Canh Tý, Mậu Thân, Ất Dậu: đọc lịch sử Việt qua tên năm can chi

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc

Canh Tý, Mậu Thân, Ất Dậu: đọc lịch sử Việt qua tên năm can chi

Người Việt quen gọi nhiều biến cố bằng tên năm can chi: Tết Mậu Thân (1968), nạn đói Ất Dậu (1945), thất thủ kinh đô Ất Dậu (1885), bão năm Thìn (1904). Tên năm là một nhãn thời gian dễ nhớ, lặp lại sau 60 năm. Nhưng nhãn không phải nguyên nhân: đếm các năm thật thì câu "năm Tý thì có dịch" hay "năm Thìn thì có bão" không đứng được.

Bài này có hai phần. Phần đầu là bảng các sự kiện quen thuộc với tên năm, và cách đổi một tên năm can chi trong sách sử sang năm dương lịch mà không nhầm. Phần sau đếm thật để kiểm vài câu "năm này thì có chuyện kia" đang lan truyền.

Vì sao sử Việt quen gọi năm bằng can chi

Sử cũ của ta ghi năm bằng niên hiệu của vua kèm can chi: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư mở mỗi năm bằng một dòng như "năm Đinh Mùi, niên hiệu…". Niên hiệu đổi theo vua, có khi một vua đổi nhiều lần; can chi thì chạy đều, không phụ thuộc triều đại. Vì vậy người đọc sử, và dân gian, hay nhớ năm bằng can chi hơn bằng niên hiệu. Lối ghi năm bằng can chi có từ đời Hán, xem bài nguồn gốc can chi.

Cách gọi này còn sống đến thế kỷ hai mươi, ngay cả khi lịch dương đã thông dụng. "Tết Mậu Thân" nói ngắn hơn và gợi hơn "Tết năm 1968".

Bảng một số sự kiện gắn với tên năm

Năm can chi dưới đây đều tính lại bằng bộ lịch của site:

Năm dương lịchTên nămSự kiện quen gọi theo tên năm
938Mậu Tuấttrận Bạch Đằng của Ngô Quyền
1288Mậu Týtrận Bạch Đằng thời Trần
1427Đinh Mùitrận Chi Lăng, Xương Giang, kết thúc kháng chiến chống Minh
1789Kỷ Dậutrận Ngọc Hồi, Đống Đa dịp Tết Kỷ Dậu
1885Ất Dậukinh thành Huế thất thủ
1904Giáp Thìn"bão năm Thìn" ở Nam Kỳ
1907Đinh MùiĐông Kinh Nghĩa Thục
1908Mậu Thânphong trào chống thuế ở Trung Kỳ
1930Canh Ngọkhởi nghĩa Yên Bái
1945Ất Dậunạn đói Ất Dậu; Cách mạng tháng Tám
1964Giáp Thìn"lụt năm Thìn" ở miền Trung
1968Mậu Thânsự kiện Tết Mậu Thân

Hai điều thú vị từ bảng. Năm Đinh Mùi xuất hiện hai lần cách nhau 480 năm (1427 và 1907), tám vòng 60 năm; năm 2027 sắp tới cũng là Đinh Mùi. Và có hai "năm Ất Dậu" nặng nề cách nhau đúng một vòng 60 năm: 1885 và 1945. Sự trùng ấy dễ khiến người ta nghĩ năm Ất Dậu "mang hạn"; phần sau của bài kiểm điều đó.

Đổi tên năm trong sách sử sang năm dương lịch

Gặp một dòng sử ghi "năm Ất Dậu" mà không có niên hiệu, bạn không thể biết là năm nào nếu không có thêm dữ kiện: Ất Dậu là 1825, 1885, 1945, 2005… Cần ít nhất một mốc (niên hiệu vua, tên nhân vật, sự kiện đi kèm) để chọn đúng vòng 60 năm.

Khi đã biết vòng, còn hai bẫy:

  • Năm can chi không trùng năm dương lịch. Năm âm lịch bắt đầu từ Tết, thường rơi vào cuối tháng Một hoặc trong tháng Hai dương lịch. Một sự kiện "tháng Chạp năm Ất Dậu" có thể đã sang tháng 1 năm dương lịch sau. Ví dụ trận Đống Đa: mùng 5 Tết Kỷ Dậu là ngày 30/1/1789 dương lịch, còn những ngày từ 1/1 đến 25/1/1789 vẫn thuộc năm Mậu Thân. Một sự kiện ghi "tháng Chạp năm Mậu Thân" có thể là năm 1788 hoặc đầu năm 1789 dương lịch. Cách tính can chi năm và bẫy tháng Một, tháng Hai có ở bài cách tính can chi năm.
  • Lịch Việt và lịch Trung Hoa có lúc lệch nhau. Ví dụ rõ nhất là chính năm Mậu Thân 1968: từ năm ấy miền Bắc dùng lịch theo múi giờ +7, nên Tết Mậu Thân ở miền Bắc là ngày 29/1/1968, còn theo múi giờ +8 (lịch miền Nam lúc đó và lịch Trung Hoa) là ngày 30/1/1968. Bộ lịch của site tính đúng sự lệch này. Chuyện Tết Việt lệch Tết Trung Quốc được bàn ở bài Tết Việt lệch Tết Trung Quốc.

Kiểm câu "năm Canh Tý thì có dịch"

Năm 2020, một câu lan truyền rộng: "cứ một trăm năm, vào năm Canh Tý, thế giới lại có đại dịch", kèm danh sách 1720, 1820, 1920, 2020. Tính lại can chi của bốn năm ấy:

NămCan chiCó phải Canh Tý không
1720Canh Týcó
1820Canh Thìnkhông
1920Canh Thânkhông
2020Canh Týcó

Lý do đơn giản: vòng can chi dài 60 năm, không phải 100 năm. Cách nhau 100 năm thì can giữ nguyên (100 chia hết cho 10) nhưng chi lùi đi bốn bậc (100 chia 12 dư 4). Chỉ hai trong bốn năm là Canh Tý. Câu "năm Canh Tý có dịch" dựa trên một phép tính sai ngay từ đầu.

Thử theo hướng ngược lại: lấy các đại dịch cúm và dịch bệnh hô hấp lớn của thế kỷ hai mươi, hai mươi mốt mà người Việt từng nghe nhắc, và tính năm can chi của năm bùng phát:

NămDịchCan chi
1918cúm năm 1918Mậu Ngọ
1957cúm châu ÁĐinh Dậu
1968cúm Hồng KôngMậu Thân
2003SARSQuý Mùi
2009cúm H1N1Kỷ Sửu
2020COVID-19Canh Tý

Sáu dịch, sáu chi khác nhau. Không có chi nào lặp lại, càng không có quy luật "năm Tý".

Kiểm câu "năm Thìn thì có bão lụt lớn"

Câu này có vẻ có cơ sở hơn, vì ba trận nổi tiếng đều rơi vào năm Thìn: bão năm Thìn 1904 (Giáp Thìn), lụt năm Thìn 1964 (Giáp Thìn), và bão Yagi tháng 9 năm 2024 (Giáp Thìn). Nhưng hãy đếm cả những trận lớn khác mà người miền Trung, miền Bắc còn nhớ:

NămBão, lụtCan chi
1985bão Cecil ở miền TrungẤt Sửu
1997bão Linda ở Nam BộĐinh Sửu
2006bão Xangsane ở miền TrungBính Tuất
2013bão HaiyanQuý Tỵ
2017bão DamreyĐinh Dậu

Đó là hiện tượng mà người làm thống kê gọi là nhớ chọn lọc: những trận rơi vào năm Thìn được đặt tên theo năm ("bão năm Thìn", "lụt năm Thìn") nên dễ nhớ và dễ kể lại; những trận rơi vào năm khác được gọi bằng tên bão hay năm dương lịch nên không gắn vào quy luật. Trong bất kỳ mười hai năm liên tiếp nào, mỗi chi xuất hiện đúng một lần; với khoảng một trăm năm có ghi chép, mỗi chi có tám, chín năm. Muốn nói năm Thìn có nhiều bão hơn, phải đếm toàn bộ các trận bão mạnh theo một tiêu chí cố định rồi chia theo chi, không phải nhớ ba trận có tên đẹp.

Can chi là nhãn, không phải nguyên nhân

Năm can chi được tạo ra để đánh số thời gian: một vòng 60 tên lặp lại đều đặn. Nó không đo nhiệt độ mặt biển, không đo mật độ virus, không đo lương thực trong kho. Nạn đói Ất Dậu 1945 có nguyên nhân rõ ràng trong sử liệu: chiến tranh, chính sách thu mua lúa và nhổ lúa trồng đay, thiên tai mất mùa. Gọi nó là "năm Ất Dậu" là cách nhớ, không phải cách giải thích.

Điều này không làm mất đi giá trị văn hoá của tên năm. Gọi "Tết Mậu Thân", "nạn đói Ất Dậu" là cách người Việt giữ ký ức tập thể; đó là văn hoá, nên được tôn trọng. Chỉ cần đừng đi thêm một bước, từ "năm ấy đã xảy ra chuyện" sang "năm có tên ấy sẽ lại xảy ra chuyện".

Đọc cho đúng mức

Bảng sự kiện là ví dụ, không đầy đủ. Bài chọn những sự kiện người Việt quen gọi bằng tên năm; tên gọi dân gian của từng trận bão, lũ có thể khác theo vùng.

Danh sách dịch và bão là để kiểm một lập luận, không phải thống kê khoa học. Một phân tích nghiêm túc cần bộ dữ liệu đầy đủ của cơ quan khí tượng hay y tế; bài chỉ cho thấy ngay cả danh sách ngắn những trận ai cũng nhớ cũng không ủng hộ "quy luật".

Năm can chi trong Tử Vi, Bát Tự là chuyện khác. Các môn ấy dùng can chi của năm như một thành phần của lá số cá nhân, đọc trong quan hệ với các trụ, các cung khác; đó không phải lời tuyên bố "năm Tý thì cả nước có dịch". Cách các môn ấy đọc năm 2027 có ở chuyên mục tử vi 2027.

Việc nên làm

  • Khi đọc sử gặp tên năm can chi, tìm thêm niên hiệu hoặc sự kiện đi kèm để chọn đúng vòng 60 năm.
  • Với sự kiện xảy ra quanh Tết, kiểm ngày âm dương bằng công cụ đổi lịch trước khi ghi năm dương lịch.
  • Khi gặp câu "năm X thì có Y", đếm thử: những năm X khác có Y không, và những năm có Y có phải đều là X không.
  • Giữ cách gọi tên năm như ký ức văn hoá; tách nó khỏi dự đoán.
🔄Đổi ngày âm – dương
Đổi qua lại âm lịch – dương lịch Việt Nam, kèm can chi.
Mở

Nguồn tham khảo

  • Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: cách ghi năm bằng can chi kèm niên hiệu (dẫn đại ý).
  • Can chi của mọi năm trong bài và ngày Tết Mậu Thân 1968 theo hai múi giờ tính bằng bộ lịch của aihuyenhoc.com.
  • Các sự kiện lịch sử, dịch bệnh, bão lụt trong bảng là những sự kiện phổ biến trong sách sử và báo chí; bài dùng chúng để minh hoạ cách đếm, không làm thống kê đầy đủ.

Câu hỏi thường gặp

Năm 1968 là năm gì?

Năm 1968 là năm Mậu Thân. Tết Mậu Thân ở miền Bắc là ngày 29/1/1968 theo lịch múi giờ +7, còn theo múi giờ +8 là ngày 30/1/1968.

Nạn đói năm Ất Dậu là năm nào?

Là năm 1945, năm Ất Dậu. Một vòng 60 năm trước đó, năm Ất Dậu 1885 là năm kinh thành Huế thất thủ.

Có phải cứ năm Canh Tý là có dịch?

Không. Câu này dựa trên danh sách 1720, 1820, 1920, 2020, nhưng chỉ 1720 và 2020 là Canh Tý; 1820 là Canh Thìn, 1920 là Canh Thân. Vòng can chi là 60 năm, không phải 100 năm.

Năm Thìn có nhiều bão lụt hơn không?

Không có chứng cứ. Vài trận lớn rơi vào năm Thìn được gọi theo tên năm nên dễ nhớ, trong khi nhiều trận lớn khác rơi vào năm Sửu, Tuất, Tỵ, Dậu. Đó là nhớ chọn lọc.

Đổi năm can chi trong sách sử sang năm dương lịch thế nào?

Cần biết vòng 60 năm (qua niên hiệu hoặc sự kiện đi kèm), rồi chú ý năm âm lịch bắt đầu từ Tết, nên các tháng cuối năm âm có thể đã sang năm dương lịch sau.

Nguồn tham khảo: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư — cách ghi năm bằng can chi kèm niên hiệu

"Canh" khác "giờ": năm canh của đêm, trống canh, và vì sao canh mùa đông dài hơn canh mùa hèNăm canh của đêm là gì, khác mười hai canh giờ ra sao: canh một đến canh năm, trống canh, mõ cầm canh, độ dài canh theo mùa ở Hà …
Át Phùng, Chiên Mông, Nhiếp Đề Cách: tên gọi cổ của can chi trong Nhĩ NhãTuế dương, tuế âm là tên cổ của mười can, mười hai chi trong Nhĩ Nhã: Át Phùng là Giáp, Nhiếp Đề Cách là Dần. Bảng hai bộ tên, cá…
Chu kỳ 60 ngày chưa từng đứt suốt hơn 2.700 năm: kiểm bằng tám lần nhật thực trong kinh Xuân ThuTám lần nhật thực kinh Xuân Thu ghi kèm can chi ngày, từ 720 đến 495 trước Công nguyên, tính ngược bằng số ngày Julius đều khớp: …
Mười hai địa chi: Tý, Sửu, Dần… nghĩa gốc, giờ, tháng, tiết khí, phương — bảng đầy đủBảng mười hai địa chi Tý Sửu Dần Mão…: âm dương, ngũ hành, con giáp, giờ, tháng âm, tiết khí mở tháng, phương, mùa và nghĩa gốc t…
Vòng Trường Sinh mười hai giai đoạn: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới… Tuyệt, Thai, DưỡngVòng Trường Sinh là mười hai giai đoạn của khí từ sinh đến tàn rồi thai dưỡng. Bảng mười can, tranh luận dương thuận âm nghịch, c…
Mười thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh… nghĩa gốc từng chữ, âm dương, ngũ hànhMười thiên can Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý: nghĩa gốc theo Sử Ký, Thuyết Văn, Hán Thư; bảng âm dương, ngũ hành, ph…