Vòng Trường Sinh mười hai giai đoạn: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới… Tuyệt, Thai, Dưỡng

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc

Vòng Trường Sinh mười hai giai đoạn: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới… Tuyệt, Thai, Dưỡng

Vòng Trường Sinh (Tử Vi Việt Nam gọi là vòng Tràng Sinh) là mười hai giai đoạn của một hành hay một can đi qua mười hai địa chi: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Nó ví đời của khí như đời người, từ lúc sinh, lớn, cực thịnh, suy, tàn, cất đi, rồi thụ thai trở lại. Mỗi môn đặt điểm khởi và chiều đi khác nhau.

Bài tứ sinh, tứ vượng, tứ mộ đã nói gốc ba chặng sinh, tráng, tử trong Hoài Nam Tử. Vòng mười hai giai đoạn là bản chia mịn của ba chặng ấy. Bài này đưa bảng đủ mười can, trình bày tranh luận lớn nhất của vòng này (âm can đi thuận hay nghịch), rồi chỉ ra vòng hiện ra thế nào trong Tử Vi và Bát Tự.

Mười hai giai đoạn, đọc như đời người

Thứ tựGiai đoạnVí nhưKhí ở mức
1Trường Sinhlọt lòngvừa sinh, còn non
2Mộc Dụctắm gội lúc mới sinhnon, dễ lay động; Bát Tự gọi là "bại địa", Tử Vi gắn với Đào Hoa
3Quan Đớiđội mũ, thắt đai (trưởng thành)lớn dần, bắt đầu có hình
4Lâm Quanra làm quanmạnh, tự đứng được; Bát Tự gọi là chỗ "Lộc" của can
5Đế Vượnglên ngôicực thịnh
6Suybắt đầu giàqua đỉnh
7Bệnhốmyếu đi
8Tửlặng hẳnkhí ngừng
9Mộvào mồ, vào khokhí được cất giữ
10Tuyệtdứt hẳnkhí cũ hết
11Thaithụ thaikhí mới nhen
12Dưỡngnuôi trong bụng mẹkhí mới được nuôi, chờ sinh

Ba chặng của Hoài Nam Tử (sinh, tráng, tử) tương ứng với Trường Sinh, Đế Vượng, Mộ của vòng này. Bốn giai đoạn cuối (Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng) cho thấy ý cốt lõi: vòng không dừng ở chỗ tàn. Ngay sau Tuyệt là Thai. Tên các giai đoạn nghe nặng nề (Bệnh, Tử, Mộ), nhưng đó là ẩn dụ về khí, không phải lời phán về sức khoẻ hay tuổi thọ của ai.

Bảng mười can theo phép "dương thuận, âm nghịch"

Phép phổ biến nhất trong Bát Tự (Tử Bình) cho mỗi can một vòng riêng: can dương đi thuận chiều địa chi, can âm đi nghịch. Bảng dưới tính theo phép ấy:

Giai đoạnGiápẤtBínhĐinhMậuKỷCanhTânNhâmQuý
Trường SinhHợiNgọDầnDậuDầnDậuTỵTýThânMão
Mộc DụcTýTỵMãoThânMãoThânNgọHợiDậuDần
Quan ĐớiSửuThìnThìnMùiThìnMùiMùiTuấtTuấtSửu
Lâm QuanDầnMãoTỵNgọTỵNgọThânDậuHợiTý
Đế VượngMãoDầnNgọTỵNgọTỵDậuThânTýHợi
SuyThìnSửuMùiThìnMùiThìnTuấtMùiSửuTuất
BệnhTỵTýThânMãoThânMãoHợiNgọDầnDậu
TửNgọHợiDậuDầnDậuDầnTýTỵMãoThân
MộMùiTuấtTuấtSửuTuấtSửuSửuThìnThìnMùi
TuyệtThânDậuHợiTýHợiTýDầnMãoTỵNgọ
ThaiDậuThânTýHợiTýHợiMãoDầnNgọTỵ
DưỡngTuấtMùiSửuTuấtSửuTuấtThìnSửuMùiThìn

Cách tự dựng bảng: nhớ năm điểm khởi của can dương (Giáp ở Hợi, Bính và Mậu ở Dần, Canh ở Tỵ, Nhâm ở Thân) và năm điểm khởi của can âm (Ất ở Ngọ, Đinh và Kỷ ở Dậu, Tân ở Tý, Quý ở Mão), rồi đếm thuận hoặc nghịch. Mậu đi theo Bính, Kỷ đi theo Đinh, tức Thổ theo Hỏa.

Có một quy luật đẹp trong bảng: chỗ Trường Sinh của can dương chính là chỗ Tử của can âm cùng hành, và ngược lại. Giáp sinh ở Hợi thì Ất "tử" ở Hợi; Ất sinh ở Ngọ thì Giáp "tử" ở Ngọ. Sách gọi là "dương sinh âm tử, âm sinh dương tử". Lý lẽ: âm và dương của một hành như hai nửa của một nhịp thở, bên này lên thì bên kia xuống.

Hàng Lâm Quan cũng đáng nhớ: đó là chỗ Lộc của mỗi can (Giáp lộc ở Dần, Ất lộc ở Mão, Bính và Mậu lộc ở Tỵ, Đinh và Kỷ lộc ở Ngọ, Canh lộc ở Thân, Tân lộc ở Dậu, Nhâm lộc ở Hợi, Quý lộc ở Tý). Sao Lộc Tồn trong Tử Vi an theo can năm sinh đúng vào các chi này; bộ máy lá số của site dùng đúng bảng ấy.

Tranh luận: âm can có vòng riêng không

Đây là tranh luận lâu đời nhất quanh vòng Trường Sinh.

Phái "dương thuận âm nghịch": theo Uyên Hải Tử Bình và Tam Mệnh Thông Hội, mười can mỗi can một vòng như bảng trên. Lý lẽ: âm và dương vận hành ngược chiều nhau; nếu Ất cũng sinh ở Hợi như Giáp thì âm dương thành một, mất ý nghĩa của việc chia âm dương.

Phái "âm dương đồng sinh đồng tử": chỉ dùng một vòng theo hành, Giáp và Ất cùng sinh ở Hợi, cùng vượng ở Mão, cùng mộ ở Mùi. Nhậm Thiết Tiều đời Thanh, trong lời bình Trích Thiên Tủy, phản đối vòng nghịch của âm can, đại ý: Ất Mộc mà sinh ở Ngọ, mùa hạ nóng khô, thì trái với lẽ thật của cây cỏ; âm dương của một hành nên cùng sống cùng tàn. Phái này dựa vào chỗ Hoài Nam Tử chỉ nói sinh, tráng, tử theo hành, không theo can.

Cả hai phái đều đồng ý về can dương. Khác nhau chỉ ở năm can âm. Hệ quả thực tế: một Bát Tự có nhật chủ Ất đứng trên chi Ngọ, theo phái thứ nhất là "Ất ngồi Trường Sinh", theo phái thứ hai là "Ất ngồi Tử địa". Hai lời đọc ngược nhau hẳn. Người học Bát Tự (xem cách lập tứ trụ) nên biết sách mình đang đọc theo phái nào, và đừng coi vị trí trên vòng Trường Sinh là yếu tố quyết định sức mạnh của nhật chủ; các sách hiện đại phần nhiều cân sức mạnh bằng nguyệt lệnh và căn (xem bài vượng tướng hưu tù tử).

Vòng Trường Sinh trong Tử Vi Việt Nam

Tử Vi dùng vòng này theo một lối khác hẳn Bát Tự:

  • Điểm khởi theo cục, không theo can. Lá số có một "hành cục" (Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hỏa lục cục). Vòng Tràng Sinh khởi ở: Thủy và Thổ tại Thân, Mộc tại Hợi, Kim tại Tỵ, Hỏa tại Dần. Thổ theo Thủy, không theo Hỏa như Bát Tự.
  • Chiều đi theo âm dương nam nữ. Dương nam, âm nữ đi thuận; âm nam, dương nữ đi nghịch. Chiều đi không do can quyết định mà do tuổi và giới tính của người có lá số.
  • Mười hai giai đoạn thành mười hai sao nhỏ đóng ở mười hai cung: cung nào có Tràng Sinh, Đế Vượng, Mộ… được đọc kèm các sao khác.

Bộ máy lá số của site an vòng Tràng Sinh đúng theo quy ước này. Vì vậy cùng một chữ "Đế Vượng", trong Tử Vi là một sao nhỏ đóng ở một cung tuỳ cục và tuổi, trong Bát Tự là quan hệ giữa một can với một chi. Đừng mang nghĩa của môn này sang môn kia.

Phong thủy phái Tam Hợp cũng có "mười hai trường sinh thủy pháp", đặt vòng này lên hai mươi bốn sơn hướng để xét nước đến nước đi. Đó là một ứng dụng chuyên sâu, chỉ nêu ở đây để bạn biết cùng tên gọi đi vào cả phong thủy.

Sách cổ nói gì

Văn bản cổ nhất cho ý tưởng của vòng là Hoài Nam Tử, Thiên Văn Huấn: mỗi hành "sinh", "tráng", "tử" ở ba chi, như đã dẫn nguyên văn ở bài tứ sinh tứ vượng tứ mộ. Vòng mười hai giai đoạn đầy đủ xuất hiện rõ trong các sách mệnh học từ đời Tống trở đi.

Uyên Hải Tử Bình, sách gốc của Tử Bình, có phần bàn mười can trường sinh, đại ý: can dương tụ khí mà tiến, nên thuận; can âm tán khí mà lùi, nên nghịch; dương sinh thì âm tử, âm sinh thì dương tử, xoay vòng không dứt.

Bình: lời giải "dương tiến, âm lùi" đẹp về mặt hệ thống, nhưng chính sự đẹp ấy là điều Nhậm Thiết Tiều nghi ngờ: ông muốn vòng khí phải khớp với cây cỏ thật ngoài đồng, không chỉ khớp với nhau trên giấy. Hai lập trường ấy, hệ thống và quan sát, chạy song song suốt lịch sử mệnh học.

Đọc cho đúng mức

Vòng Trường Sinh là thước đo phụ. Trong Bát Tự, nó cho biết một can đứng trên một chi thì "khí" ra sao, nhưng sức mạnh của nhật chủ còn tuỳ mùa sinh, căn, can chi xung quanh. Đọc một mình vòng Trường Sinh rồi kết luận là đọc thiếu.

Tên giai đoạn không phải lời phán. "Bệnh", "Tử", "Mộ", "Tuyệt" trên lá số không có nghĩa người ấy sẽ ốm hay gặp chuyện; chúng chỉ trạng thái của khí trong hệ thống ẩn dụ đời người.

Âm can có hai cách tính. Bảng trong bài theo phép dương thuận âm nghịch; nếu sách bạn đọc theo phép một vòng theo hành, năm cột can âm sẽ khác.

Tử Vi và Bát Tự khởi vòng khác nhau. Thổ khởi ở Thân trong Tử Vi phái Việt, ở Dần trong nhiều sách Bát Tự; chiều đi theo âm dương nam nữ trong Tử Vi, theo can trong Bát Tự.

Việc nên làm

  • Học thuộc năm điểm khởi của can dương và năm điểm khởi của can âm; từ đó tự đếm ra cả bảng.
  • Ghi nhớ hàng Lâm Quan như bảng "Lộc" của mười can, vì nó dùng ở rất nhiều nơi, kể cả sao Lộc Tồn.
  • Khi đọc Bát Tự của mình, xem nhật chủ đứng ở giai đoạn nào trên chi ngày, chi tháng, nhưng cân thêm nguyệt lệnh trước khi kết luận.
  • Lập lá số Tử Vi trên site, xem vòng Tràng Sinh đi thuận hay nghịch và khởi ở cung nào, đối chiếu với cục của mình.

Xem lá số tử vi của chính bạn

Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.

Lập lá số miễn phí

Nguồn tham khảo

  • Hoài Nam Tử, Thiên Văn Huấn: sinh, tráng, tử của năm hành (dẫn đại ý; nguyên văn ở bài tứ sinh tứ vượng tứ mộ).
  • Từ Đại Thăng, Uyên Hải Tử Bình: phần mười can trường sinh (dẫn đại ý).
  • Vạn Dân Anh, Tam Mệnh Thông Hội: phần mười hai cung trường sinh (dẫn đại ý).
  • Nhậm Thiết Tiều, Trích Thiên Tủy Xiển Vi: lời bàn về trường sinh của âm can (dẫn đại ý).
  • Bảng mười can tính bằng máy theo phép dương thuận âm nghịch; vòng Tràng Sinh Tử Vi và bảng Lộc Tồn theo bộ máy lá số của aihuyenhoc.com.

Câu hỏi thường gặp

Vòng Trường Sinh gồm những giai đoạn nào?

Mười hai giai đoạn: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Chúng ví đời của khí như đời người, từ sinh đến tàn rồi thụ thai trở lại.

Dương thuận âm nghịch là gì?

Là phép trong Bát Tự cho can dương đi vòng Trường Sinh thuận chiều địa chi, can âm đi nghịch. Theo phép này, Giáp sinh ở Hợi, còn Ất sinh ở Ngọ.

Vì sao có người cho Ất cũng sinh ở Hợi?

Vì phái "âm dương đồng sinh đồng tử" chỉ dùng một vòng theo hành, dựa vào Hoài Nam Tử nói sinh, tráng, tử theo hành. Nhậm Thiết Tiều đời Thanh là người phản đối vòng nghịch của âm can rõ nhất.

Vòng Tràng Sinh trong Tử Vi khởi ở đâu?

Theo cục của lá số: Thủy cục và Thổ cục khởi ở Thân, Mộc cục ở Hợi, Kim cục ở Tỵ, Hỏa cục ở Dần. Dương nam âm nữ đi thuận, âm nam dương nữ đi nghịch.

Gặp giai đoạn "Tử", "Tuyệt" trên lá số có đáng lo không?

Không. Đó là tên ẩn dụ chỉ trạng thái khí đã ngừng hoặc đã hết trong hệ thống mười hai giai đoạn, không phải lời báo về sức khoẻ hay tuổi thọ.

Nguồn tham khảo: Uyên Hải Tử Bình — Từ Đại Thăng — phần thập can trường sinh, dương sinh âm tử · Tam Mệnh Thông Hội — Vạn Dân Anh — phần luận thập nhị cung trường sinh · Trích Thiên Tủy Xiển Vi — Nhậm Thiết Tiều — lời bàn về trường sinh của âm can · Hoài Nam Tử — Thiên Văn Huấn — sinh, tráng, tử của năm hành

Thiên can có "xung" không: Giáp Canh, Ất Tân, Bính Nhâm, Đinh Quý và cách sách cổ gọi đúng tênThiên can có xung không: Tam Mệnh Thông Hội nói can thứ bảy là sát, chi thứ bảy mới là xung; Giáp Canh, Ất Tân, Bính Nhâm, Đinh Q…
Át Phùng, Chiên Mông, Nhiếp Đề Cách: tên gọi cổ của can chi trong Nhĩ NhãTuế dương, tuế âm là tên cổ của mười can, mười hai chi trong Nhĩ Nhã: Át Phùng là Giáp, Nhiếp Đề Cách là Dần. Bảng hai bộ tên, cá…
Canh Tý, Mậu Thân, Ất Dậu: đọc lịch sử Việt qua tên năm can chiNăm can chi trong lịch sử Việt: Mậu Thân 1968, Ất Dậu 1945, Đinh Mùi 1427… Bảng sự kiện, cách đổi năm và phép đếm cho thấy câu nă…
Mười hai canh giờ: giờ Tý là mấy giờ, đổi giờ cổ sang giờ hiện đại cho đúng nơi, đúng mùaBảng 12 canh giờ đổi ra giờ đồng hồ: giờ Tý 23–1 giờ, giờ sơ, giờ chính, khắc, tên gọi cổ; cách chỉnh theo kinh độ từng tỉnh và t…
"Canh" khác "giờ": năm canh của đêm, trống canh, và vì sao canh mùa đông dài hơn canh mùa hèNăm canh của đêm là gì, khác mười hai canh giờ ra sao: canh một đến canh năm, trống canh, mõ cầm canh, độ dài canh theo mùa ở Hà …
Tính can chi bằng bàn tay: mẹo đốt ngón của thầy xưa và cách kiểm lại bằng máyTính can chi bằng tay: đặt mười hai chi lên đốt ngón, mười can lên mười ngón rồi đếm. Ba ví dụ năm, ngày, giờ, đối chiếu lịch của…