Bành Tổ bách kỵ: "Giáp bất khai thương, Ất bất tài thực…" đủ 22 câu, dịch nghĩa và câu nào triều đình còn giữ
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc
Bành Tổ bách kỵ là bài khẩu quyết hai mươi hai câu, mỗi câu dặn một việc không nên làm vào ngày mang một can (mười câu) hoặc một chi (mười hai câu), như "Giáp bất khai thương" (ngày Giáp không mở kho), "Hợi bất giá thú" (ngày Hợi không cưới gả). Mỗi ngày ứng với hai câu: một của can, một của chi.
🗓️Xem ngày tốt xấuMột ngày bất kỳ: hoàng đạo, trực, nhị thập bát tú, giờ tốt, việc nên tránh.✨ Dùng thử
Cách dùng: mỗi ngày hai câu
Mọi ngày trong lịch đều có một can và một chi. Muốn biết ngày ấy "Bành Tổ kỵ gì", lấy câu của can ghép với câu của chi. Ví dụ:
- Ngày Tết Đinh Mùi, 6/2/2027, là ngày Bính Thìn: "Bính bất tu táo" (không sửa bếp) và "Thìn bất khốc khấp" (không khóc lóc). Hai lời dặn rất hợp với ngày đầu năm.
- Ngày Giáp Tý: "Giáp bất khai thương" và "Tý bất vấn bốc" (không hỏi bói). Mỗi năm ngày Giáp Tý đến sáu lần.
Các lịch vạn sự in đúng hai câu này ở ô ngày, thường không kèm lời dịch. Bảng dưới để tra cả hai mươi hai câu.
Bảng 22 câu: nguyên văn, phiên âm, nghĩa
Cột cuối ghi câu ấy có được Hiệp Kỷ Biện Phương Thư (sách chọn ngày do triều Càn Long sai biên soạn) đưa vào mục "Bách Kỵ Nhật" hay không, và sách diễn lại thế nào.
| Ngày | Nguyên văn | Phiên âm | Nghĩa | Hiệp Kỷ |
|---|---|---|---|---|
| Giáp | 甲不開倉,財物耗散 | Giáp bất khai thương, tài vật hao tán | Không mở kho, của cải hao tán | Giữ: kỵ mở kho, xuất tiền của |
| Ất | 乙不栽植,千株不長 | Ất bất tài thực, thiên chu bất trưởng | Không trồng cây, nghìn gốc không lớn | Giữ: kỵ trồng trọt |
| Bính | 丙不修灶,必見災殃 | Bính bất tu táo, tất kiến tai ương | Không sửa bếp, kẻo gặp tai ương | Không có |
| Đinh | 丁不剃頭,頭必生瘡 | Đinh bất thế đầu, đầu tất sinh sang | Không cạo đầu, đầu sinh mụn nhọt | Giữ: kỵ cạo tóc |
| Mậu | 戊不受田,田主不祥 | Mậu bất thụ điền, điền chủ bất tường | Không nhận ruộng, chủ ruộng không lành | Không có |
| Kỷ | 己不破券,二比並亡 | Kỷ bất phá khoán, nhị tỷ tịnh vong | Không huỷ khế ước, cả hai bên cùng thiệt | Không có |
| Canh | 庚不經絡,織機虛張 | Canh bất kinh lạc, chức cơ hư trương | Không mắc sợi dệt, khung cửi căng suông | Giữ: kỵ mắc sợi dệt |
| Tân | 辛不合醬,主人不嘗 | Tân bất hợp tương, chủ nhân bất thường | Không làm tương, chủ nhà không được nếm | Giữ: kỵ ủ rượu, làm tương |
| Nhâm | 壬不泱水,更難提防 | Nhâm bất ương thuỷ, cánh nan đề phòng | Không tháo nước, khó mà phòng giữ | Giữ: kỵ khơi mương |
| Quý | 癸不詞訟,理弱敵強 | Quý bất từ tụng, lý nhược địch cường | Không kiện tụng, lý mình yếu, đối phương mạnh | Không có |
| Tý | 子不問卜,自惹禍殃 | Tý bất vấn bốc, tự nhạ hoạ ương | Không hỏi bói, tự rước điều không hay | Không có |
| Sửu | 丑不冠帶,主不還鄉 | Sửu bất quan đới, chủ bất hoàn hương | Không làm lễ đội mũ thắt đai, người ấy không về quê | Giữ: kỵ lễ đội mũ |
| Dần | 寅不祭祀,神鬼不嘗 | Dần bất tế tự, thần quỷ bất thường | Không cúng tế, thần linh không hưởng | Giữ: kỵ tế tự |
| Mão | 卯不穿井,水泉不香 | Mão bất xuyên tỉnh, thuỷ tuyền bất hương | Không đào giếng, nước giếng không ngọt | Giữ: kỵ đào giếng |
| Thìn | 辰不哭泣,必主重喪 | Thìn bất khốc khấp, tất chủ trùng tang | Không khóc lóc, kẻo tang chồng tang | Không có |
| Tỵ | 巳不遠行,財物伏藏 | Tỵ bất viễn hành, tài vật phục tàng | Không đi xa, của cải bị giấu mất | Giữ: kỵ xuất hành |
| Ngọ | 午不苫蓋,屋主更張 | Ngọ bất thiêm cái, ốc chủ canh trương | Không lợp mái, nhà sẽ đổi chủ | Giữ: kỵ lợp mái |
| Mùi | 未不服藥,毒氣入腸 | Mùi bất phục dược, độc khí nhập trường | Không uống thuốc, độc khí vào ruột | Giữ, sửa thành: kỵ "cầu y liệu bệnh" |
| Thân | 申不安床,鬼祟入房 | Thân bất an sàng, quỷ tuý nhập phòng | Không kê giường, ma quấy vào buồng | Giữ: kỵ kê giường |
| Dậu | 酉不會客,醉坐顛狂 | Dậu bất hội khách, tuý toạ điên cuồng | Không tiếp khách, say rồi làm càn | Giữ: kỵ yến tiệc |
| Tuất | 戌不吃犬,作怪上床 | Tuất bất cật khuyển, tác quái thượng sàng | Không ăn thịt chó, kẻo sinh chuyện lạ | Không có |
| Hợi | 亥不嫁娶,不利新郎 | Hợi bất giá thú, bất lợi tân lang | Không cưới gả, bất lợi cho chú rể | Giữ: kỵ cưới gả |
Câu Nhâm có dị bản "Nhâm bất cấp thuỷ" (không múc nước); Hiệp Kỷ hiểu là khơi mương dẫn nước. Câu Canh "kinh lạc" ở đây là mắc sợi dọc lên khung cửi, không phải kinh lạc trong y học, vế sau "khung cửi căng suông" cho thấy rõ. Câu Đinh gặp lệ cạo tóc trẻ nhỏ của Ngọc Hạp bản Việt, xem bài xem ngày cắt tóc.
Mười lăm câu triều đình giữ, bảy câu bỏ
Đây là phần ít trang viết nhắc. Hiệp Kỷ Biện Phương Thư có mục "Bách Kỵ Nhật" (ngày trăm kỵ) trong quyển Nghi Kỵ, chép lại khẩu quyết dưới dạng gọn: "ngày Giáp kỵ mở kho xuất của, ngày Ất kỵ trồng trọt, ngày Đinh kỵ cạo tóc…". Đếm lại thì sách giữ mười lăm câu: sáu câu can (Giáp, Ất, Đinh, Canh, Tân, Nhâm) và chín câu chi (Sửu, Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Hợi).
Bảy câu không có mặt: Bính (sửa bếp), Mậu (nhận ruộng), Kỷ (huỷ khế ước), Quý (kiện tụng), Tý (hỏi bói), Thìn (khóc lóc), Tuất (ăn thịt chó). Sách không nói lý do. Ba câu sau dễ hiểu: khóc lóc, ăn uống, hỏi bói không phải những "việc" mà sách lịch ghi nên hay kỵ. Bốn câu đầu thì chúng tôi chưa tìm ra lời giải, nên chỉ ghi lại như một sự kiện của văn bản.
Mười lăm câu được giữ không nằm chơi. Phần "Phô Chú Điều Lệ", tức quy tắc in lịch của triều đình, dùng chúng thật: ngày Mão kỵ đào giếng thì cũng không ghi "nên khơi mương"; ngày Nhâm kỵ khơi mương thì không ghi "nên đào giếng"; ngày Tỵ kỵ đi xa thì không ghi "nên xuất quân, sai sứ"; ngày Dậu kỵ yến tiệc thì không ghi "nên khao thưởng"; ngày Đinh kỵ cạo tóc thì không ghi "nên sửa dung nhan". Riêng câu Hợi còn được ghi lần nữa ở mục cưới gả: ngày Hợi nằm trong danh sách kỵ cưới.
Nói gọn: một nửa bài khẩu quyết dân gian này đã đi vào lịch chính thức, và ngày Hợi kỵ cưới là lệ có cả hai nguồn chống lưng. Bài ngày Bất Tương cho thấy lệ này còn để lại dấu vết trên bảng ngày cưới của lịch Việt.
Bành Tổ là ai, bài khẩu quyết có từ bao giờ
Bành Tổ là nhân vật truyền thuyết nổi tiếng sống rất thọ, được Đạo gia nhận làm bậc tiền bối về dưỡng sinh. Việc gắn tên ông vào bài khẩu quyết là theo truyền thống, giống cách nhiều lệ khác mượn tên người xưa cho có trọng lượng (bài Dương Công kỵ nhật là một ví dụ). Văn bản đầy đủ hai mươi hai câu mà chúng ta đọc hôm nay chủ yếu thấy trong thông thư, hoàng lịch từ đời Minh, Thanh trở về sau; chúng tôi chưa xác định được bản sớm nhất.
Điều có thể nói từ chính văn bản: bài được soạn rất đều, mỗi câu tám chữ chia hai vế, vế đầu là lời cấm, vế sau là hậu quả, vần cuối câu đều (thương, trưởng, ương, sang, tường…) để dễ thuộc. Đó là dáng của một bài khẩu quyết để nhớ, không phải một luận thuyết có lý giải.
Sách cổ nói gì
凡療病針灸,卒然有疾,豈待擇吉而後求醫。然先賢必用擇日,欲人之不輕服藥也。
Phiên âm: Phàm liệu bệnh châm cứu, thốt nhiên hữu tật, khởi đãi trạch cát nhi hậu cầu y. Nhiên tiên hiền tất dụng trạch nhật, dục nhân chi bất khinh phục dược dã.
Dịch: Phàm chữa bệnh, châm cứu, bỗng nhiên có bệnh thì há lại đợi chọn ngày tốt rồi mới tìm thầy thuốc. Người xưa sở dĩ vẫn chọn ngày là muốn người ta đừng uống thuốc một cách khinh suất. — Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, quyển 35 Dụng Sự
Bình: câu này là lời giải đúng nhất cho câu "Mùi bất phục dược". Ngay các nhà lịch pháp triều Thanh cũng không đọc nó thành lệnh ngừng thuốc: họ sửa chữ "uống thuốc" thành "cầu y liệu bệnh" (đi tìm thầy chữa một bệnh mới, không gấp), và dặn rõ bệnh đến bất ngờ thì không chọn ngày. Người đang dùng thuốc theo chỉ định thì vẫn dùng đều, ngày Mùi cũng vậy; có triệu chứng bất thường thì đi khám ngay, không chờ ngày.
Đọc cho đúng mức
- Bành Tổ bách kỵ là khẩu quyết dân gian, gắn tên một nhân vật truyền thuyết; mười lăm câu của nó được sách chọn ngày triều Thanh dùng, bảy câu thì không.
- Vế hậu quả ("của cải hao tán", "nhà đổi chủ"…) là lối nói để dễ nhớ, không phải lời dự báo. Không có ghi chép nào cho thấy làm việc ấy vào ngày ấy gây ra hậu quả ấy.
- Câu Tý "không hỏi bói" thú vị với một trang huyền học: công cụ gieo quẻ của chúng tôi không chặn ngày Tý (bài chọn giờ gieo quẻ bàn chuyện thời điểm hỏi), vì câu này không có trong Hiệp Kỷ và vì người hỏi một việc thường không chọn được lúc lòng mình băn khoăn.
- Câu về sức khoẻ, nhất là câu Mùi, không bao giờ là lý do bỏ thuốc hay hoãn đi khám.
Việc nên làm
- Xem ngày cho một việc cụ thể (cưới, đào giếng, lợp mái…), tra đúng câu của can và chi ngày ấy; nếu trùng, đổi một hai ngày là dễ nhất.
- Ưu tiên mười lăm câu mà Hiệp Kỷ giữ khi phải cân với các lệ khác; bảy câu còn lại coi là phong tục.
- Ngày Hợi tránh cưới là lệ có cả khẩu quyết lẫn sách lịch triều đình; nhà nào kỹ thì nên theo.
- Việc liên quan sức khoẻ: làm theo thầy thuốc, không theo ngày.
Nguồn tham khảo
- Bành Tổ bách kỵ — khẩu quyết 22 câu theo bản lưu hành trong thông thư, hoàng lịch (nguyên văn; câu Nhâm có dị bản).
- Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, bản Tứ Khố Toàn Thư — quyển 10 Nghi Kỵ, mục Bách Kỵ Nhật và Phô Chú Điều Lệ; quyển 11, mục cưới gả; quyển 35 Dụng Sự, mục chữa bệnh (nguyên văn, đối chiếu bản số hoá trên Wikisource tiếng Hán).
Câu hỏi thường gặp
Bành Tổ bách kỵ là gì?
Là bài khẩu quyết hai mươi hai câu dặn việc nên tránh theo can và chi của ngày, mười câu cho mười can, mười hai câu cho mười hai chi. Mỗi ngày ứng với hai câu.
"Giáp bất khai thương" nghĩa là gì?
Ngày Giáp không mở kho, vế sau "tài vật hao tán" là của cải hao tán. Hiệp Kỷ Biện Phương Thư giữ câu này dưới dạng "ngày Giáp kỵ mở kho, xuất tiền của".
Ngày Hợi có nên cưới không?
Bành Tổ bách kỵ có câu "Hợi bất giá thú", và Hiệp Kỷ Biện Phương Thư cũng ghi ngày Hợi trong danh sách kỵ cưới gả. Đây là một trong số ít lệ kiêng có cả hai nguồn, nên nhiều nhà tránh.
Ngày Mùi có được uống thuốc không?
Có. Câu "Mùi bất phục dược" là khẩu quyết xưa; chính sách lịch triều Thanh đã sửa thành kỵ "cầu y liệu bệnh" và dặn bệnh bất ngờ thì không chọn ngày. Thuốc đang dùng theo chỉ định thì vẫn dùng đều.
Bài Bành Tổ bách kỵ có phải do Bành Tổ viết?
Đó là truyền thuyết. Văn bản hai mươi hai câu hiện còn chủ yếu thấy trong thông thư, hoàng lịch đời Minh, Thanh trở về sau.
Nguồn tham khảo: Bành Tổ bách kỵ — khẩu quyết lưu hành trong thông thư, hoàng lịch · Hiệp Kỷ Biện Phương Thư (Khâm định, bản Tứ Khố) — quyển 10 Nghi Kỵ, mục Bách Kỵ Nhật và Phô Chú Điều Lệ · Hiệp Kỷ Biện Phương Thư — quyển 11 (mục cưới gả), quyển 35 Dụng Sự (mục chữa bệnh)