Giờ sinh tính theo đồng hồ hay mặt trời: múi giờ Việt Nam từng đổi và người sinh ở nước ngoài
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 22/10/2026 · 11 phút đọc
Giờ sinh trong tử vi là giờ theo mặt trời ở nơi sinh, không phải giờ hành chính. Ở Việt Nam ngày nay giờ đồng hồ (+7) chỉ lệch giờ mặt trời vài chục phút. Nhưng miền Nam dùng +8 từ 1960 đến 13/6/1975, cả nước từng dùng +8 và +9 trong chiến tranh; người sinh khi ấy cần trừ một, hai tiếng trước khi lập lá số.
Hai câu hỏi khác nhau thường bị gộp làm một
Khi nói "múi giờ" trong tử vi, có hai chuyện tách biệt:
- Múi giờ của đồng hồ lúc bạn sinh. Nó quyết định giờ ghi trên giấy có đúng với vị trí mặt trời không, tức là có đúng chi giờ không. Sai ở đây thì cung Mệnh, cung Thân sai.
- Múi giờ dùng để tính âm lịch. Âm lịch bắt đầu tháng ở ngày có điểm sóc (trăng mới); điểm sóc rơi vào ngày nào tuỳ múi giờ người làm lịch chọn. Sai ở đây thì ngày âm, có khi cả tháng, cả năm âm sai.
Bài này đi lần lượt cả hai. Phần lớn trang mạng chỉ nói một trong hai, hoặc nói lẫn.
Giờ tử vi là giờ mặt trời
Mười hai giờ âm chia một ngày theo mặt trời: giờ Ngọ là khi mặt trời lên cao nhất, giờ Tý là nửa đêm. Thời các sách tử vi ra đời, giờ đo bằng bóng nhật quỹ và khắc lậu của từng nơi, nên "giờ sinh" trong sách mặc nhiên là giờ mặt trời địa phương.
Giờ đồng hồ thì là quy ước hành chính. Việt Nam dùng +7, tức giờ mặt trời trung bình ở kinh tuyến 105° Đông. Mỗi độ kinh lệch đi bốn phút:
| Nơi | Kinh độ (xấp xỉ) | Giờ mặt trời trung bình so với +7 |
|---|---|---|
| Điện Biên Phủ | 103°01' | chậm khoảng 8 phút |
| Cà Mau | 105°09' | nhanh khoảng 1 phút |
| Hà Nội | 105°51' | nhanh khoảng 3 phút |
| Thành phố Hồ Chí Minh | 106°42' | nhanh khoảng 7 phút |
| Huế | 107°35' | nhanh khoảng 10 phút |
| Mũi Đôi, Khánh Hoà | 109°27' | nhanh khoảng 18 phút |
Cộng thêm phương trình thời gian (mặt trời thật đi nhanh chậm trong năm, lệch tối đa khoảng 14 phút về một phía và 16 phút về phía kia), chênh lệch giữa giờ +7 và giờ mặt trời thật ở Việt Nam phần lớn dưới 25 phút; cực điểm khoảng 35 phút, ở cực Đông vào đầu tháng Mười Một. Hệ quả: với người sinh từ 13/6/1975, giờ ghi trên giấy gần như luôn ra đúng chi giờ, trừ khi sinh sát ranh giới giữa hai giờ âm (trong vòng nửa tiếng quanh các mốc 1, 3, 5, ... 23 giờ).
Lịch sử múi giờ Việt Nam: các mốc đã kiểm
Bảng dưới lấy từ cơ sở dữ liệu múi giờ quốc tế IANA (bản 2026e, vùng Asia/Ho_Chi_Minh và vùng lưu trữ Asia/Hanoi). Ghi chú trong cơ sở dữ liệu này dẫn sách Lịch Việt Nam: thế kỷ XX – XXI của Trần Tiến Bình (2005) và các số Công Báo tương ứng. Chúng tôi không ghi theo trí nhớ.
| Từ | Đến | Giờ chính thức | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 1/7/1906 | 30/4/1911 | +7 giờ 06 phút 30 giây | giờ đài thiên văn Phù Liễn (Kiến An), áp cho cả Đông Dương |
| 1/5/1911 | 31/12/1942, 23 giờ | +7 | |
| 31/12/1942, 23 giờ | 14/3/1945, 23 giờ | +8 | thời quân Nhật có mặt ở Đông Dương |
| 14/3/1945, 23 giờ | hết ngày 1/9/1945 | +9 | |
| 2/9/1945 | 31/3/1947 | +7 | Việt Nam Dân Quốc Công Báo số 1: lùi hai giờ |
| 1/4/1947 | miền Bắc: tháng 10/1954 · miền Nam: 1/7/1955 | +8 | vùng do Pháp kiểm soát |
| miền Bắc: tháng 10/1954 | nay | +7 | |
| miền Nam: 1/7/1955, 1 giờ | 31/12/1959, 23 giờ | +7 | Dụ số 46 ngày 25/6/1955 |
| miền Nam: 31/12/1959, 23 giờ | 13/6/1975 | +8 | Sắc lệnh 362-TTP ngày 30/12/1959 |
| 13/6/1975 | nay | +7 | thống nhất cả nước |
Những chỗ chưa chắc, chúng tôi ghi rõ:
- Giai đoạn 1947 – 1954, giờ +8 là giờ của vùng do chính quyền Pháp kiểm soát. Các vùng kháng chiến có theo hay giữ +7 không, chúng tôi chưa tìm được văn bản. Người sinh ở vùng kháng chiến thời này nên hỏi lại gia đình giờ được tính theo đồng hồ nào.
- Mốc miền Bắc trở về +7 năm 1954 chỉ biết là tháng 10, không rõ ngày giờ.
- Đầu những năm 1970, ở miền Nam có thể có nơi đổi giờ cục bộ khi vùng kiểm soát thay đổi; cơ sở dữ liệu quốc tế ghi nhận là không rõ chi tiết.
- Giờ +9 năm 1945 có thể đã áp dụng thực tế trước khi có quyết định ngày 29/3/1945; mốc 14/3 là mốc cơ sở dữ liệu dùng.
Quy giờ trên giấy về giờ lập lá số
Công cụ lập lá số của site dùng nguyên giờ bạn nhập, không tự trừ múi. Vì vậy, nếu giờ trên giấy thuộc một giai đoạn khác +7, bạn tự quy đổi trước:
- Giai đoạn +8: trừ 1 giờ.
- Giai đoạn +9 (tháng 3 – 9/1945): trừ 2 giờ.
- Giai đoạn +7 giờ 06 phút (1906 – 1911): gần như không cần đổi.
Ví dụ thật. Một người nam sinh ở Sài Gòn ngày 18/9/1971, giấy khai sinh ghi 13 giờ 20. Năm 1971 miền Nam dùng +8, nên giờ +7 tương ứng là 12 giờ 20, giờ mặt trời ở Sài Gòn khoảng 12 giờ 27, cộng phương trình thời gian giữa tháng Chín chừng 12 giờ 33. Dù tính kiểu nào cũng là giờ Ngọ, không phải giờ Mùi như giờ trên giấy gợi ra.
| Nhập vào công cụ | Chi giờ | Mệnh tại | Cục | Tử Vi tại |
|---|---|---|---|---|
| 13 giờ (giờ giấy, chưa đổi) | Mùi | Sửu | Thổ ngũ cục | Ngọ |
| 12 giờ (đã trừ 1 giờ) | Ngọ | Dần | Mộc tam cục | Tuất |
Hai lá số khác nhau từ cung Mệnh tới cục tới cả bàn chính tinh. Với người sinh ở miền Nam những năm 1960 – 1975, đây là nguồn sai số lớn nhất, lớn hơn mọi chuyện khác phái.
Nên trừ thêm phần lệch kinh độ và phương trình thời gian không? Phần đông người xem tử vi ở Việt Nam dùng giờ đồng hồ (có người quy đổi múi, có người không); một số phần mềm Đài Loan hiện nay chỉnh tới "giờ mặt trời thật". Phần chỉnh này ở Việt Nam chỉ vài chục phút, nên chỉ đáng bận tâm khi bạn sinh trong vòng nửa tiếng quanh ranh giới giờ âm. Khi đó, lập cả hai lá số.
Múi giờ của lịch: vì sao ngày âm năm 1968 – 1975 có hai đáp án
Chuyện thứ hai là múi giờ dùng để tính âm lịch. Trước năm 1968, âm lịch Việt Nam tính theo kinh tuyến 120° Đông (+8), trùng lịch Trung Quốc. Từ năm 1968, lịch miền Bắc chuyển sang +7. Lịch miền Nam vẫn tính theo +8 cho tới 1975.
Bộ máy của site đã kiểm lại cả hai cách tính, ngày nào cũng tính, từ 1/1/1968 đến 31/12/1975: có 120 ngày trong 2.922 ngày hai lịch cho ngày âm khác nhau, gồm bốn đợt, mỗi đợt một tháng âm:
| Khoảng dương lịch | Lịch +7 (miền Bắc) so với lịch +8 (miền Nam) |
|---|---|
| 29/1 – 27/2/1968 | Tết Mậu Thân miền Bắc là 29/1, miền Nam là 30/1. Ngày 29/1/1968 miền Bắc đã là năm Mậu Thân, miền Nam còn là 30 tháng Chạp Đinh Mùi |
| 16/2 – 17/3/1969 | Tết Kỷ Dậu miền Bắc 16/2, miền Nam 17/2 |
| 13/12/1974 – 11/1/1975 | lệch một ngày trong cả tháng Mười Một âm |
| 11/4 – 10/5/1975 | lệch một ngày trong cả tháng Ba âm |
Bộ máy mặc định theo lịch miền Bắc từ 1968 (hàm múi giờ lịch trả +8 cho năm trước 1968, +7 từ 1968). Người sinh ở miền Nam rơi đúng bốn khoảng trên sẽ thấy ngày âm trên công cụ lệch một ngày so với ngày âm gia đình ghi; người sinh 29/1/1968 ở miền Nam còn lệch cả năm can chi. Trong trường hợp đó, gia đình đã ghi theo lịch nào là thông tin cần hỏi lại, và nên nhập dương lịch để tránh nhầm. Các nguồn lệch khác giữa các trang (tháng nhuận, phái an sao) ở bài mỗi trang một lá số khác.
Người sinh trước 1968 ở bất cứ miền nào: ngày âm ghi trong gia đình là theo lịch +8. Trang nào tính âm lịch cho năm 1930 – 1967 bằng +7 thì sai khoảng 4% số ngày (bộ máy đếm được 539 ngày lệch trong giai đoạn đó), ví dụ Tết Ất Tỵ 1965 là 2/2 theo lịch thời ấy, tính bằng +7 sẽ ra 1/2.
Sinh ở nước ngoài thì nhập thế nào
Giữ đúng tinh thần "giờ mặt trời nơi sinh":
- Lấy ngày và giờ địa phương nơi sinh, đúng như giấy khai sinh nước sở tại ghi. Không đổi sang giờ Việt Nam.
- Trừ giờ mùa hè nếu lúc sinh đang áp dụng. Phần lớn nước Mỹ, Canada, châu Âu và một số bang của Úc có giờ mùa hè; giờ trên giấy khi đó nhanh hơn giờ chuẩn một tiếng.
- Nếu sinh sát ranh giới giờ âm, xét thêm độ lệch giữa kinh độ nơi sinh và kinh tuyến chuẩn của múi giờ nước đó (ở nước rộng như Mỹ có nơi lệch gần một tiếng; Trung Quốc dùng một múi cho cả nước nên miền tây lệch hơn hai tiếng).
- Nhập ngày dương và giờ đã chỉnh vào công cụ; công cụ đổi ngày đó sang âm lịch Việt Nam.
Có một trường phái khác đổi giờ sinh ở nước ngoài sang giờ Việt Nam rồi mới lập lá số. Cách này làm người sinh lúc 8 giờ sáng ở California thành sinh lúc 22 giờ hoặc 23 giờ tại Việt Nam, tức là đổi sáng thành đêm, trái với ý nghĩa mặt trời của mười hai giờ âm. Chúng tôi không theo cách ấy. Riêng chuyện ngày âm của người sinh ở xa thì các phái chưa thống nhất: ngày sát điểm sóc có thể lệch một ngày tuỳ lấy lịch theo múi nào. Gặp ca này nên lập hai lá số để so.
Sách cổ nói gì
Sách cổ không bàn múi giờ, vì khái niệm múi giờ chỉ có từ cuối thế kỷ XIX. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, trong các quyết an Mệnh, chỉ nói đại ý: lấy tháng sinh định ô khởi, rồi theo giờ sinh mà đếm ra cung Mệnh và cung Thân. "Giờ" ở đây là mười hai chi của một ngày mặt trời.
Bình: người xưa không cần phân biệt giờ hành chính với giờ mặt trời, vì khi ấy chúng là một. Người hôm nay thì phải tự phân biệt. Đọc đúng tinh thần sách cổ là đi tìm vị trí mặt trời lúc sinh, chứ không phải chép nguyên con số trên một tờ giấy mà con số đó tuân theo một quyết định hành chính đã bị bãi bỏ.
Đọc cho đúng mức
- Không phải ai cũng cần quy đổi. Sinh từ 13/6/1975 trở đi ở Việt Nam, và không sát ranh giới giờ âm, thì giờ trên giấy dùng được ngay. Riêng người sinh từ 23 giờ đến nửa đêm còn một câu hỏi khác, xem bài giờ Tý đêm, giờ Tý sớm.
- Giờ trên giấy có thể đã tròn số. Một giờ ghi "13 giờ 00" có khi là ước lượng. Quy đổi múi giờ không sửa được sai số do ghi tròn.
- Trường phái khác nhau về giờ mặt trời thật. Phái dùng giờ đồng hồ quy về +7 và phái chỉnh tới giờ mặt trời thật đều có người theo; lệch nhau chỉ ở các ca sát ranh giới.
- Các mốc lịch sử có chỗ chưa rõ, đã ghi ở trên. Gia đình có giấy tờ hay ký ức cụ thể thì tin vào đó hơn bảng chung.
Việc nên làm
- Xác định bạn sinh ở đâu, năm nào, và đối chiếu với bảng mốc giờ ở trên.
- Nếu rơi vào giai đoạn +8 hoặc +9, trừ đi tương ứng một hoặc hai giờ trước khi nhập.
- Nếu sinh ở miền Nam trong bốn khoảng ngày 1968 – 1975 kể trên, nhập dương lịch và hỏi lại gia đình ngày âm đã ghi theo lịch nào.
- Nếu sinh ở nước ngoài, dùng giờ địa phương nơi sinh, trừ giờ mùa hè.
- Sinh sát ranh giới giờ âm thì lập hai lá số, đọc phần chung trước. Bài không biết giờ sinh có cách chọn giữa các ứng viên.
- Giấy tờ không ghi giờ và người nhà không ai nhớ thì thử công cụ đoán giờ sinh; nhớ được buổi (sáng, chiều, tối) thì chọn luôn ở đầu công cụ để thu hẹp còn ba giờ.
Không biết giờ sinh? Máy dựng 12 lá số, hỏi 6–10 câu đời thực rồi gợi ý 2–3 giờ hợp nhất kèm lý do. Miễn phí.Mở
Xem lá số tử vi của chính bạn
Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.
Lập lá số miễn phíNguồn tham khảo
- Cơ sở dữ liệu múi giờ IANA, bản 2026e — vùng Asia/Ho_Chi_Minh và vùng lưu trữ Asia/Hanoi, cùng phần ghi chú dẫn nguồn
- Trần Tiến Bình — Lịch Việt Nam: thế kỷ XX – XXI (1901 – 2100), NXB Văn hoá – Thông tin, 2005 (theo trích dẫn trong ghi chú IANA)
- Việt Nam Dân Quốc Công Báo số 1 (29/9/1945); Công Báo Việt Nam số 92 (2/7/1955), Dụ số 46; Công Báo Việt Nam Cộng Hòa đầu năm 1960, Sắc lệnh 362-TTP (theo trích dẫn trong ghi chú IANA)
- Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — quyết an Mệnh theo giờ sinh (đại ý)
- Bộ máy âm lịch của aihuyenhoc.com (thuật toán Hồ Ngọc Đức), đếm ngày lệch giữa lịch +7 và +8 cho giai đoạn 1930 – 1975
Câu hỏi thường gặp
Sinh ở Sài Gòn năm 1970 thì giờ sinh có cần trừ không?
Có. Từ 31/12/1959 đến 13/6/1975 miền Nam dùng giờ +8, nhanh hơn giờ +7 một tiếng. Giờ trên giấy khai sinh cần trừ 1 giờ trước khi nhập vào công cụ lập lá số.
Sinh ở Hà Nội năm 1965 có cần đổi giờ không?
Không cần đổi giờ đồng hồ, vì miền Bắc dùng +7 từ tháng 10/1954. Nhưng ngày âm năm 1965 phải tính theo lịch +8 như lịch thời ấy; công cụ của site đã tự làm việc này.
Người sinh ở Mỹ có phải đổi giờ sinh sang giờ Việt Nam không?
Không. Giờ âm theo vị trí mặt trời ở nơi sinh, nên dùng giờ địa phương nơi sinh và trừ giờ mùa hè nếu có. Đổi sang giờ Việt Nam sẽ biến giờ sáng thành giờ đêm.
Có cần chỉnh theo kinh độ nơi sinh trong Việt Nam không?
Chỉ khi sinh trong khoảng nửa tiếng quanh ranh giới giờ âm. Chênh lệch do kinh độ ở Việt Nam từ khoảng 8 phút chậm (Điện Biên) đến 18 phút nhanh (cực Đông); cộng biến thiên trong năm thì phần lớn dưới 25 phút, cực điểm khoảng 35 phút.
Vì sao ngày âm lịch năm 1968 của tôi khác lịch gia đình ghi?
Từ 1968 lịch miền Bắc tính theo +7, miền Nam vẫn theo +8 tới 1975, nên có 120 ngày trong giai đoạn này hai lịch lệch nhau một ngày. Tết Mậu Thân miền Bắc là 29/1/1968, miền Nam là 30/1/1968.
Nguồn tham khảo: Cơ sở dữ liệu múi giờ IANA (tzdata 2026e) — vùng Asia/Ho_Chi_Minh và Asia/Hanoi, kèm ghi chú dẫn nguồn · Trần Tiến Bình — Lịch Việt Nam: thế kỷ XX – XXI (1901 – 2100), NXB Văn hoá – Thông tin, 2005 — phần giờ chính thức, theo trích dẫn trong ghi chú tzdata · Công Báo Việt Nam số 92 (2/7/1955), Dụ số 46 ngày 25/6/1955; Công Báo Việt Nam Cộng Hòa đầu năm 1960, Sắc lệnh 362-TTP ngày 30/12/1959 · Việt Nam Dân Quốc Công Báo số 1 (29/9/1945) · Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — quyết an Mệnh theo giờ sinh · Bộ máy âm lịch và Tử Vi của aihuyenhoc.com (thuật toán Hồ Ngọc Đức, hàm múi giờ lịch AmLich::muiGioVN)