Ứng kỳ Lục Hào: việc thành lúc nào, các phép tĩnh chờ xung, động chờ hợp, không chờ điền thực và cách tự kiểm cho trung thực

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc

Ứng kỳ Lục Hào: việc thành lúc nào, các phép tĩnh chờ xung, động chờ hợp, không chờ điền thực và cách tự kiểm cho trung thực

Ứng kỳ là phép đoán việc trong quẻ ứng vào ngày, tháng nào. Theo Tăng San Bốc Dịch: hào chủ việc tĩnh thì chờ ngày trị hoặc ngày xung; động thì chờ ngày hợp hoặc ngày trị; gặp tuần không chờ ngày điền thực hoặc xung; bị nguyệt phá chờ ngày điền hoặc hợp; nhập mộ chờ ngày xung mộ; quá vượng chờ mộ hoặc xung.

Ứng kỳ đọc trên hào nào

Ứng kỳ luôn tính trên hào chủ việc, thường là dụng thần (bài chọn dụng thần). Khi dụng thần quá yếu hoặc không hiện, một số thầy tính theo nguyên thần, vì nguyên thần là nguồn nuôi việc. Điều quan trọng là chọn hào trước, rồi mới tính, đừng tính cho mọi hào rồi chọn ngày nào trùng với việc đã xảy ra.

Đơn vị thời gian cũng phải chọn trước: việc gần (vài ngày, vài tuần) thì tính theo ngày; việc xa (cả năm) thì tính theo tháng. Cùng một chi, khi là ngày Tý, khi là tháng Tý.

Bảng các phép lấy ứng kỳ

Trạng thái của hào chủ việcChờVí dụ (hào là Tý Thủy)
Tĩnhngày trị (cùng chi) hoặc ngày xungngày Tý hoặc ngày Ngọ
Độngngày hợp hoặc ngày trịngày Sửu hoặc ngày Tý
Tuần khôngngày điền thực (đúng chi ấy, khi đã ra khỏi tuần) hoặc ngày xungngày Tý hoặc ngày Ngọ
Nguyệt phá (bị tháng xung)ngày điền hoặc ngày hợpgieo tháng Ngọ, hào Tý bị phá: chờ ngày Tý hoặc Sửu
Nhập mộngày xung mộThủy mộ ở Thìn: chờ ngày Tuất
Quá vượng (nhiều hào cùng hành, lại được tháng ngày)ngày mộ hoặc ngày xungchờ ngày Thìn hoặc ngày Ngọ
Suy yếutháng, ngày hành ấy vượngchờ mùa đông, ngày Hợi Tý

Hai dòng "tĩnh chờ xung" và "động chờ hợp" có lý rất dễ nhớ: cái đang đứng yên cần một cú xô để chuyển động; cái đang chạy cần một chỗ hợp để dừng lại thành kết quả. Dòng tuần không và nguyệt phá cùng một ý: cái đang "trống" hay "vỡ" cần được lấp đầy. Bài trường sinh, mộ, tuyệt giải thích chuyện mộ.

Một ví dụ: những ngày ứng viên mọc lên dày thế nào

Gieo ngày 21/10/2026 (tháng Mậu Tuất, ngày Mậu Thìn, tuần không Tuất, Hợi), được Thuần Khôn, hào 1 động, biến Địa Lôi Phục (quẻ này có phân tích ở bài quẻ lục xung lục hợp). Câu hỏi giả định: khoản tiền người khác nợ có thu về được không, bao giờ. Dụng thần là Thê Tài.

  • Thê Tài trên quẻ chủ là Hợi ở hào 5, tĩnh, tuần không, tử trong tháng Tuất.
  • Hào 1 Mùi động hoá ra Tý, cũng là Thê Tài.

Áp bảng, bộ máy lịch của site cho các ngày ứng viên trong mười ngày đầu:

PhépChi chờNgày gần nhất
Hợi tuần không chờ xungTỵ22/10/2026 (Kỷ Tỵ)
Hợi tuần không chờ điền thựcHợi (sau khi ra tuần)28/10/2026 (Ất Hợi)
Tài Tý (biến hào) chờ trịTý29/10/2026 (Bính Tý)
Tài Tý chờ hợpSửu30/10/2026 (Đinh Sửu)

Bốn ngày ứng viên trong mười ngày. Nếu người hỏi nhận được tiền vào bất cứ ngày nào từ 21 tới 31/10, gần như lúc nào cũng có một phép "khớp" với nó, xê dịch một ngày là khớp. Đó không phải sức mạnh của quẻ; đó là bản chất của một bảng có quá nhiều lối ra.

Theo tinh thần sách, nên chọn một mốc gắn với chính dụng thần trên quẻ chủ: Hợi tuần không, chờ điền thực, tức ngày 28/10. Ghi mốc ấy lại trước, rồi mới chờ.

Tự kiểm cho trung thực: sổ quẻ và con số 1/12

Người học Lục Hào hay nói "ứng kỳ rất linh". Muốn biết điều đó đúng với chính mình hay không, có một cách kiểm đơn giản.

  1. Mỗi quẻ chỉ ghi một mốc, là một chi ngày cụ thể (hoặc một ngày dương lịch), viết vào sổ ngay khi gieo, có ngày giờ.
  2. Khi việc xảy ra, ghi ngày thật. Chỉ tính là khớp nếu đúng ngày ấy, không xê dịch.
  3. Sau hai mươi quẻ, đếm số lần khớp.

Một chi ngày lặp lại mười hai ngày một lần, nên nếu đoán bừa một chi, xác suất trúng đúng ngày là khoảng 1/12, tức 8%. Với hai mươi quẻ, chỉ do may rủi:

Số lần khớp trong 20 quẻXác suất có được chỉ nhờ may
ít nhất 2khoảng 50%
ít nhất 3khoảng 23%
ít nhất 4khoảng 8%
ít nhất 5khoảng 2%

Tức là trúng hai, ba lần trong hai mươi quẻ chưa nói lên gì. Phải từ khoảng năm lần trở lên mới bắt đầu khó giải thích bằng may rủi. Nếu bạn cho phép mỗi quẻ ba chi ứng viên như ví dụ trên, con số nền nhảy lên 25% mỗi quẻ, và trúng tám lần trong hai mươi vẫn có khoảng một phần mười khả năng chỉ là may.

Chúng tôi không có số liệu nào cho thấy ứng kỳ trúng hơn mức may rủi; cũng không có số liệu cho thấy nó không trúng. Cách duy nhất để biết là sổ ghi trước, chấm sau. Bài thiên kiến xác nhận giải thích vì sao trí nhớ không làm được việc này thay sổ.

Những chỗ các sách khác nhau

  • Mốc tính theo hào nào. Có sách ưu tiên dụng thần, có sách cho nguyên thần, có sách xét cả hào động. Càng nhiều lối, càng nhiều ngày ứng viên.
  • Tuần không có "thật" không. Tăng San cho rằng hào vượng, hào động gặp tuần không không phải "không thật"; khi ấy phép "chờ điền thực" có khi không áp.
  • Ngày hay tháng. Ranh giới giữa việc gần và việc xa không có số cố định; mỗi thầy một cảm nhận.

Sách cổ nói gì

Tĩnh nhi phùng trị phùng xung: như chủ sự hào lâm Tý thủy bất động, hậu phùng Tý nhật Ngọ nhật nhi ứng chi.

Dịch: Tĩnh thì gặp trị, gặp xung: như hào chủ việc là Tý Thủy không động, về sau gặp ngày Tý hoặc ngày Ngọ thì ứng. — Tăng San Bốc Dịch, Các môn loại ứng kỳ tổng chú chương

Động nhi phùng hợp phùng trị: như chủ sự hào lâm Tý thủy phát động, hậu ngộ Sửu nhật Tý nhật nhi ứng chi.

Dịch: Động thì gặp hợp, gặp trị: như hào chủ việc là Tý Thủy phát động, về sau gặp ngày Sửu hoặc ngày Tý thì ứng. — cùng chương

Tuần không tối ái điền xung. · Nguyệt phá hỷ điền. · Nhập tam mộ câu hỷ xung khai.

Dịch: Tuần không thích nhất được lấp hoặc được xung. Nguyệt phá mừng được lấp. Nhập ba nơi mộ đều mừng được xung mở. — cùng chương

Bình: các câu viết theo lối "gặp A hoặc gặp B". Mỗi chữ "hoặc" nhân đôi số ngày ứng viên. Người soạn sách đã nghiệm và ghi lại những gì ông thấy ứng; người học hôm nay nên làm tiếp phần việc ấy một cách có sổ sách, để biết phép nào thật sự đáng tin với mình.

Đọc cho đúng mức

  • Ứng kỳ là phần khó nhất và ít kiểm chứng nhất của Lục Hào. Coi nó là một giả thuyết để ghi lại, không phải một lịch hẹn.
  • Đừng sắp xếp việc quan trọng (ký hợp đồng, nghỉ việc, đòi nợ gay gắt) chỉ dựa trên một ngày ứng kỳ.
  • Một mốc khớp không chứng minh quẻ đúng; một mốc trượt cũng không chứng minh quẻ sai. Chỉ chuỗi dài có ghi chép mới nói được điều gì đó.
  • Lục Hào là phép bói cổ; bài này giải thích cách sách tính, không khẳng định nó linh nghiệm.

Việc nên làm

  • Trước khi tính ứng kỳ, viết: hào chủ việc là hào nào, trạng thái gì (tĩnh, động, không, phá, mộ, quá vượng, suy).
  • Chọn một phép duy nhất theo trạng thái ấy và một đơn vị (ngày hay tháng).
  • Ghi một mốc vào sổ quẻ, có ngày gieo. Không sửa mốc sau khi việc xảy ra.
  • Sau hai mươi quẻ, đếm lần khớp đúng ngày và so với bảng may rủi ở trên.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Tăng San Bốc Dịch — Dã Hạc lão nhân, Lý Văn Huy tăng san: Các môn loại ứng kỳ tổng chú chương (các câu dẫn nguyên văn), Tuần không chương, Nguyệt phá chương; đối chiếu bản số hoá Wikisource tiếng Hán.
  • Vương Hồng Tự — Bốc Phệ Chính Tông (đại ý, so sánh).
  • Ngày ứng viên tính bằng bộ máy lịch của aihuyenhoc.com; xác suất may rủi tính theo phân phối nhị thức với xác suất 1/12 và 3/12 mỗi quẻ.

Câu hỏi thường gặp

Ứng kỳ trong Lục Hào là gì?

Là phép đoán thời điểm việc trong quẻ xảy ra, dựa trên trạng thái của hào chủ việc như tĩnh, động, tuần không, nguyệt phá, nhập mộ, rồi chờ ngày hoặc tháng có chi tương ứng.

"Tĩnh chờ xung, động chờ hợp" nghĩa là gì?

Hào chủ việc đứng yên thì chờ ngày có chi xung nó (hoặc trùng chi) để chuyển động; hào đang động thì chờ ngày có chi hợp nó (hoặc trùng chi) để thành kết quả.

Hào tuần không thì bao giờ ứng?

Theo Tăng San Bốc Dịch, tuần không chờ ngày điền thực, tức ngày đúng chi ấy khi đã ra khỏi tuần, hoặc ngày xung chi ấy.

Vì sao ứng kỳ hay "khớp"?

Vì mỗi hào có hai, ba phép, mỗi phép lại cho ngày lặp mười hai ngày một lần; cộng lại thì trong một tuần gần như luôn có ngày ứng viên. Chỉ ghi một mốc trước mới kiểm được.

Làm sao biết ứng kỳ có đúng với mình không?

Ghi một mốc duy nhất cho mỗi quẻ ngay khi gieo, chỉ tính khớp khi đúng ngày, rồi so số lần khớp với mức may rủi khoảng 1/12 mỗi quẻ.

Nguồn tham khảo: Tăng San Bốc Dịch — Dã Hạc lão nhân, Lý Văn Huy tăng san — Các môn loại ứng kỳ tổng chú chương; Tuần không chương; Nguyệt phá chương · Bốc Phệ Chính Tông — Vương Hồng Tự · Bản số hoá Tăng San Bốc Dịch trên Wikisource tiếng Hán — đối chiếu câu chữ · Bộ máy can chi của aihuyenhoc.com — tính ngày ứng viên; phép tính xác suất nhị thức cho phần tự kiểm

Tuần không, nguyệt phá, hào phục, hào phi trong Lục Hào: bốn khái niệm giải bằng một quẻTuần không, nguyệt phá, hào phục, hào phi trong Lục Hào: tính tuần không theo ngày, nguyệt phá theo tháng tiết, lấy phục thần từ …
Lục Hào hỏi hôn nhân: Thê Tài, Quan Quỷ, Thế Ứng và những câu phú định kiến nên bỏLục Hào hỏi hôn nhân: quy ước cũ nam xem Thê Tài, nữ xem Quan Quỷ đến từ đâu, vì sao nên đọc lại bằng Thế Ứng cho cả hai giới, kè…
Hào động hoá tiến, hoá thoái, hồi đầu sinh, hồi đầu khắc: đọc chiều đi của một hàoHoá tiến, hoá thoái, hồi đầu sinh, hồi đầu khắc trong Lục Hào: bảng theo Tăng San Bốc Dịch, chỗ máy đếm thấy chỉ bốn cặp thật sự …
Một quẻ Lục Hào đoán từ đầu đến cuối: hỏi việc đi xa làm ănVí dụ đoán Lục Hào đủ bước: hỏi đi xa mở điểm bán hàng, gieo được Vị Tế biến Khuê, lập nạp giáp, chọn dụng thần Thế và Thê Tài, c…
Hào Thế, hào Ứng: "ta" và "người" trong quẻ Lục Hào, cách an và cách đọcHào Thế là người hỏi, hào Ứng là đối phương hay việc bên ngoài. Cách an Thế theo bát cung, khẩu quyết tìm Thế không cần bảng, và …
Lục Hào hỏi công việc: chọn Quan Quỷ hay Phụ Mẫu làm dụng thần, đọc trọn một quẻ gieo thậtLục Hào hỏi công việc: bảng dụng thần theo việc xin việc, thăng chức, hợp đồng, mở cửa hàng; đọc trọn một quẻ gieo bằng công cụ c…