Kê bốc: bói xương gà của cư dân Việt cổ được ghi trong Sử Ký, cách làm theo sách chú đời Đường, Tống và dấu vết còn lại
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc
Bói xương gà, chữ Hán là kê bốc, là phép bói của cư dân Bách Việt phương Nam: giết gà sau lời khấn, lấy xương (thường là xương đùi) xem các lỗ nhỏ, vết nứt để đoán lành dữ. Sử Ký của Tư Mã Thiên ghi rằng sau khi diệt Nam Việt năm 111 trước Công nguyên, Hán Vũ Đế nghe lời một người Việt, cho lập đền thờ kiểu Việt và dùng kê bốc.
Đoạn Sử Ký: một người Việt tên Dũng Chi
Đoạn văn nằm trong Phong Thiền thư (và được chép lại gần như nguyên văn trong Hiếu Vũ bản kỷ). Bối cảnh: nhà Hán vừa diệt nước Nam Việt của họ Triệu. Một người Việt tên Dũng Chi tâu với Hán Vũ Đế rằng người Việt tin quỷ thần, đền thờ của họ hay "thấy quỷ", cầu khấn nhiều lần ứng nghiệm; vua Đông Âu ngày trước kính quỷ thần nên thọ tới một trăm sáu mươi tuổi, đời sau lơ là nên suy yếu. Vũ Đế bèn cho thầy cúng người Việt lập đền, thờ thiên thần, thượng đế, trăm quỷ, và dùng gà để bói. Nguyên văn ở mục Sách cổ nói gì.
Đọc kỹ đoạn văn sẽ thấy ba điều thường bị bỏ qua:
- "Việt" ở đây là Bách Việt, một dải cư dân rộng từ Chiết Giang xuống Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc Việt Nam. Đông Âu mà Dũng Chi nhắc tới là nước của người Âu Việt ở vùng Chiết Giang, không phải đất Việt Nam ngày nay. Kê bốc là tục của cả dải cư dân ấy, trong đó có tổ tiên một phần người Việt.
- Lời tâu có phần phóng đại (vua thọ một trăm sáu mươi tuổi). Tư Mã Thiên chép lại như một trong nhiều chuyện phương sĩ dâng lên Vũ Đế, vị vua nổi tiếng mê cầu tiên. Phong Thiền thư nhìn chung chép những chuyện ấy với giọng hoài nghi.
- Đây là một trong số ít lần sử Trung Hoa ghi một tục phương Nam được triều đình học theo, chứ không chỉ bị chê là "man di".
Phép bói làm thế nào: hai lời tả cách nhau gần năm thế kỷ
Sử Ký chỉ nói "dùng gà bói", không tả cách làm. Cách làm được biết qua hai nguồn đời sau.
Trương Thủ Tiết, Sử Ký Chính Nghĩa (đời Đường), khi chú câu này, tả đại ý: dùng một con gà, một con chó còn sống, khấn nguyện xong thì giết, luộc chín, tế lại một lần nữa, rồi lấy riêng phần xương quanh hai mắt con gà; trên xương tự có lỗ, vết nứt; nếu hình vết giống hình người thì là lành, không đủ hình thì là dữ. Ông ghi thêm: nay vùng Lĩnh Nam vẫn dùng phép này.
Chu Khứ Phi, Lĩnh Ngoại Đại Đáp (đời Nam Tống), viết sau khi làm quan ở Quảng Tây, tả kỹ hơn nhiều, đại ý:
- Người bói khấn, giết gà, lấy hai xương đùi, làm sạch.
- Trên xương đùi có các lỗ nhỏ tự nhiên (lỗ mạch máu nuôi xương). Người bói lấy que tre nhỏ cắm vào các lỗ ấy.
- Các que nghiêng, thẳng, gần, xa theo vị trí lỗ; người bói đọc hình que để định lành dữ. Có nhiều "thế" với tên gọi riêng.
- Người Tống thời ấy đếm được rất nhiều thế khác nhau, và việc lớn nhỏ trong vùng (đi xa, bệnh tật, chiến sự) đều hỏi kê bốc.
So hai lời tả sẽ thấy: xương được xem có khác nhau (xương quanh mắt, xương đùi), nhưng nguyên lý chung là đọc những gì tự nhiên có trên xương sau khi khấn, giống tinh thần bói mai rùa đời Thương (xem bói mai rùa đời Thương): hỏi thần trước, rồi đọc dấu vết vật tế để lại.
Tám trăm năm sau Sử Ký: Liễu Tông Nguyên ở Liễu Châu
Đời Đường, nhà thơ Liễu Tông Nguyên bị đày làm thứ sử Liễu Châu (Quảng Tây). Trong bài thơ tả người miền núi nơi ấy, ông ghi, đại ý, họ xem xương gà để đoán năm. Bài xem chân gà ngày Tết đã dẫn câu này; ở đây chỉ nhấn một điều: từ đời Hán (Sử Ký) qua đời Đường (Liễu Tông Nguyên, Trương Thủ Tiết) đến đời Tống (Chu Khứ Phi), kê bốc được ghi liên tục hơn một nghìn năm ở cùng một vùng. Đó là một tục bền chứ không phải chuyện lạ thoáng qua.
Dấu vết hôm nay: các tộc phương Nam và con gà Tết của người Việt
Theo các ghi chép dân tộc học, kê bốc còn được thực hành ở một số tộc nói tiếng Tày – Thái và các tộc khác ở Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam và miền núi phía Bắc Việt Nam. Người Tráng ở Quảng Tây còn lưu những bản sách bói xương gà chép tay bằng chữ vuông của họ; giới nghiên cứu Trung Quốc gọi chung là "Kê bốc kinh". Chúng tôi chưa đọc trực tiếp các bản này nên chỉ ghi ở mức có tồn tại.
Ở người Việt đồng bằng, kê bốc theo nghĩa cắm que vào xương đùi gần như không còn. Thứ còn lại là xem chân gà luộc ngày Tết: cùng một con vật, cùng thời điểm hỏi năm mới, nhưng đọc hình chân thay cho lỗ xương. Có thể so sánh:
| Kê bốc cổ | Xem chân gà ngày Tết | |
|---|---|---|
| Vật đọc | xương đùi (hoặc xương đầu) | hình chân con gà luộc |
| Dụng cụ | que tre nhỏ cắm vào lỗ xương | không cần |
| Người đọc | thầy cúng, thầy bói | người lớn tuổi trong nhà |
| Việc hỏi | đi xa, bệnh, việc làng, chiến sự | chuyện cả nhà trong năm |
| Nghi lễ | khấn, giết gà, tế | gà đã cúng giao thừa, sáng mùng Một |
Từ một phép bói của thầy cúng, tục đã đi vào bếp nhà: người đọc không còn là chuyên gia, mà là ông bà.
Vì sao lại là gà
Có mấy lý do người nghiên cứu hay nêu:
- Gà là vật nuôi phổ biến nhất của cư dân trồng lúa nước, luôn có sẵn để làm lễ.
- Gà gáy báo sáng, gắn với ánh sáng, với khởi đầu; trong Thuyết Quái, gà ứng quẻ Tốn.
- Xương gà nhỏ, mỏng, có sẵn lỗ mạch máu trên bề mặt: mỗi con một khác, đủ "ngẫu nhiên" để làm vật bói, giống như mai rùa nứt khi hơ lửa, hay ba đồng xu khi gieo quẻ (xem gieo quẻ bằng đồng xu).
Lý do thứ ba là chỗ đáng suy nghĩ nhất: mọi phép bói cổ đều cần một nguồn ngẫu nhiên mà người hỏi không điều khiển được. Mai rùa, cỏ thi, đồng xu, xương gà là những nguồn ngẫu nhiên khác nhau của những nền văn hoá khác nhau.
Sách cổ nói gì
乃令越巫立越祝祠,安臺無壇,亦祠天神上帝百鬼,而以雞卜。上信之,越祠雞卜始用焉。 Nãi lệnh Việt vu lập Việt chúc từ, an đài vô đàn, diệc từ thiên thần thượng đế bách quỷ, nhi dĩ kê bốc. Thượng tín chi, Việt từ kê bốc thuỷ dụng yên.
Dịch: Bèn sai thầy cúng người Việt lập đền thờ theo lối Việt, dựng đài mà không đắp đàn, cũng thờ thiên thần, thượng đế và trăm quỷ, và dùng gà để bói. Nhà vua tin điều ấy; đền thờ kiểu Việt và phép bói gà bắt đầu được dùng từ đó. — Sử Ký, Phong Thiền thư
Bình: chi tiết "dựng đài mà không đắp đàn" (an đài vô đàn) cho thấy đền kiểu Việt khác kiểu Hán: không có đàn tế đất đắp cao theo lễ chế phương Bắc. Đó là một dấu hiệu nhỏ nhưng rõ rằng người chép sử đã nhận ra một hệ nghi lễ khác.
Sử Ký Chính Nghĩa, chú câu trên, đại ý: phép bói gà dùng một gà, một chó, khấn xong giết, luộc chín, tế lại, chỉ lấy xương quanh hai mắt gà; trên xương tự có lỗ nứt, giống hình người là lành, không đủ là dữ; nay Lĩnh Nam vẫn dùng phép này. — Trương Thủ Tiết, Sử Ký Chính Nghĩa
Bình: câu cuối "nay Lĩnh Nam vẫn dùng" là lời chứng của một học giả đời Đường rằng tục còn sống. Phần tả xương "quanh hai mắt" khác với lời tả xương đùi của Chu Khứ Phi đời Tống; có thể là hai biến thể, cũng có thể văn bản chú bị chép sai qua nhiều đời. Chúng tôi ghi cả hai.
Đọc cho đúng mức
- "Việt" trong Sử Ký không đồng nhất với người Việt hôm nay; kê bốc là tục của cả dải Bách Việt.
- Cách làm kê bốc chỉ biết qua các sách chú, sách ghi chép đời sau (Đường, Tống); thời Hán làm thế nào thì không có lời tả trực tiếp.
- Các đoạn Sử Ký Chính Nghĩa, Lĩnh Ngoại Đại Đáp ở trên chúng tôi dẫn đại ý; ai cần nguyên văn nên đối chiếu bản khảo đính.
- Kê bốc là tư liệu văn hoá, không phải phép dự báo có kiểm chứng; ở đây không có hướng dẫn tự bói và không có lời đoán nào để áp vào đời mình.
Việc nên làm
- Đọc lại đoạn Phong Thiền thư trong một bản dịch Sử Ký để thấy bối cảnh Hán Vũ Đế cầu tiên, trong đó kê bốc chỉ là một chuyện nhỏ.
- Nếu nhà còn giữ tục xem chân gà ngày Tết, kể cho con cháu biết tục ấy có họ hàng xa trong Sử Ký hơn hai nghìn năm trước.
- Khi lên vùng cao, nếu được mời dự một lễ có xem xương gà, hãy hỏi người làm lễ về ý nghĩa và tôn trọng nghi thức, không chụp ảnh khi chưa xin phép.
Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?
Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.
Xem lịch các thầyNguồn tham khảo
- Tư Mã Thiên — Sử Ký, Phong Thiền thư; Hiếu Vũ bản kỷ (đoạn về Dũng Chi và kê bốc).
- Trương Thủ Tiết — Sử Ký Chính Nghĩa, chú câu kê bốc (đại ý).
- Chu Khứ Phi — Lĩnh Ngoại Đại Đáp, mục Kê bốc (đại ý).
- Liễu Tông Nguyên — Liễu Châu động manh (đại ý câu xem xương gà đoán năm).
Câu hỏi thường gặp
Kê bốc là gì?
Là phép bói bằng xương gà của cư dân Bách Việt phương Nam: khấn, giết gà, lấy xương xem các lỗ nhỏ, vết nứt để đoán lành dữ. Sử Ký ghi Hán Vũ Đế cho dùng phép này sau khi diệt Nam Việt.
Sử Ký nói gì về bói xương gà?
Phong Thiền thư chép một người Việt tên Dũng Chi tâu rằng người Việt thờ quỷ thần hay ứng nghiệm; Vũ Đế sai thầy cúng người Việt lập đền và dùng gà để bói, "Việt từ kê bốc thuỷ dụng yên".
Bói xương gà làm thế nào?
Theo Lĩnh Ngoại Đại Đáp đời Tống, người bói lấy hai xương đùi gà, cắm que tre nhỏ vào các lỗ tự nhiên trên xương rồi đọc hình que. Sử Ký Chính Nghĩa đời Đường lại tả việc xem xương quanh mắt gà.
Kê bốc có liên quan tới xem chân gà ngày Tết không?
Cùng gốc tín ngưỡng bói bằng gà của phương Nam. Kê bốc cổ đọc lỗ trên xương; xem chân gà ngày Tết đọc hình chân con gà luộc, là dạng giản lược đi vào bếp nhà.
Ngày nay còn ai bói xương gà không?
Theo các ghi chép dân tộc học, một số tộc ở Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam và miền núi phía Bắc Việt Nam vẫn giữ tục xem xương gà trong nghi lễ; người Tráng còn lưu các bản sách bói xương gà chép tay.
Nguồn tham khảo: Tư Mã Thiên — Sử Ký — Phong Thiền thư (đoạn lặp lại ở Hiếu Vũ bản kỷ) · Trương Thủ Tiết — Sử Ký Chính Nghĩa — chú câu kê bốc · Chu Khứ Phi — Lĩnh Ngoại Đại Đáp — mục Kê bốc · Liễu Tông Nguyên — Liễu Châu động manh