Mười hai canh giờ: giờ Tý là mấy giờ, đổi giờ cổ sang giờ hiện đại cho đúng nơi, đúng mùa

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 6 phút đọc

Mười hai canh giờ: giờ Tý là mấy giờ, đổi giờ cổ sang giờ hiện đại cho đúng nơi, đúng mùa

Một ngày đêm chia mười hai canh giờ, mỗi canh hai tiếng, gọi theo mười hai địa chi. Quy ước phổ biến: giờ Tý từ 23 giờ đến 1 giờ, giờ Sửu từ 1 đến 3 giờ, cứ thế đến giờ Hợi từ 21 đến 23 giờ. Canh giờ gốc chia theo Mặt Trời, nên ở mỗi tỉnh và mỗi mùa, ranh giới thật lệch vài phút đến hơn hai mươi phút.

Tên mười hai chi và tháng, phương đi kèm có ở bài mười hai địa chi; "canh" của ban đêm (canh một, canh hai) là hệ khác, xem bài năm canh của đêm.

📅Lịch âm – lịch vạn niên
Lịch tháng âm dương, can chi, tiết khí, ngày hoàng đạo.
Mở

Bảng đổi canh giờ

Canh giờGiờ đồng hồĐầu giờ (giờ sơ)Giữa giờ (giờ chính)Tên gọi cổ thường dẫnCon giáp
Tý23:00 – 01:0023:0000:00Dạ bán (nửa đêm)Chuột
Sửu01:00 – 03:0001:0002:00Kê minh (gà gáy)Trâu
Dần03:00 – 05:0003:0004:00Bình đán (rạng sáng)Hổ
Mão05:00 – 07:0005:0006:00Nhật xuất (mặt trời mọc)Mèo
Thìn07:00 – 09:0007:0008:00Thực thời (giờ ăn sáng)Rồng
Tỵ09:00 – 11:0009:0010:00Ngung trung (gần trưa)Rắn
Ngọ11:00 – 13:0011:0012:00Nhật trung (giữa trưa)Ngựa
Mùi13:00 – 15:0013:0014:00Nhật điệt (mặt trời xế)Dê
Thân15:00 – 17:0015:0016:00Bô thời (giờ ăn chiều)Khỉ
Dậu17:00 – 19:0017:0018:00Nhật nhập (mặt trời lặn)Gà
Tuất19:00 – 21:0019:0020:00Hoàng hônChó
Hợi21:00 – 23:0021:0022:00Nhân định (người đã yên)Lợn

Hai cột "giờ sơ" và "giờ chính" cần giải thích. Đời Đường, Tống trở đi, mỗi canh giờ chia đôi: nửa đầu là "sơ", nửa sau bắt đầu từ "chính". "Tý chính" là đúng nửa đêm, "Ngọ chính" là đúng giữa trưa. Người Trung Hoa về sau gọi mỗi nửa là một "tiểu thời", hai mươi bốn tiểu thời một ngày, chính là gốc của chữ "giờ" hai mươi bốn tiếng ngày nay. Cột tên gọi cổ (dạ bán, kê minh, bình đán…) là cách gọi theo Mặt Trời và sinh hoạt, thấy nhiều trong văn bản đời Hán; nó cho thấy canh giờ ra đời từ nhịp sống thường ngày, không phải từ toán học.

Khắc: đơn vị nhỏ hơn canh giờ

Người xưa đo thời gian bằng đồng hồ nước (khắc lậu): một mũi tên có vạch nổi dần lên khi nước chảy vào bình. Từ rất sớm, một ngày đêm chia 100 khắc, mỗi khắc khoảng 14 phút 24 giây. Một trăm không chia hết cho mười hai, nên mỗi canh giờ là 8 khắc và một phần ba khắc, rất bất tiện. Các triều đại từng thử 96, 108, 120 khắc; đến đời Thanh, lịch Thời Hiến định hẳn 96 khắc, mỗi canh giờ 8 khắc, mỗi khắc đúng 15 phút. Tiếng Việt "một khắc" hiểu là mười lăm phút là dấu vết của quy ước sau cùng này.

Giờ Tý thuộc ngày hôm trước hay hôm sau

Theo quy ước phổ biến của lịch can chi, ngày mới bắt đầu từ đầu giờ Tý, tức 23 giờ. Người sinh lúc 23 giờ 30 ngày 5 thì can chi ngày đã tính sang ngày 6. Có phái (nhất là trong Bát Tự) tách giờ Tý làm hai: "Tý sớm" (0 – 1 giờ) thuộc ngày mới, "Tý muộn" (23 – 24 giờ) vẫn thuộc ngày cũ nhưng mang can giờ của ngày mới. Khi xem lá số người sinh trong khoảng 23 – 24 giờ, nên biết công cụ mình dùng theo cách nào. Công cụ của site tính 23 giờ và 0 giờ đều là giờ Tý, cùng cách với bài giờ hoàng đạo.

Chỉnh theo nơi: giờ đồng hồ không phải giờ Mặt Trời

Đồng hồ Việt Nam chạy theo múi giờ +7, tức giờ Mặt Trời trung bình của kinh tuyến 105 độ Đông. Mỗi độ kinh lệch đi là 4 phút. Tính bằng máy cho một số nơi:

NơiKinh độ (xấp xỉ)Giữa trưa thật trung bình so với 12:00
Điện Biên Phủ103,0° Đmuộn hơn khoảng 8 phút (12:08)
Hà Giang105,0° Đgần như đúng 12:00
Cà Mau105,2° Đsớm hơn khoảng 1 phút
Hà Nội105,9° Đsớm hơn khoảng 3 phút (11:57)
Thành phố Hồ Chí Minh106,7° Đsớm hơn khoảng 7 phút (11:53)
Huế107,6° Đsớm hơn khoảng 10 phút (11:50)
Móng Cái108,0° Đsớm hơn khoảng 12 phút (11:48)

Tức là cùng 11 giờ đồng hồ, ở Móng Cái Mặt Trời đã "vào giờ Ngọ" được mười mấy phút, còn ở Điện Biên thì chưa.

Chỉnh theo mùa: Mặt Trời không đi đều

Còn một lớp nữa: quỹ đạo Trái Đất hình elip và trục nghiêng, nên giữa trưa thật xê dịch quanh năm, nhà thiên văn gọi là phương trình thời gian. Hai cực điểm:

Thời điểmGiữa trưa thật lệch so với trung bìnhVí dụ Hà Nội
khoảng giữa tháng Haimuộn hơn khoảng 14 phútkhoảng 12:10
khoảng đầu tháng Mười Mộtsớm hơn khoảng 16 phútkhoảng 11:40

Cộng hai lớp lại, ranh giới canh giờ thật ở Việt Nam có thể lệch khỏi bảng quy ước từ vài phút đến hơn hai mươi phút. Người sinh sát ranh giới (ví dụ 10 giờ 55 ở Huế đầu tháng Mười Một) nên tính lại giờ Mặt Trời trước khi lập lá số.

Một lớp lệch nữa: giờ đồng hồ trong quá khứ

Múi giờ của Việt Nam không phải lúc nào cũng là +7. Ở miền Nam, từ cuối năm 1959 đến giữa năm 1975, đồng hồ chạy theo múi +8; trước đó cũng có những giai đoạn đổi múi. Người sinh ở miền Nam trong giai đoạn ấy, giờ ghi trên giấy khai sinh sớm hơn giờ +7 một tiếng: ghi 7 giờ sáng thì theo giờ +7 là 6 giờ, đã sang giờ Mão chứ không phải giờ Thìn. Không chỉnh chỗ này là lệch cả một canh giờ.

Sách cổ nói gì

Nhật chi số thập, cố hữu thập thời.

Dịch: Số của ngày là mười, nên có mười thời. — Tả Truyện, Chiêu Công năm thứ 5

Đỗ Dự đời Tấn chú câu này bằng một danh sách mười thời trong ngày, đại ý: giữa trưa, giờ ăn, rạng sáng, gà gáy, nửa đêm, người yên, hoàng hôn, mặt trời lặn, giờ ăn chiều, mặt trời xế, mỗi thời ứng một bậc người trong xã hội.

Bình: chi tiết này ít người biết: trước khi ổn định thành mười hai canh giờ theo địa chi, đã có lúc ngày được chia mười thời, theo số mười của thiên can. Cả hai cách đều gọi giờ bằng việc người làm và vị trí Mặt Trời. Đổi sang giờ đồng hồ là một quy ước tiện dùng về sau, không phải bản gốc.

Đọc cho đúng mức

  • Bảng "giờ Tý 23 – 1 giờ" là quy ước theo giờ đồng hồ múi +7, đủ dùng cho việc hằng ngày.
  • Canh giờ gốc theo Mặt Trời; chỉnh kinh độ và phương trình thời gian chỉ quan trọng khi giờ nằm sát ranh giới.
  • Các phái khác nhau ở chuyện giờ Tý thuộc ngày nào; không có cách duy nhất đúng.
  • Số liệu múi giờ lịch sử nên kiểm thêm theo nơi sinh cụ thể.

Việc nên làm

  1. Dùng bảng quy ước cho việc thường ngày; chọn giờ làm việc quan trọng thì lấy khoảng giữa canh giờ, tránh sát biên.
  2. Khi lập lá số, cộng trừ chỗ lệch kinh độ của nơi sinh; sinh sát ranh giới thì tính thêm phương trình thời gian.
  3. Người sinh ở miền Nam giai đoạn 1960 – 1975 kiểm lại múi giờ trước khi đổi giờ sinh ra canh giờ.

Nguồn tham khảo

  • Xuân Thu Tả Truyện, Chiêu Công năm thứ 5 (trích nguyên văn); chú của Đỗ Dự về mười thời (đại ý).
  • Thời Hiến lịch đời Thanh — quy ước ngày 96 khắc (đại ý).
  • Độ lệch kinh độ và phương trình thời gian: tính bằng máy, đối chiếu bài giờ hoàng đạo của site.

Câu hỏi thường gặp

Giờ Tý là mấy giờ?

Theo quy ước phổ biến, giờ Tý từ 23 giờ đến 1 giờ sáng; đúng nửa đêm là "Tý chính". Theo giờ Mặt Trời thật, ranh giới này lệch vài phút đến hơn hai mươi phút tuỳ nơi và mùa.

Một canh giờ bằng bao nhiêu tiếng?

Một canh giờ bằng hai tiếng đồng hồ. Ngày đêm có mười hai canh giờ, gọi theo mười hai địa chi từ Tý đến Hợi.

Một khắc là bao nhiêu phút?

Theo quy ước đời Thanh (ngày 96 khắc), một khắc là 15 phút. Trước đó lâu đời dùng ngày 100 khắc, mỗi khắc khoảng 14 phút 24 giây.

Sinh lúc 23 giờ 30 thì tính ngày nào?

Theo quy ước phổ biến, ngày can chi mới bắt đầu từ 23 giờ nên tính sang ngày hôm sau. Một số phái Bát Tự tách giờ Tý muộn ra, vẫn tính vào ngày cũ.

Vì sao cùng một giờ đồng hồ mà mỗi nơi canh giờ khác nhau?

Vì canh giờ gốc theo Mặt Trời, còn đồng hồ theo múi giờ chung của kinh tuyến 105 độ. Nơi càng xa kinh tuyến ấy về phía đông thì giữa trưa thật càng sớm hơn 12 giờ đồng hồ.

Nguồn tham khảo: Xuân Thu Tả Truyện — Chiêu Công năm thứ 5, và chú của Đỗ Dự · Thời Hiến lịch (đời Thanh) — ngày 96 khắc · Tính bằng máy: kinh độ các tỉnh và phương trình thời gian

Lục giáp và tuần không: sáu tuần mười ngày, bảng không vong và cách tính nhẩm cho ngày, năm bất kỳLục giáp là sáu tuần mười ngày trong vòng 60 can chi; mỗi tuần dư hai chi gọi là tuần không. Bảng tra, công thức nhẩm, và cách Lụ…
Canh Tý, Mậu Thân, Ất Dậu: đọc lịch sử Việt qua tên năm can chiNăm can chi trong lịch sử Việt: Mậu Thân 1968, Ất Dậu 1945, Đinh Mùi 1427… Bảng sự kiện, cách đổi năm và phép đếm cho thấy câu nă…
Chu kỳ 60 ngày chưa từng đứt suốt hơn 2.700 năm: kiểm bằng tám lần nhật thực trong kinh Xuân ThuTám lần nhật thực kinh Xuân Thu ghi kèm can chi ngày, từ 720 đến 495 trước Công nguyên, tính ngược bằng số ngày Julius đều khớp: …
Tam hội phương: Dần Mão Thìn hội Mộc và khác tam hợp ở chỗ nàoTam hội cục là ba chi cùng một mùa, một phương: Dần Mão Thìn hội Mộc. Bảng tam hội, tam hợp, bán hợp trên vòng địa chi và một Bát…
Vòng Trường Sinh mười hai giai đoạn: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới… Tuyệt, Thai, DưỡngVòng Trường Sinh là mười hai giai đoạn của khí từ sinh đến tàn rồi thai dưỡng. Bảng mười can, tranh luận dương thuận âm nghịch, c…
Mười hai địa chi: Tý, Sửu, Dần… nghĩa gốc, giờ, tháng, tiết khí, phương — bảng đầy đủBảng mười hai địa chi Tý Sửu Dần Mão…: âm dương, ngũ hành, con giáp, giờ, tháng âm, tiết khí mở tháng, phương, mùa và nghĩa gốc t…