Trường sinh, mộ, tuyệt của hào: mười hai giai đoạn trong Lục Hào và chuyện hào nhập mộ

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc

Trường sinh, mộ, tuyệt của hào: mười hai giai đoạn trong Lục Hào và chuyện hào nhập mộ

Trường sinh là vòng mười hai giai đoạn của một hành qua mười hai chi, từ Trường sinh, Mộc dục… tới Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Lục Hào cho Thổ đi theo Thủy: cùng sinh ở Thân, vượng ở Tý, mộ ở Thìn, tuyệt ở Tỵ. Tăng San Bốc Dịch chỉ dùng bốn mốc sinh, vượng, mộ, tuyệt. Hào gặp chi mộ của mình ở ngày, ở hào động hoặc ở biến hào gọi là nhập mộ.

Mười hai giai đoạn, một vòng đời

Mười hai tên gọi mượn hình ảnh một đời người: Trường sinh (ra đời), Mộc dục (tắm gội), Quan đới (đội mũ), Lâm quan (ra làm quan), Đế vượng (cực thịnh), Suy, Bệnh, Tử, Mộ (vào kho, vào mộ), Tuyệt (dứt), Thai (thụ thai), Dưỡng (nuôi trong bụng mẹ), rồi lại Trường sinh.

Mỗi hành bắt đầu vòng ở một chi khác nhau và đi thuận theo thứ tự mười hai chi.

Bảng đủ năm hành theo Lục Hào

Giai đoạnMộcHoảKimThủy và Thổ
Trường sinhHợiDầnTỵThân
Mộc dụcTýMãoNgọDậu
Quan đớiSửuThìnMùiTuất
Lâm quanDầnTỵThânHợi
Đế vượngMãoNgọDậuTý
SuyThìnMùiTuấtSửu
BệnhTỵThânHợiDần
TửNgọDậuTýMão
MộMùiTuấtSửuThìn
TuyệtThânHợiDầnTỵ
ThaiDậuTýMãoNgọ
DưỡngTuấtSửuThìnMùi

Mẹo nhớ: bốn chi mộ chính là bốn chi Thổ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi), mỗi chi là "kho" cuối một mùa; và chi tuyệt luôn xung chi trường sinh (Hợi – Tỵ, Dần – Thân).

Thổ theo Thủy hay Thổ theo Hoả

Đây là chỗ người học Bát Tự sang Lục Hào hay vấp. Bát Tự phổ biến cho Thổ theo Hoả: Mậu Thổ trường sinh ở Dần như Bính Hoả, và còn phân can dương đi thuận, can âm đi nghịch. Lục Hào thì cho Thổ theo Thủy: Thổ trường sinh ở Thân, vượng ở Tý, mộ ở Thìn, tuyệt ở Tỵ, và không phân âm dương, vì hào chỉ mang chi, không mang can để tính.

Tăng San Bốc Dịch ghi gọn: Thổ, Thủy trường sinh ở Thân, vượng ở Tý, mộ ở Thìn, tuyệt ở Tỵ. Đem bảng Bát Tự vào Lục Hào là lỗi thường gặp; một hào Thổ gặp ngày Tuất sẽ bị đọc là "nhập mộ" theo Bát Tự (Thổ theo Hoả mộ ở Tuất), trong khi theo Lục Hào thì Tuất chỉ là Quan đới của Thổ.

Tăng San chỉ giữ bốn mốc

Điểm làm Tăng San Bốc Dịch khác nhiều sách trước là người soạn nói thẳng ông chỉ thấy bốn mốc nghiệm: trường sinh, đế vượng, mộ, tuyệt; tám giai đoạn còn lại không nghiệm, không cần dùng. Lý do có thể hiểu được: Mộc dục, Quan đới, Suy, Bệnh, Thai, Dưỡng là những trạng thái lửng lơ, khó gắn với một kết luận rõ; còn sinh (có nguồn), vượng (đang mạnh), mộ (bị giam, bị che), tuyệt (bị cắt) là bốn trạng thái có ý nghĩa thực dụng cho câu hỏi.

Vì vậy, khi đọc theo Tăng San, bạn chỉ cần thuộc bốn hàng in đậm trong bảng.

Nhập mộ ở ba nơi

Một hào nhập mộ khi nó gặp chi mộ của hành mình. Sách phân ba nơi, gọi chung là "tam mộ":

NơiĐiều kiệnVí dụ
Nhật mộ (mộ ở ngày)ngày gieo mang chi mộ của hàohào Thủy gieo ngày Thìn
Động mộ (mộ ở hào động)một hào động trong quẻ mang chi mộ của hàohào Thủy, trong quẻ có hào Thìn động
Hoá mộ (mộ ở biến hào)chính hào ấy động, biến ra chi mộ của mìnhhào Hợi Thủy động biến ra Thìn

Nghĩa chung của nhập mộ là bị giam, bị che, chưa ra được. Hào vượng mà nhập mộ thường được đọc là tạm bị che khuất; hào suy mà nhập mộ là tình thế nặng hơn, như người đã yếu lại bị nhốt. Về thời điểm, sách dặn: nhập cả ba mộ đều mừng được xung mở, tức chờ ngày xung chi mộ (bài ứng kỳ).

Ví dụ 1: Thế nhập mộ ở cả ngày lẫn hào động

Gieo ngày 21/10/2026 (tháng Mậu Tuất, ngày Mậu Thìn, tuần không Tuất, Hợi), được Thuần Khảm, hào 2 động. Quẻ cung Khảm (Thủy), Thế ở hào 6.

  • Thế là Tý Thủy (Huynh Đệ): tháng Tuất là Thổ khắc Thủy, Tý ở thế tử.
  • Ngày Thìn là mộ của Thủy: Thế nhập nhật mộ.
  • Hào 2 là Thìn Thổ (Quan Quỷ) đang động: Thế lại nhập động mộ.

Người hỏi (Thế) yếu, bị giam hai lớp. Theo lối đọc Lục Hào, đây là thế bị kẹt, khó tự xoay, nhiều sức ép (Quan Quỷ là áp lực). Mốc xung mở là ngày Tuất: gần nhất là 27/10/2026 (Giáp Tuất).

Ví dụ 2: nhập nhật mộ cộng tuần không

Quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân (cung Ly), gieo ngày 23/6/2026 (tháng Giáp Ngọ, ngày Mậu Thìn, tuần không Tuất, Hợi). Hào 3 là Hợi Thủy, lục thân Quan Quỷ, trì Thế. Hợi ở tháng Ngọ là tù, rơi vào tuần không, lại gặp ngày Thìn là mộ của Thủy. Ba điều kiện cùng chỉ một hướng: hào yếu, trống, bị che. Nếu Quan Quỷ ấy là nguyên thần cho một câu hỏi về giấy tờ, Tăng San xếp đây vào các trường hợp nguyên thần vô dụng (bài nguyên thần, kỵ thần, cừu thần).

Ví dụ 3: hoá mộ kèm hồi đầu khắc

Quẻ Lôi Hỏa Phong, gieo 15/3/2026, hào 3 Hợi Thủy động biến ra Thìn: vừa là mộ của Thủy (hoá mộ), vừa là Thổ khắc Thủy (hồi đầu khắc). Hai tầng xấu chồng lên một hào. Nếu hào ấy là kỵ thần thì lại có lợi cho người hỏi (phân tích ở bài hoá tiến, hoá thoái, hồi đầu khắc).

Trường sinh, đế vượng: hai mốc tốt

Ngược với mộ và tuyệt, hào gặp trường sinh ở ngày (Mộc gặp ngày Hợi, Kim gặp ngày Tỵ…) là có nguồn mới; gặp đế vượng (Mộc gặp ngày Mão…) là đang ở đỉnh. Tăng San xếp "nguyên thần ở trường sinh, đế vượng nơi nhật thần" vào các cách nguyên thần sinh được dụng thần. Hào biến ra chi trường sinh của mình (hoá sinh) cũng được đọc là có hậu.

Sách cổ nói gì

Dư đắc nghiệm giả, chỉ nghiệm sinh vượng mộ tuyệt, kỳ dư bất nghiệm, bất tất dụng chi.

Dịch: Những gì ta thấy nghiệm, chỉ có sinh, vượng, mộ, tuyệt; các giai đoạn còn lại không nghiệm, không cần dùng. — Tăng San Bốc Dịch, Sinh vượng mộ tuyệt chương

Thổ thủy trường sinh tại Thân, vượng tại Tý, mộ tại Thìn, tuyệt tại Tỵ.

Dịch: Thổ và Thủy trường sinh ở Thân, vượng ở Tý, mộ ở Thìn, tuyệt ở Tỵ. — cùng chương

Nhập tam mộ câu hỷ xung khai.

Dịch: Nhập vào ba nơi mộ đều mừng được xung mở. — Tăng San Bốc Dịch, Các môn loại ứng kỳ tổng chú chương

Bình: câu đầu hiếm thấy trong sách thuật số: người soạn tự thu hẹp công cụ của mình vì thấy phần lớn không nghiệm. Thái độ ấy đáng học hơn cả bảng tra. Đọc những bài trên mạng dùng đủ mười hai giai đoạn để đoán từng li từng tí, bạn biết chúng đi xa hơn cả sách gốc của phái Lục Hào phổ biến nhất.

Đọc cho đúng mức

  • Bảng trường sinh là quy ước của từng môn; Lục Hào và Bát Tự khác nhau ở hành Thổ và ở chuyện âm dương. Dùng đúng bảng của môn mình đang đọc.
  • Nhập mộ không có nghĩa là mất hẳn; trong Lục Hào nó là trạng thái bị che, bị giam, có thể được mở ra.
  • Bài theo Tăng San Bốc Dịch; sách khác có thể dùng đủ mười hai giai đoạn.
  • Lục Hào là phép bói cổ, chưa được kiểm chứng; các trạng thái này là ngôn ngữ của sách để mô tả lực của hào.

Việc nên làm

  • Thuộc bốn hàng: trường sinh Hợi, Dần, Tỵ, Thân; vượng Mão, Ngọ, Dậu, Tý; mộ Mùi, Tuất, Sửu, Thìn; tuyệt Thân, Hợi, Dần, Tỵ (theo thứ tự Mộc, Hoả, Kim, Thủy Thổ).
  • Với dụng thần và nguyên thần, luôn hỏi: ngày gieo có phải chi mộ, chi tuyệt của nó không; có hào động nào là chi mộ của nó không; nó có biến ra chi mộ không.
  • Gặp nhập mộ, ghi ngày xung mộ làm mốc chờ, và ghi rõ hào ấy vượng hay suy.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Tăng San Bốc Dịch — Dã Hạc lão nhân, Lý Văn Huy tăng san: Sinh vượng mộ tuyệt chương, Các môn loại ứng kỳ tổng chú chương (nguyên văn), Quái biến sinh khắc mộ tuyệt chương, Nguyên thần kỵ thần suy vượng chương (đại ý); đối chiếu bản số hoá Wikisource tiếng Hán.
  • Vương Hồng Tự — Bốc Phệ Chính Tông (đại ý, so sánh).
  • Các quẻ ví dụ: nạp giáp Kinh Phòng; can chi ngày tháng, tuần không tính bằng bộ máy lịch của aihuyenhoc.com.

Câu hỏi thường gặp

Trong Lục Hào, Thổ trường sinh ở đâu?

Ở Thân, giống Thủy: Thổ và Thủy cùng trường sinh ở Thân, vượng ở Tý, mộ ở Thìn, tuyệt ở Tỵ. Đây là chỗ khác với Bát Tự phổ biến cho Thổ theo Hoả.

Hào nhập mộ nghĩa là gì?

Là hào gặp chi mộ của hành mình ở ngày gieo, ở một hào động, hoặc ở chính biến hào của nó; sách đọc là bị giam, bị che, chưa ra được, và chờ ngày xung mộ để mở.

Vì sao Tăng San Bốc Dịch chỉ dùng bốn giai đoạn?

Người soạn ghi rằng qua nghiệm quẻ, ông chỉ thấy trường sinh, đế vượng, mộ, tuyệt có ứng; các giai đoạn khác không nghiệm nên không cần dùng.

Mộ của từng hành là chi nào?

Mộc mộ ở Mùi, Hoả mộ ở Tuất, Kim mộ ở Sửu, Thủy và Thổ mộ ở Thìn.

Hào vượng mà nhập mộ có xấu không?

Thường nhẹ hơn hào suy nhập mộ: hào vượng chỉ tạm bị che, đến ngày xung mộ thì ra; hào suy nhập mộ mới là thế nặng.

Nguồn tham khảo: Tăng San Bốc Dịch — Dã Hạc lão nhân, Lý Văn Huy tăng san — Sinh vượng mộ tuyệt chương; Quái biến sinh khắc mộ tuyệt chương; Các môn loại ứng kỳ tổng chú chương · Bốc Phệ Chính Tông — Vương Hồng Tự · Bản số hoá Tăng San Bốc Dịch trên Wikisource tiếng Hán — đối chiếu câu chữ · Bảng nạp giáp Kinh Phòng và bộ máy can chi của aihuyenhoc.com — lập các quẻ ví dụ

Ám động và nhật phá: khi hào tĩnh mà vẫn động, và cùng một quẻ cho hai kết luận ngượcÁm động, nhật phá trong Lục Hào: hào tĩnh vượng bị ngày xung là ám động, hào suy bị xung là nhật phá; cùng một quẻ gieo khác ngày…
Nguyên thần, Kỵ thần, Cừu thần: ba vai quanh dụng thần trong Lục Hào, đọc qua một quẻ hỏi thiNguyên thần, kỵ thần, cừu thần trong Lục Hào: cách xác định từ dụng thần, quẻ hỏi thi đọc ở ba ngày gieo, sáu cách nguyên thần vô…
Chọn dụng thần trong Lục Hào: hỏi thi xem Phụ Mẫu, hỏi tiền xem Thê Tài, và những ca dễ chọn nhầmDụng thần Lục Hào là hào đại diện cho việc mình hỏi: bảng việc hỏi sang dụng thần theo Tăng San Bốc Dịch, hỏi giùm người khác, dụ…
Bát cung quái: 64 quẻ chia tám cung, quẻ du hồn, quy hồn và bảng tra đủBảng bát cung quái: 64 quẻ chia vào tám cung Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài theo thứ tự biến hào, kèm vị trí Thế, du h…
Lục thân trong Lục Hào: Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Tử Tôn, Thê Tài, Quan Quỷ lấy theo hành của cungLục thân Lục Hào lấy theo ngũ hành của cung quẻ: cách an Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Tử Tôn, Thê Tài, Quan Quỷ, mỗi thân đại diện việc gì,…
Một quẻ Lục Hào đoán từ đầu đến cuối: hỏi việc đi xa làm ănVí dụ đoán Lục Hào đủ bước: hỏi đi xa mở điểm bán hàng, gieo được Vị Tế biến Khuê, lập nạp giáp, chọn dụng thần Thế và Thê Tài, c…