Không biết giờ sinh thì xem tử vi thế nào: ba cách đoán giờ và giới hạn của từng cách

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 22/10/2026 · 9 phút đọc

Không biết giờ sinh thì xem tử vi thế nào: ba cách đoán giờ và giới hạn của từng cách

Không biết giờ sinh vẫn xem tử vi được, nhưng chỉ một phần. Các sao theo năm, theo tháng và vị trí Tứ Hoá trên chính tinh không đổi; còn cung Mệnh, cung Thân và cả bố cục chính tinh thì tuỳ giờ. Có ba cách đoán giờ: qua sự kiện đời, qua tướng và tính cách, qua anh chị em. Không cách nào cho kết quả chắc.

Giờ sinh quyết định những gì trên lá số

Quy tắc an Mệnh dùng tháng và giờ. Từ cung Mệnh mới có can chi cung Mệnh, từ đó mới ra cục, từ cục và ngày sinh mới ra vị trí sao Tử Vi, và từ Tử Vi mới đặt được mười ba chính tinh còn lại. Một chuỗi phụ thuộc như vậy nghĩa là sai giờ không chỉ dời cung Mệnh một ô: nó có thể làm đổi cục và kéo cả bàn chính tinh sang chỗ khác.

Để thấy rõ, đây là mười hai lá số của cùng một người nữ sinh ngày 12/6/1992 (12 tháng Năm Nhâm Thân), chỉ đổi giờ, lập bằng công cụ của site:

Giờ sinhMệnh tạiCụcTử Vi tạiChính tinh ở MệnhThân cư
TýNgọThuỷ nhịMùiThiên CơMệnh
SửuTỵHoả lụcMãoThiên TướngPhúc Đức
DầnThìnHoả lụcMãoCự Môn (hãm)Quan Lộc
MãoMãoKim tứThìnThiên Cơ, Cự MônThiên Di
ThìnDầnKim tứThìnTham LangTài Bạch
TỵSửuMộc tamTỵVũ Khúc, Tham LangPhu Thê
NgọTýMộc tamTỵThiên Đồng, Thái ÂmMệnh
MùiHợiKim tứThìnThiên ĐồngPhúc Đức
ThânTuấtKim tứThìnPhá QuânQuan Lộc
DậuDậuThổ ngũSửuVũ Khúc, Thất SátThiên Di
TuấtThânThổ ngũSửuThiên Đồng, Thiên LươngTài Bạch
HợiMùiThuỷ nhịMùiTử Vi, Phá QuânPhu Thê

Mười hai giờ cho mười hai tổ hợp sao ở cung Mệnh, không tổ hợp nào trùng nhau. Đây là lý do mọi sách đều coi giờ sinh là đầu vào hệ trọng nhất.

Một quan sát ít người nói: chỉ có tối đa năm kiểu bàn chính tinh

Nhìn cột "Tử Vi tại" trong bảng trên: mười hai giờ nhưng Tử Vi chỉ rơi vào năm vị trí (Mùi, Mão, Thìn, Tỵ, Sửu). Lý do nằm ở phép tính: cục chỉ có năm loại, và với một ngày sinh cố định, mỗi cục cho đúng một vị trí Tử Vi. Mười hai cung Mệnh có thể có nhưng chỉ sinh ra tối đa năm cục, vì hai cặp cung Dần Mão và Tuất Hợi luôn cùng hành nạp âm.

Hệ quả thực dụng:

  • Với một ngày sinh, mười bốn chính tinh chỉ có tối đa năm cách xếp trên địa bàn, dù giờ là gì. Ở ví dụ, giờ Mão, Thìn, Mùi, Thân cùng Kim tứ cục nên bàn chính tinh giống hệt nhau; chỉ có tên cung đặt lên các ô là trượt đi.
  • Khi đoán giờ, nên gom các giờ ứng viên theo cục trước. Nhóm giờ cùng cục có cùng các cặp sao, chỉ khác "sao nào rơi vào cung nào"; nhóm khác cục thì khác cả bàn.
  • Nếu biết chắc khoảng giờ (chẳng hạn "buổi sáng"), số ứng viên có khi giảm còn hai kiểu bàn.

Phần nào của lá số vẫn đọc được khi thiếu giờ

Dù giờ nào, các thứ sau không đổi trên địa bàn (vẫn lấy ví dụ trên):

NhómKhông đổiỞ ví dụ
Theo can nămLộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Khôi Việt, TriệtLộc Tồn Hợi, Kình Tý, Đà Tuất, Khôi Mão, Việt Tỵ, Triệt Dần Mão
Theo chi năm, tuần giápThiên Mã, vòng Thái Tuế, TuầnMã Dần, Thái Tuế Thân, Tuần Tuất Hợi
Theo thángTả Phù, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên DiêuTả Phù Thân, Hữu Bật Ngọ, Thiên Hình Sửu, Thiên Diêu Tỵ
Tứ Hoásao nào được HoáLương Lộc, Tử Quyền, Phủ Khoa, Vũ Kỵ

Cái thay đổi là các ô ấy mang tên cung gì. Lộc Tồn luôn ở Hợi, nhưng Hợi là Tài Bạch nếu sinh giờ Mão, là Mệnh nếu sinh giờ Mùi. Nói cách khác: khi thiếu giờ, bạn biết được "có những gì trên bàn" nhưng không biết "cái gì thuộc mảng đời nào". Phần đọc tính cách theo cung Mệnh, phần đọc hôn nhân theo Phu Thê, phần đọc vận mười năm đều phải có giờ.

Người muốn một phép đọc chỉ cần năm, tháng, ngày có thể xem Tam Trụ khi không có giờ sinh bên Bát Tự; ở đó mất trụ giờ thì mất một phần tư dữ liệu, không mất cả khung như tử vi.

Trước khi đoán: truy giờ thật

Đoán giờ bằng tử vi là việc vòng vo và kém tin cậy. Trước đó nên thử mọi cách lấy giờ thật:

  • Giấy chứng sinh của bệnh viện, sổ khám thai, hồ sơ sinh thường ghi giờ phút. Giấy khai sinh ở phường xã nhiều khi không ghi giờ hoặc ghi tròn.
  • Ký ức gắn với sự việc: "sinh lúc vừa tan chợ chiều", "lúc cả nhà đang ăn cơm tối", "lúc gà gáy". Những mốc như vậy thường thu hẹp được về hai giờ âm.
  • Người có mặt khi sinh: bà đỡ, cô dì, anh chị lớn. Hỏi riêng từng người rồi so; ký ức trùng nhau đáng tin hơn một người kể chắc.
  • Người sinh ở miền Nam trước tháng 6/1975, hoặc sinh ở nước ngoài, cần quy giờ ghi trên giấy về đúng múi. Xem bài giờ sinh và múi giờ Việt Nam.

Có được khoảng giờ hẹp thì lập lá số cho từng giờ trong khoảng đó rồi mới dùng các cách dưới để chọn.

Cách 1: đoán qua sự kiện đời

Đây là cách các thầy dùng nhiều nhất và có lý nhất. Cách làm:

  1. Ghi năm đến tám sự kiện lớn có năm rõ ràng: năm lập gia đình, năm sinh con đầu, năm cha hoặc mẹ qua đời, năm chuyển nghề hoặc ra làm riêng, năm ốm nặng hay phẫu thuật, năm chuyển nhà đi xa.
  2. Viết trước tiêu chí cho từng sự kiện: chẳng hạn năm kết hôn thì đại vận hoặc lưu niên nên động tới trục Phu Thê – Quan Lộc, có Hồng Loan, Thiên Hỷ, Hoá Lộc hoặc Hoá Khoa chiếu vào.
  3. Lập lá số cho từng giờ ứng viên, chấm từng sự kiện theo tiêu chí đã viết, đếm giờ nào khớp nhiều nhất.

Giới hạn: bước 2 là chỗ hỏng thường gặp. Lá số có hơn trăm sao, lại thêm sao lưu niên; muốn tìm lý do cho một sự kiện thì lá số nào cũng tìm ra. Nếu không viết tiêu chí trước, người đoán sẽ vô thức chọn giờ mình đã nghiêng về từ đầu. Thực tế thường còn lại hai, ba giờ ứng viên ngang nhau, nhất là khi các giờ cùng cục.

Cách 2: đoán qua tướng mạo và tính cách

Mỗi chính tinh ở Mệnh có một mô tả hình dáng và tính nết trong sách: Thất Sát dáng rắn, tính quyết; Thiên Đồng dáng tròn, tính hiền; Thiên Cơ người gầy, nghĩ nhiều. Người đoán so người thật với mười hai mô tả để chọn.

Giới hạn: đây là cách yếu nhất. Ở bảng trên, Thiên Đồng xuất hiện ở Mệnh trong ba giờ khác nhau, Thiên Cơ hai giờ, Vũ Khúc và Tham Lang mỗi sao hai giờ. Mô tả tính cách lại đủ rộng để ai cũng thấy mình trong vài mô tả. Cách này chỉ nên dùng để loại những ứng viên quá lệch, không dùng để chọn.

Cách 3: đoán qua anh chị em

Cung Huynh Đệ nằm ngay cạnh Mệnh, và sách cổ có lối đọc số anh chị em, người anh người em hợp hay khắc qua sao ở cung này. Đổi giờ thì cung Huynh Đệ đổi. Người đoán so số anh chị em thật, thứ bậc của mình trong nhà, mức thân sơ, với từng lá số ứng viên.

Giới hạn: số con trong một nhà ngày nay do kế hoạch hoá gia đình và hoàn cảnh quyết định nhiều hơn mọi thứ khác; lối đọc số lượng anh chị em hình thành trong thời gia đình đông con, khó áp nguyên. Phần dùng được là tính chất quan hệ (gắn bó, xa cách, có người anh chị đỡ đần), nhưng phần này cũng chủ quan. Nên coi là tiêu chí phụ cho Cách 1.

Sách cổ nói gì

Đại để dĩ thân mệnh vi phúc đức chi bản.

Đại để, lấy Thân và Mệnh làm gốc của phúc đức. — Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, Thái Vi Phú

Bình: Thái Vi Phú đặt Mệnh và Thân làm gốc của việc xem lá số. Mà theo quyết an Mệnh, đại ý là khởi tháng Giêng ở Dần, đếm tới tháng sinh rồi đếm theo giờ sinh, nghịch thì ra Mệnh, thuận thì ra Thân. Cả hai cái gốc ấy đều phụ thuộc giờ. Đọc hai chỗ cạnh nhau sẽ thấy: thiếu giờ không phải thiếu một chi tiết, mà là thiếu cái gốc mà chính sách cổ bảo phải đọc trước tiên. Ai xem lá số cho người không rõ giờ mà vẫn luận Mệnh như thường là đã đi ngược lời sách.

Đọc cho đúng mức

  • Xác suất đoán trúng khi không có manh mối nào là 1 trên 12, khoảng 8%. Biết được buổi (sáng, chiều, tối) thì còn khoảng 1 trên 3, 1 trên 4. Ba cách trên chỉ nâng được con số này lên ở mức không đo được; người hứa "định giờ chính xác" bằng tử vi là nói quá.
  • Giờ đoán ra là một giả thuyết, nên ghi rõ "giờ ước đoán" bên cạnh lá số để người đọc sau biết.
  • Phái khác cũng gặp đúng vấn đề này. Bát Tự thiếu giờ còn đọc được ba trụ; tử vi thiếu giờ mất cung Mệnh nên thiệt hơn. Đây là đặc điểm của hệ, không phải lỗi của người đoán.

Việc nên làm

  1. Truy giờ thật bằng giấy tờ và người thân trước; ghi lại nguồn của giờ đó.
  2. Thu hẹp về một khoảng, rồi lập lá số cho mỗi giờ âm trong khoảng ấy bằng công cụ lập lá số.
  3. Gom các lá số theo cục; đọc phần không đổi (sao theo năm, tháng, Tứ Hoá) trước.
  4. Nếu cần chọn, dùng Cách 1 với tiêu chí viết trước; Cách 2 và 3 chỉ để loại bớt.
  5. Khi đem lá số đi hỏi ai, nói rõ giờ là ước đoán và khoảng ứng viên là gì.

Muốn làm nhanh bước 3 và bước 4, công cụ đoán giờ sinh của site dựng sẵn mười hai lá số cho ngày sinh của bạn, rồi hỏi những câu mà các lá số trả lời khác nhau: Thân cư cung nào, nhóm chính tinh ở Mệnh, anh chị em, cha mẹ, năm có thay đổi lớn so với mốc đổi đại vận. Câu sau được chọn để tách tốt nhất những giờ còn ngang nhau. Kết quả là hai, ba giờ ứng viên kèm lý do, đúng tinh thần "thu hẹp rồi đọc tiếp" ở trên, không phải một giờ đã được xác nhận.

🕰️Đoán giờ sinh
Không biết giờ sinh? Máy dựng 12 lá số, hỏi 6–10 câu đời thực rồi gợi ý 2–3 giờ hợp nhất kèm lý do. Miễn phí.
Mở

Xem lá số tử vi của chính bạn

Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.

Lập lá số miễn phí

Nguồn tham khảo

  • Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — Thái Vi Phú; quyết an Mệnh Thân (đại ý)
  • Vân Đằng Thái Thứ Lang — Tử Vi Đẩu Số Tân Biên
  • Mười hai lá số cùng ngày 12/6/1992 (nữ) lập bằng bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com

Câu hỏi thường gặp

Không biết giờ sinh thì có lập được lá số tử vi không?

Lập được nếu chọn một giờ giả định, nhưng phần cung Mệnh, Thân và vị trí các cung sẽ không đáng tin. Phần đáng tin hơn là các sao theo năm, theo tháng và việc sao nào được Hoá.

Chỉ nhớ "khoảng 7 giờ sáng" thì nhập giờ nào?

7 giờ là ranh giới giữa giờ Mão và giờ Thìn. Nên lập cả hai lá số và đọc song song; nếu có ai nhớ "trước bữa sáng" hay "sau khi mặt trời lên cao" thì dùng chi tiết đó để chọn.

Đoán giờ sinh qua sự kiện đời có chính xác không?

Đây là cách có lý nhất trong ba cách, nhưng vẫn hay còn lại hai, ba giờ ngang nhau. Muốn bớt thiên kiến thì phải viết tiêu chí cho từng sự kiện trước khi xem lá số.

Sai giờ sinh một canh thì lá số sai đến đâu?

Cung Mệnh và Thân trượt một ô, các sao theo giờ dời đi. Nếu giờ mới làm đổi cục thì sao Tử Vi và cả mười bốn chính tinh đổi chỗ, gần như thành một lá số khác.

Không có giờ sinh thì nên dùng môn nào thay tử vi?

Bát Tự (Tứ Trụ) vẫn đọc được ba trụ năm, tháng, ngày khi thiếu giờ, nên mất ít hơn. Các phép như xem sao hạn, tam tai theo tuổi chỉ cần năm sinh.

Nguồn tham khảo: Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — Thái Vi Phú · Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — quyết an Mệnh Thân · Tử Vi Đẩu Số Tân Biên — Vân Đằng Thái Thứ Lang · Mười hai lá số cùng ngày 12/6/1992 lập bằng bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com

Sinh tháng nhuận xem tử vi: an sao theo tháng trước, tháng sau hay chia đôi ở ngày 15Sinh tháng nhuận xem tử vi thế nào: ba cách an sao (tháng trước, tháng sau, chia đôi ở ngày 15), vì sao mốc 15 trùng tiết khí, lá…
Sai một giờ sinh thì những sao nào trên lá số chạy chỗ: Xương Khúc, Không Kiếp, Hoả Linh, cung Mệnh – ThânSai giờ sinh tử vi một canh: mười lăm sao an theo giờ đổi chỗ, Mệnh Thân dời ô, có khi đổi cục kéo cả chính tinh. Hai cặp lá số s…
Cách an sao Tử Vi theo ngày sinh: vì sao Tử Vi đứng ở ô đó, giải bằng một phép chiaCách an sao Tử Vi theo ngày sinh âm lịch và số cục, viết thành phép chia có dư, kèm bảng kiểm 30 ngày × 5 cục đối chiếu với bộ má…
Tam phương tứ chính: vì sao không ai đọc một cung tử vi đứng riêngTam phương tứ chính là bốn cung đọc cùng nhau: bản cung, cung xung chiếu, hai cung tam hợp. Hai lá số mẫu cho thấy cùng sao ở Mện…
Tử Vi Đẩu Số là gì: một hệ lý số dựng từ giờ sinh, không phải từ bầu trời thậtTử Vi Đẩu Số là gì: hệ lý số dựng lá số từ năm, tháng, ngày, giờ sinh âm lịch với hơn trăm sao ảo, không nhìn trời thật; nguồn gố…
Các trường phái tử vi: Tam Hợp, Phi Tinh Tứ Hoá, Khâm Thiên, Trung Châu và tử vi Việt khác nhau ở đâuCác trường phái tử vi: Tam Hợp, Phi Tinh Tứ Hoá, Khâm Thiên, Trung Châu, tử vi Việt; bảng so cách an sao, cách đọc, sách gốc, và …