hoặc là toàn giờ dương (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất), hoặc toàn giờ âm (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi), xen kẽ theo ngày.

Ví dụ mùng 1 Tết Đinh Mùi (thứ Bảy 6/2/2027, tháng Giêng, ngày 1): giờ Tý và Ngọ ra Đại An, giờ Dần và Thân ra Tốc Hỷ, giờ Thìn và Tuất ra Tiểu Cát. Sang mùng 2, cả bộ dịch sang các giờ âm: Hợi và Tỵ ra Đại An, Sửu và Mùi ra Tốc Hỷ, Mão và Dậu ra Tiểu Cát.

Hiểu điều này để thấy: "giờ tốt" theo Tiểu Lục Nhâm không hiếm. Nửa ngày nào cũng tốt. Phép này không chọn ra một khoảnh khắc đặc biệt, nó chia đều. Chính vì vậy người dùng giỏi không dừng ở chữ "tốt", mà đọc tốt kiểu gì.

Đại An: yên, nhưng chậm

Bài thơ cung Đại An, theo bản phổ biến, mở đầu:

Đại An sự sự xương, cầu tài tại Khôn phương. Thất vật khứ bất viễn, trạch xá bảo an khang.

Dịch: Đại An mọi việc thịnh, cầu của ở phương Khôn (Tây Nam). Đồ mất chưa đi xa, nhà cửa giữ yên lành.

Bốn câu sau, đại ý: người đi xa còn chưa khởi hành; người ốm không đáng ngại; việc nên xét kỹ thêm. Chữ then chốt của Đại An là tĩnh. Đại An tốt cho việc cần giữ, cần ổn: nhà cửa, sức khoẻ, việc đang chạy đều. Nhưng với việc cần động, cần nhanh, Đại An lại là cái "tốt" của sự chậm: người chưa đi, tin chưa tới.

Trong bộ gán ngũ hành phổ biến, Đại An thuộc Mộc, phương Đông, đi với thiên tướng Thanh Long.

Tốc Hỷ: tin đến nhanh

Tốc Hỷ hỷ lai lâm, cầu tài hướng Nam hành. Thất vật Thân Mùi Ngọ, phùng nhân lộ thượng tầm.

Dịch: Tốc Hỷ niềm vui đến, cầu của nên đi về Nam. Đồ mất ở phía Thân, Mùi, Ngọ (Tây Nam ngả về Nam), gặp người trên đường mà hỏi.

Bốn câu sau, đại ý: việc quan có phúc, người ốm không bị hại thêm, ruộng nhà vật nuôi đều tốt, người đi xa có tin. Chữ then chốt là nhanh. Tốc Hỷ là cung của tin tức, của việc vừa ý xảy ra sớm hơn mong đợi. Dị bản ở câu thứ ba khá nhiều: có bản ghi phương tìm đồ khác, nhưng đều ngả về phía Nam.

Ngũ hành gán: Hoả, phương Nam, thiên tướng Chu Tước. Chu Tước là tướng của văn thư, tin tức, khớp với nghĩa "tin đến".

Tiểu Cát: thuận nhỏ, có người giúp

Tiểu Cát tối cát xương, lộ thượng hảo thương lượng. Âm nhân lai báo hỷ, thất vật tại Khôn phương.

Dịch: Tiểu Cát rất tốt lành, trên đường dễ bàn bạc. Người nữ đến báo tin vui, đồ mất ở phương Khôn.

Bốn câu sau, đại ý: người đi xa sắp tới, giao dịch thuận, mọi việc hoà hợp. Chữ then chốt là hợp: có người, có thương lượng, có mối nối. Tên "cát nhỏ" không có nghĩa là kém, mà là cái tốt đến qua người khác, không phải tự trời rơi xuống.

Ngũ hành gán: các bản không thống nhất, phần nhiều ghi Thuỷ, có bản ghi Mộc; thiên tướng Lục Hợp, tướng của hoà hợp, mai mối, giao dịch.

Một điều đáng chú ý khi đặt ba bài thơ cạnh bảng ngũ hành: phương trong thơ và phương trong bảng không khớp nhau. Đại An gán Mộc phương Đông, nhưng thơ lại bảo cầu của ở Tây Nam. Có lẽ thơ và bảng hình thành ở hai lớp khác nhau, được ghép lại về sau. Khi dùng để tìm hướng, phần lớn người bấm theo câu thơ.

Bảng đọc theo việc hỏi

Việc hỏiĐại AnTốc HỷTiểu Cát
Đi xađi được, đường yên, việc ở nơi đến chậm mà chắcnên đi sớm, việc mau thànhthuận, dễ gặp người giúp, hợp đi cùng người
Chờ tintin chưa tới, không có gì xấu, nên chờ thêmtin tới nhanh, thường là tin vuitin qua người khác mang tới, hay qua phụ nữ
Người đi xa bao giờ vềcòn chưa khởi hànhđã có tin, sắp có liên lạcsắp về tới
Tìm đồchưa đi xa, quanh chỗ cũphía Nam, Tây Nam; hỏi người đi đườngphía Tây Nam; có người biết
Gặp người, bàn việcgặp được nhưng chưa quyết ngayquyết nhanhdễ thương lượng
Việc đang chạygiữ nguyên là hơnđẩy tới đượcnhờ thêm người

Bảng này tổng hợp từ ba bài thơ và cách người bấm độn quen đọc. Nó không phải lời hứa: cùng một giờ, mọi người ở mọi nơi bấm ra cùng một cung.

"Giờ xuất hành Lý Thuần Phong" chính là phép này

Rất nhiều lịch treo tường và trang lịch vạn niên ghi mục "giờ xuất hành theo Lý Thuần Phong", chia các giờ trong ngày thành Đại An, Tốc Hỷ, Tiểu Cát, Lưu Niên, Xích Khẩu, Tuyệt Lộ hay Không Vong. Đó chính là Tiểu Lục Nhâm dùng để chọn giờ đi, chỉ đổi cách gọi; bảng tra cả năm ở bài giờ xuất hành theo Lý Thuần Phong.

Việc gán tên Lý Thuần Phong, nhà thiên văn đời Đường, là truyền thống dân gian. Văn bản Tiểu Lục Nhâm còn lại xuất hiện muộn, chủ yếu trong sách lịch và sách bói phổ thông, không có bằng chứng nối về ông.

Sách cổ nói gì

Đại An sự sự xương. Tốc Hỷ hỷ lai lâm. Tiểu Cát tối cát xương.

Dịch: Đại An mọi việc thịnh. Tốc Hỷ niềm vui đến. Tiểu Cát rất tốt lành. — câu mở đầu ba bài ca Tiểu Lục Nhâm, theo bản phổ biến trong sách lịch và sách bói phổ thông

Bình: ba câu mở đều là lời tốt chung chung. Cái đáng đọc nằm ở các câu sau: Đại An "người đi chưa động", Tốc Hỷ "người đi có tin", Tiểu Cát "người đi sắp tới". Ba cung tốt thật ra là ba nhịp khác nhau của cùng một việc: chưa bắt đầu, đang có tin, sắp xong. Người đọc mà chỉ nhớ "tốt" là bỏ mất phần tinh nhất.

Phép Tiểu Lục Nhâm không có một bộ kinh nền; các bài ca có nhiều dị bản, nhất là ở câu chỉ phương và câu về bệnh. Chúng tôi theo bản hay gặp nhất và ghi chỗ khác nhau ở trên.

Đọc cho đúng mức

  • Cùng giờ, cùng cung cho mọi người. Phép không phân biệt người hỏi, việc hỏi, nơi hỏi.
  • Một nửa số giờ trong ngày là giờ "tốt". Đây là tính chất của phép đếm vòng sáu, không phải điềm.
  • Thơ và bảng ngũ hành không khớp phương, chứng tỏ phép đã qua nhiều lớp ghép.
  • Người tin vào phép này nên dùng nó cho việc nhỏ, việc có thể đợi; việc lớn phải dựa vào thông tin thật. Bài ba cung khó nói cách đọc phía bên kia.

Việc nên làm

  • Khi bấm ra Đại An mà việc cần nhanh, hãy hiểu là "chưa vội được", dùng thời gian ấy chuẩn bị kỹ hơn.
  • Bấm ra Tốc Hỷ thì nên chủ động liên lạc, hỏi tin; cung này hợp với việc mình đi trước một bước.
  • Bấm ra Tiểu Cát thì nghĩ xem ai có thể giúp, rủ người cùng làm, nói chuyện trước khi quyết.
  • Muốn một phép hỏi việc theo thời điểm có cấu trúc rõ hơn, thử lập quẻ Mai Hoa theo giờ.
🌸Mai Hoa Dịch Số
Lập quẻ theo thời điểm hoặc theo số, thể – dụng, hỗ quái, biến quái.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Bài ca sáu cung Tiểu Lục Nhâm (Đại An, Tốc Hỷ, Tiểu Cát) — bản phổ biến trong sách lịch, sách bói phổ thông; có dị bản ở câu chỉ phương.
  • Lục Nhâm Đại Toàn — tên và tính chất các thiên tướng Thanh Long, Chu Tước, Lục Hợp (đại ý).
  • Tính bằng bộ máy âm lịch của site: mùng 1 Tết Đinh Mùi là thứ Bảy 6/2/2027.

Câu hỏi thường gặp

Cung Đại An có nghĩa là gì?

Đại An là "yên lớn": việc ổn, nhà yên, đồ mất chưa đi xa, nhưng người đi xa còn chưa khởi hành. Tốt cho việc cần giữ, chậm với việc cần nhanh.

Tốc Hỷ có phải giờ tốt nhất không?

Tốc Hỷ là cung của tin vui đến nhanh, hợp nhất với việc chờ tin, việc cần quyết sớm. Với việc cần ổn định lâu dài thì Đại An lại hợp hơn.

Tiểu Cát khác Đại An ở đâu?

Đại An là yên, tĩnh; Tiểu Cát là hợp, có người giúp, người sắp tới, giao dịch thuận. Một bên giữ, một bên nối.

Mỗi ngày có bao nhiêu giờ Đại An, Tốc Hỷ, Tiểu Cát?

Mỗi cung đúng hai canh giờ mỗi ngày, ba cung cộng lại là sáu canh giờ. Ngày này rơi vào sáu giờ dương thì ngày sau rơi vào sáu giờ âm.

Giờ xuất hành Lý Thuần Phong có giống Tiểu Lục Nhâm không?

Giống. Lịch ghi "giờ xuất hành Lý Thuần Phong" chính là dùng phép Tiểu Lục Nhâm để chọn giờ ra đi; việc gán cho Lý Thuần Phong là truyền thống dân gian.

Nguồn tham khảo: Bài ca sáu cung Tiểu Lục Nhâm trong sách lịch, sách bói phổ thông (bản phổ biến) — bài Đại An, Tốc Hỷ, Tiểu Cát · Lục Nhâm Đại Toàn — tên thiên tướng Thanh Long, Chu Tước, Lục Hợp

Loại thần trong Đại Lục Nhâm: hỏi việc gì thì nhìn thiên tướng, lục thân và địa chi nàoLoại thần Lục Nhâm theo Lục Nhâm Đại Toàn: việc hỏi ứng với thiên tướng, lục thân, địa chi nào, quy tắc chọn khi có nhiều loại th…
Lưu Niên, Xích Khẩu, Không Vong: ba cung khó của Tiểu Lục Nhâm và nên làm gì khi bấm raXích Khẩu là gì, Lưu Niên và Không Vong nghĩa gốc ra sao: ba cung khó của Tiểu Lục Nhâm đọc không doạ, kèm bảng việc nên làm thực…
Đại Lục Nhâm: lập thiên bàn, địa bàn, tứ khóa từng bướcĐại Lục Nhâm lập khóa từng bước: địa bàn, nguyệt tướng theo trung khí, đặt thiên bàn lên giờ, can ký cung, bốn khóa, tam truyền. …
Tam thức: Thái Ất, Kỳ Môn, Lục Nhâm khác nhau ở đâu và vì sao gọi là "thức"Tam thức gồm Thái Ất, Kỳ Môn Độn Giáp và Đại Lục Nhâm: chữ thức là cái bàn xoay trời tròn đất vuông; bảng so tầm việc, đầu vào th…
Bấm độn tìm đồ, tìm người: cách người Việt dùng Tiểu Lục Nhâm và chỗ nên dừngBấm độn tìm đồ theo Tiểu Lục Nhâm: bảng sáu cung ra hướng, xa gần, nhanh chậm theo lối dân gian, một ví dụ đếm tay, và vì sao tìm…
Thần sát trong Lục Nhâm: Dịch Mã, Đinh Mã, Thiên Hỷ, Thiên Y và cách dùng có chừng mựcThần sát Lục Nhâm: bảng 12 thần sát hay dùng (Dịch Mã, Đinh Mã, Thiên Mã, Thiên Hỷ, Thiên Y, Lộc, Đức…), cách tính theo Lục Nhâm …