Sai một giờ sinh thì những sao nào trên lá số chạy chỗ: Xương Khúc, Không Kiếp, Hoả Linh, cung Mệnh – Thân
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 22/10/2026 · 11 phút đọc
Sai một giờ âm (hai tiếng đồng hồ) thì cung Mệnh, cung Thân dời một ô theo hai chiều ngược nhau, kéo mười lăm phụ tinh đổi chỗ: Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp, Hoả Tinh, Linh Tinh và chín sao ăn theo. Nếu Mệnh mới khác cục, cả mười bốn chính tinh chạy theo. Sao an theo năm, tháng, ngày đứng yên.
Bài không biết giờ sinh đã có bảng mười hai giờ ở mức cung Mệnh và cục. Bài này soi gần hơn: lập hai cặp lá số cùng ngày, chỉ khác một canh, kê từng sao đổi chỗ, rồi rút ra một quy luật giúp người phân vân giữa hai giờ biết phần nào của lá số vẫn đọc được.
Giờ sinh đi vào lá số qua ba tầng
Trong bộ máy an sao phái Việt mà site dùng, giờ sinh không chỉ đặt vài ngôi sao. Nó lan qua ba tầng:
| Tầng | Cái gì đổi | Vì sao |
|---|---|---|
| 1. Trực tiếp theo giờ | Cung Mệnh, cung Thân; Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp, Hoả Tinh, Linh Tinh, Thai Phụ, Phong Cáo, Đẩu Quân | Công thức an có chi giờ |
| 2. Ăn theo tầng 1 | Thiên Tài (theo Mệnh), Thiên Thọ (theo Thân), Thiên Thương, Thiên Sứ (luôn ở Nô Bộc, Tật Ách); Ân Quang, Thiên Quý (theo Xương, Khúc cộng ngày sinh); tên của cả mười hai cung | An từ một sao hay một cung đã đổi |
| 3. Qua cục | Mười bốn chính tinh, vòng Tràng Sinh, tuổi khởi đại vận | Cục lấy từ nạp âm của cung Mệnh |
Tầng 1 và 2 cộng lại đúng mười lăm phụ tinh. Tầng 3 chỉ xảy ra khi Mệnh dời sang ô có nạp âm khác; đó là lúc "sai một giờ" thành "gần như một lá số khác".
Chiều chạy của từng sao khi giờ tăng thêm một canh:
- Đi lùi (ngược chiều kim đồng hồ trên địa bàn): cung Mệnh, Văn Xương, Địa Không.
- Đi tới: cung Thân, Văn Khúc, Địa Kiếp, Thai Phụ, Phong Cáo, Đẩu Quân.
- Tuỳ người: Hoả Tinh và Linh Tinh luôn đi ngược chiều nhau; chiều nào tuỳ âm dương nam nữ (phái Việt). Nhiều sách Trung Hoa cho cả hai cùng đi thuận, nên hai trang có thể lệch đúng hai sao này (xem vì sao hai trang lập lá số khác nhau).
Cặp thứ nhất: khác giờ mà cùng cục
Người nữ sinh 12/6/1992 (12 tháng Năm năm Nhâm Thân), lập hai lá bằng công cụ của site: một lá 5 giờ 30 (giờ Mão), một lá 7 giờ 30 (giờ Thìn).
Giờ Mão cho Mệnh tại Mão, giờ Thìn cho Mệnh tại Dần. Hai ô Dần, Mão cùng can chi một cặp nạp âm (Nhâm Dần, Quý Mão, đều Kim Bạch Kim), nên cả hai lá vẫn là Kim tứ cục: sao Tử Vi vẫn ở Thìn, mười bốn chính tinh không nhúc nhích, đại vận vẫn khởi từ 4 tuổi và đi nghịch.
Mười lăm sao đổi chỗ như sau:
| Sao | Giờ Mão: ô · cung | Giờ Thìn: ô · cung |
|---|---|---|
| Văn Xương | Mùi · Quan Lộc | Ngọ · Quan Lộc |
| Văn Khúc | Mùi · Quan Lộc | Thân · Thiên Di |
| Địa Không | Thân · Nô Bộc | Mùi · Nô Bộc |
| Địa Kiếp | Dần · Huynh Đệ | Mão · Phụ Mẫu |
| Hoả Tinh | Hợi · Tài Bạch (hãm) | Tuất · Tài Bạch (hãm) |
| Linh Tinh | Sửu · Phu Thê (hãm) | Dần · Mệnh (đắc) |
| Ân Quang | Tỵ · Phúc Đức | Thìn · Phúc Đức |
| Thiên Quý | Dậu · Thiên Di | Tuất · Tài Bạch |
| Thai Phụ | Dậu · Thiên Di | Tuất · Tài Bạch |
| Phong Cáo | Tỵ · Phúc Đức | Ngọ · Quan Lộc |
| Đẩu Quân | Mùi · Quan Lộc | Thân · Thiên Di |
| Thiên Tài | Hợi · Tài Bạch | Tuất · Tài Bạch |
| Thiên Thọ | Tỵ · Phúc Đức | Ngọ · Quan Lộc |
| Thiên Thương | Thân · Nô Bộc | Mùi · Nô Bộc |
| Thiên Sứ | Tuất · Tật Ách | Dậu · Tật Ách |
Hai điểm lớn nhất. Một: ở giờ Mão, Văn Xương và Văn Khúc đồng cung tại Quan Lộc; sang giờ Thìn, cặp sao văn tách ra. Hai: Linh Tinh từ Phu Thê nhảy thẳng vào cung Mệnh.
Sao không chạy mà vẫn "đổi nghĩa"
Đây là chỗ người mới hay bỏ qua. Khoảng năm mươi sáu sao còn lại (an theo năm, tháng, ngày) không đổi ô, nhưng vì Mệnh dời một ô, tên cung trên mỗi ô trượt theo. Ở cặp này:
- Vũ Khúc hoá Kỵ, Thiên Phủ hoá Khoa, Kình Dương ở Tý: giờ Mão là cung Tử Tức, giờ Thìn là cung Phu Thê.
- Lộc Tồn ở Hợi: giờ Mão là Tài Bạch, giờ Thìn là Tử Tức.
- Cặp Thiên Cơ, Cự Môn Miếu ở Mão: giờ Mão là cung Mệnh, giờ Thìn là Phụ Mẫu; Mệnh giờ Thìn là Tham Lang ở Dần.
Không ngôi sao nào trong số đó di chuyển, vậy mà lời đọc về hôn nhân, con cái, tiền bạc đổi hẳn. Hoá Kỵ năm sinh nằm ở Phu Thê hay Tử Tức là hai câu chuyện khác nhau.
Cặp thứ hai: khác giờ và khác cục
Vẫn người ấy, nhưng so giờ Mão với giờ Dần (3 giờ 30). Giờ Dần đưa Mệnh lên Thìn. Ô Thìn năm Nhâm là Giáp Thìn, nạp âm Phú Đăng Hoả, nên cục chuyển sang Hoả lục cục. Phép chia ngày sinh cho số cục cho ra vị trí Tử Vi mới (Mão thay vì Thìn), và cả bàn chính tinh dịch theo:
| Giờ Mão (5:30) | Giờ Dần (3:30) | |
|---|---|---|
| Cục | Kim tứ cục | Hoả lục cục |
| Cung Mệnh | Mão: Thiên Cơ, Cự Môn đều Miếu | Thìn: Cự Môn hãm, một mình |
| Cung Thân | Thiên Di (Dậu) | Quan Lộc (Thân) |
| Sao Tử Vi | Thìn, Vượng | Mão, Bình |
| Tài Bạch | Thiên Đồng đắc (Hợi) | Thái Dương hãm (Tý) |
| Phu Thê | Thái Dương, Thái Âm đắc (Sửu) | Thiên Cơ hãm, Thái Âm hãm (Dần) |
| Đại vận đầu | 4 – 13 tuổi | 6 – 15 tuổi |
| Số sao đổi ô | 15 phụ tinh | 15 phụ tinh + 14 chính tinh + vòng Tràng Sinh |
Đổi một canh mà người "Cơ Cự Miếu thủ Mệnh" thành người "Cự Môn hãm thủ Mệnh", độ sáng của chín trong mười bốn chính tinh lật từ sáng sang hãm hoặc ngược lại. Mọi mốc đại vận lệch hai năm.
Có một cách biết trước giờ kề nào nguy hiểm hơn. Mười hai ô xếp thành sáu cặp luôn chung nạp âm: Tý Sửu, Dần Mão, Thìn Tỵ, Ngọ Mùi, Thân Dậu, Tuất Hợi. Mệnh của bạn nằm ở một ô trong cặp; lệch một canh về phía ô cùng cặp thì cục giữ nguyên, lệch về phía kia thì phải kiểm lại cục (có khi tình cờ vẫn trùng hành, như trường hợp hai cặp cùng ra Kim trong bảng của bài không biết giờ sinh).
Quy luật ít người để ý: nửa đi theo Mệnh, nửa đi theo Thân
Nhìn lại cột "cung" trong bảng cặp thứ nhất. Văn Xương ở Quan Lộc trong cả hai lá dù đổi ô. Văn Khúc thì từ Quan Lộc sang Thiên Di. Đó không phải tình cờ.
Mệnh lùi một ô khi giờ tăng một canh. Sao nào cũng lùi một ô thì giữ nguyên vị trí so với Mệnh, tức giữ nguyên tên cung. Sao nào tiến một ô thì giữ nguyên vị trí so với Thân, còn so với Mệnh thì nhảy hai cung. Chia ra:
| Giữ nguyên tên cung khi lệch một canh | Nhảy hai cung khi lệch một canh |
|---|---|
| Văn Xương, Địa Không, Ân Quang | Văn Khúc, Địa Kiếp, Thiên Quý |
| Thiên Tài, Thiên Thương, Thiên Sứ | Thai Phụ, Phong Cáo, Thiên Thọ, Đẩu Quân |
| Một trong hai Hoả, Linh (người nghịch: Hoả Tinh; người thuận: Linh Tinh) | Sao còn lại trong cặp Hoả, Linh |
Hệ quả thực hành cho người không chắc giữa hai giờ kề nhau:
- Lời đọc dựa trên Văn Xương, Địa Không và các sao cột trái (chẳng hạn "Địa Không ở Nô Bộc") vẫn dùng được, bất kể chọn giờ nào.
- Lời đọc dựa trên Văn Khúc, Địa Kiếp và cột phải phải đọc theo hai phương án.
- Sao năm, tháng, ngày thì ngược lại: không đổi ô nhưng đổi tên cung một bậc.
Quy luật này đúng với mọi lá số trong bộ máy của site, vì nó đến từ chiều an sao, không từ ngày sinh cụ thể.
Hai cặp sao chỉ "hội" ở hai giờ trong ngày
Vì Xương lùi còn Khúc tiến, hai sao chỉ gặp nhau ở giờ Mão (cùng ở Mùi) và giờ Dậu (cùng ở Sửu). Tương tự Địa Không và Địa Kiếp chỉ đồng cung ở giờ Tý (tại Hợi) và giờ Ngọ (tại Tỵ). Ngược lại, giờ Tý, Ngọ là lúc Xương Khúc đứng đối nhau qua trục Thìn Tuất; giờ Mão, Dậu là lúc Không Kiếp đối nhau qua trục Dần Thân.
Vậy những lời bàn kiểu "Xương Khúc đồng cung", "Không Kiếp đồng cung" là đặc điểm của đúng hai trong mười hai giờ. Người sinh sát ranh giới giờ Mão mà lá số có Xương Khúc đồng cung nên biết điều đó có thể biến mất nếu giờ thật là giờ bên cạnh. Ý nghĩa của từng cặp ở bài Văn Xương, Văn Khúc và Địa Không, Địa Kiếp.
Một sao hay bị quên: Đẩu Quân và hạn tháng
Đẩu Quân trên lá số gốc an theo chi năm, tháng sinh và giờ sinh. Khi xem hạn tháng, phép tìm Đẩu Quân của một năm (cung làm tháng Giêng) cũng đếm nghịch đến tháng sinh rồi thuận đến giờ sinh. Lệch một canh, Đẩu Quân dời một ô, tháng Giêng dời một cung, cả lịch hạn tháng lệch một tháng. Ai xem vận hạn theo tháng mà giờ sinh chưa chắc thì phần này kém tin cậy nhất.
Sách cổ nói gì
如人生子亥二時最難定……若差訛則命不準矣。 Như nhân sinh Tý Hợi nhị thời tối nan định … nhược sai ngoa tắc mệnh bất chuẩn hĩ.
Người sinh vào hai giờ Tý, Hợi là khó định nhất … nếu sai lệch thì số không còn đúng nữa. — Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, quyển ba, Luận nhân sinh thời yếu thẩm đích xác
Đoạn ở giữa, đại ý: giờ Tý có mười khắc, nửa đầu thuộc giờ Hợi đêm trước, nửa sau thuộc giờ Tý ngày nay; gặp trời âm u mưa thì phải dùng la kinh để định giờ cho đúng. Bản số hoá Toàn Thư chép chữ "thượng ngọ khắc, hạ ngọ khắc", nhiều khả năng là "thượng ngũ khắc, hạ ngũ khắc" (năm khắc đầu, năm khắc sau) bị chép nhầm; chúng tôi dịch theo nghĩa ấy.
Bình: người soạn Toàn Thư không có đồng hồ. Giờ được định bằng bóng nắng, nên trời mưa là mất mốc. Câu "sai thì số không đúng" cho thấy ngay trong sách gốc, giờ sinh đã là đầu vào dễ hỏng nhất. Hôm nay có giấy khai sinh ghi giờ phút, nhưng vẫn còn những chỗ dễ sai mới: giờ ghi theo đồng hồ chưa đổi múi giờ, giờ "khoảng chừng" người nhà nhớ lại (xem giờ sinh và múi giờ Việt Nam, giờ Tý đêm, giờ Tý sớm).
或有同年同月同日同時而生,則有貧賤富貴壽夭之異。 Hoặc hữu đồng niên đồng nguyệt đồng nhật đồng thời nhi sinh, tắc hữu bần tiện phú quý thọ yểu chi dị.
Có người sinh cùng năm, cùng tháng, cùng ngày, cùng giờ mà nghèo hèn, giàu sang, thọ yểu khác nhau. — Toàn Thư, Đẩu Số Cốt Tuỷ Phú
Bình: câu này đặt giới hạn cho chính bài viết. Có giờ đúng rồi, lá số vẫn chỉ là một phần. Sai giờ thì mất cả phần ấy.
Đọc cho đúng mức
- Bảng trên theo bộ máy phái Việt của site. Phái khác có thể an Hoả Linh khác chiều, an Đẩu Quân hay Thiên Tài, Thiên Thọ theo cách khác. Quy luật "theo Mệnh, theo Thân" vẫn đúng với Xương, Khúc, Không, Kiếp vì công thức của bốn sao này giống nhau ở hầu hết các phái.
- Không phải sao nào đổi chỗ cũng quan trọng như nhau. Mệnh, Thân, cục, Xương Khúc, Không Kiếp, Hoả Linh là phần nặng; Phong Cáo, Thai Phụ, Thiên Tài, Thiên Thọ là phần nhẹ, ít thầy dựa vào để kết luận.
- Đừng chọn giờ theo lá số đẹp hơn. Người phân vân hay chọn lá "có Xương Khúc đồng cung" hay "Cơ Cự Miếu". Lá số đẹp hơn không phải là lá số đúng hơn.
- Lá số mẫu dùng để chỉ cấu trúc, không phải lời luận về một người.
Việc nên làm
- Đổi giờ sinh trên giấy tờ sang giờ âm, xem nó cách ranh giới giờ âm gần nhất bao nhiêu phút. Dưới hai mươi phút thì coi như có hai ứng viên.
- Lập cả hai lá số. Kiểm Mệnh mới có cùng cặp nạp âm với Mệnh cũ không; khác cặp thì so lại cả bàn chính tinh.
- Đánh dấu những lời đọc dựa trên sao "giữ tên cung" (cột trái) — phần đó dùng được cho cả hai lá.
- Với phần khác nhau, so với vài sự kiện đã xảy ra theo đại vận (năm lập gia đình, đổi nghề, chuyển nhà) trước khi chọn.
- Chưa chọn được thì tạm gác phần hạn tháng và lời đọc dựa trên Văn Khúc, Địa Kiếp.
Không có giờ nào trên giấy để bắt đầu thì công cụ đoán giờ sinh dùng đúng những sao đổi theo giờ trong bài này (Thân, cục, Không Kiếp, Hoả Linh, Xương Khúc) để đặt câu hỏi và xếp hạng mười hai giờ.
🕰️Đoán giờ sinhKhông biết giờ sinh? Máy dựng 12 lá số, hỏi 6–10 câu đời thực rồi gợi ý 2–3 giờ hợp nhất kèm lý do. Miễn phí.Mở
Xem lá số tử vi của chính bạn
Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.
Lập lá số miễn phíNguồn tham khảo
- Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — quyển ba: Luận nhân sinh thời yếu thẩm đích xác; quyển một: Đẩu Số Cốt Tuỷ Phú (nguyên văn đối chiếu bản số hoá)
- Vân Đằng Thái Thứ Lang — Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, phần an sao (đại ý)
- Hai cặp lá số (nữ, 12/6/1992, giờ Dần, Mão, Thìn) lập bằng bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com
Câu hỏi thường gặp
Sai giờ sinh một canh thì lá số tử vi thay đổi những gì?
Cung Mệnh và Thân dời một ô, mười lăm phụ tinh an theo giờ đổi chỗ, tên mười hai cung trượt một bậc. Nếu Mệnh mới khác cặp nạp âm thì cục đổi, kéo theo mười bốn chính tinh và tuổi khởi đại vận.
Những sao nào an theo giờ sinh?
Trực tiếp có Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp, Hoả Tinh, Linh Tinh, Thai Phụ, Phong Cáo, Đẩu Quân. Ăn theo có Thiên Tài, Thiên Thọ, Thiên Thương, Thiên Sứ, Ân Quang, Thiên Quý. Cung Mệnh và cung Thân cũng an theo giờ.
Khi lệch giờ, sao nào trên lá số đứng yên?
Các sao an theo năm (Lộc Tồn, Kình Đà, Khôi Việt, Tứ Hoá, vòng Thái Tuế), theo tháng (Tả Hữu, Thiên Hình, Thiên Diêu) và theo ngày (Tam Thai, Bát Toạ) không đổi ô. Nhưng tên cung trên các ô ấy đổi theo Mệnh.
Xương Khúc đồng cung có ở mọi giờ sinh không?
Không. Văn Xương và Văn Khúc chỉ cùng một ô với người sinh giờ Mão (tại Mùi) hoặc giờ Dậu (tại Sửu). Địa Không, Địa Kiếp chỉ đồng cung ở giờ Tý (tại Hợi) và giờ Ngọ (tại Tỵ).
Không chắc giữa hai giờ thì nên tin lá số nào?
Lập cả hai, dùng phần giống nhau trước, rồi so phần khác nhau với những sự kiện đã xảy ra. Đừng chọn lá nào trông đẹp hơn; lá đẹp hơn không có nghĩa là lá đúng giờ.
Nguồn tham khảo: Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — Luận nhân sinh thời yếu thẩm đích xác (quyển ba) · Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — Đẩu Số Cốt Tuỷ Phú (quyển một) · Tử Vi Đẩu Số Tân Biên — Vân Đằng Thái Thứ Lang — phần an sao · Các cặp lá số so sánh, lập bằng bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com