Gieo quẻ bằng ba đồng xu từng bước: ghi hào, tìm hào động, tra quẻ chính và quẻ biến
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc
Gieo quẻ bằng đồng xu là tung ba đồng xu sáu lần, mỗi lần ra một hào, ghi từ dưới lên. Quy ước mặt chữ tính 2, mặt lưng tính 3; cộng ba đồng được 6, 7, 8 hoặc 9. Số 6 và 9 là hào động: đổi hào ấy sẽ ra quẻ biến. Sáu hào cho quẻ chính, hào động cho chỗ quẻ nói thẳng với việc của bạn.
Phần còn lại của bài đi qua từng bước, có một ví dụ gieo thật từ đầu đến cuối, và giải thích một điều ít sách nói: ba đồng xu không cho cùng xác suất với phép cỏ thi cổ, và chênh lệch ấy nằm ở đâu.
Chuẩn bị: ba đồng xu giống nhau và một quy ước cố định
Đồng tiền cổ có lỗ vuông là thứ người xưa dùng, nhưng ba đồng xu bất kỳ đều được, miễn giống hệt nhau về loại và độ mòn. Đồng méo, đồng dính keo, đồng nặng nhẹ khác nhau dễ ra một mặt nhiều hơn.
Quy ước mặt là việc phải chốt trước khi tung và giữ suốt đời gieo của mình:
- Mặt có chữ (mặt "chữ") tính 2, là âm.
- Mặt không chữ (mặt "lưng") tính 3, là dương.
Đây là quy ước theo truyền thống Lục Hào, khớp với bốn tên hào cổ sẽ nói ở dưới. Có sách đảo lại, cho mặt chữ là dương. Đảo hay không cũng không sai, vì hai mặt đồng xu có xác suất như nhau; cái sai là hôm nay theo cách này, mai theo cách khác. Với đồng xu hiện nay không có chữ, chọn một mặt (mặt số hoặc mặt hình) làm "chữ" và ghi quy ước ấy vào đầu sổ.
Tiếng Việt hay nói "sấp, ngửa", nhưng mỗi nơi hiểu một kiểu, có người coi mặt chữ là ngửa, có người ngược lại. Vì vậy bài này dùng "chữ" và "lưng" cho khỏi lẫn.
Bảng quy đổi: từ ba đồng xu ra bốn loại hào
| Kết quả một lần tung | Cộng | Tên hào | Tên cổ khi dùng tiền | Ký hiệu ghi | Động hay tĩnh |
|---|---|---|---|---|---|
| 3 lưng | 3+3+3 = 9 | Lão dương | Trùng | ⚊ kèm "O" | Động, dương sẽ hoá âm |
| 2 lưng, 1 chữ | 3+3+2 = 8 | Thiếu âm | Sách | ⚋ | Tĩnh |
| 1 lưng, 2 chữ | 3+2+2 = 7 | Thiếu dương | Đơn | ⚊ | Tĩnh |
| 3 chữ | 2+2+2 = 6 | Lão âm | Giao | ⚋ kèm "X" | Động, âm sẽ hoá dương |
Bốn tên "đơn, sách, trùng, giao" là cách gọi của giới Lục Hào, truyền thống gắn với sách Hoả Châu Lâm đời Tống. "Đơn" là một lưng, "sách" là hai lưng, "trùng" là ba lưng chồng lên nhau, "giao" là không lưng nào. Ký hiệu O và X trong sổ của các thầy bói đời sau đều lấy từ đây.
Hai dòng giữa làm nhiều người khựng lại: hai mặt lưng (dương) mà ra hào âm, hai mặt chữ (âm) mà ra hào dương. Lý do giống hệt cách định tính tám quẻ đơn: cái ít làm chủ. Trong ba đồng, mặt nào lẻ loi thì mặt ấy quyết định hào. Quẻ Chấn có hai hào âm một hào dương mà vẫn là quẻ dương cũng theo đúng lẽ này, xem bài tám quẻ đơn. Nhớ được nguyên tắc thì không cần học thuộc bảng.
Sáu lần tung, ghi từ dưới lên
- Viết câu hỏi ra giấy trước. Một việc, có thời hạn. Cách đặt câu hỏi ở bài đặt câu hỏi trước khi gieo quẻ.
- Cầm ba đồng xu trong lòng bàn tay úp, lắc vài lần, thả xuống một mặt phẳng.
- Ghi kết quả lần thứ nhất ở dòng dưới cùng. Lần thứ hai ghi lên trên nó. Cứ thế đến lần thứ sáu ở trên cùng.
- Mỗi dòng ghi đủ: con số (6, 7, 8, 9), vạch liền hay đứt, và đánh dấu O hoặc X nếu là hào động.
Ghi từ dưới lên không phải chuyện hình thức. Hào trong Kinh Dịch đếm từ dưới: hào sơ là gốc, hào thượng là ngọn. Ghi ngược từ trên xuống thì quẻ chính bị lật, Thái thành Bĩ, mọi lời hào sau đó đều đọc nhầm chỗ.
Đồng xu lăn khỏi bàn hay dựng đứng thì tung lại riêng lần ấy. Đó là quy ước thực hành, sách cổ không bàn, vì người xưa không gieo trên bàn kính.
Từ sáu hào ra quẻ chính và quẻ biến
Quẻ chính (bản quái): ba hào dưới (1, 2, 3) là quẻ đơn ở dưới, gọi là nội quái; ba hào trên (4, 5, 6) là quẻ đơn ở trên, gọi là ngoại quái. Lúc này chỉ nhìn vạch liền hay đứt, bỏ qua chuyện động hay tĩnh. Tra cặp trên dưới trong bảng 64 quẻ là ra tên quẻ.
Quẻ biến (chi quái): lấy quẻ chính, đổi riêng các hào động. Lão dương thành vạch đứt, lão âm thành vạch liền; hào tĩnh giữ nguyên. Tra lại bảng.
Không có hào động thì không có quẻ biến; bạn chỉ đọc quẻ chính. Theo xác suất, cứ khoảng sáu lần gieo thì có một lần như vậy (con số đúng ở phần xác suất bên dưới).
Một lần gieo trọn vẹn: Ích biến thành Tổn
Câu hỏi giả định: "Trong năm nay, nếu mình nhận kèm cặp hai người mới vào nhóm, mình nên giữ điều gì?"
| Lần tung | Kết quả | Số | Hào |
|---|---|---|---|
| 6 (hào thượng) | 1 lưng, 2 chữ | 7 | ⚊ |
| 5 | 3 lưng | 9 | ⚊ O |
| 4 | 2 lưng, 1 chữ | 8 | ⚋ |
| 3 | 2 lưng, 1 chữ | 8 | ⚋ |
| 2 | 3 chữ | 6 | ⚋ X |
| 1 (hào sơ) | 1 lưng, 2 chữ | 7 | ⚊ |
Ba hào dưới: liền, đứt, đứt, từ dưới lên, là Chấn (sấm). Ba hào trên: đứt, liền, liền là Tốn (gió). Tốn trên Chấn dưới là quẻ Phong Lôi Ích, quẻ 42, nghĩa là thêm, làm lợi.
Hai hào động: hào hai (lão âm) và hào năm (lão dương). Đổi cả hai: ba hào dưới thành liền, liền, đứt là Đoài; ba hào trên thành đứt, đứt, liền là Cấn. Cấn trên Đoài dưới là Sơn Trạch Tổn, quẻ 41, nghĩa là bớt.
Ích biến thành Tổn là một cặp rất đáng nghĩ: thêm cho người thì bớt ở mình. Với câu hỏi về kèm cặp người mới, hình ảnh ấy tự nói được nhiều điều trước cả khi đọc lời hào.
Hai hào động thì đọc lời của hai hào ấy trong quẻ chính, theo quy tắc của Chu Hy lấy hào trên làm chủ (các trường hợp khác ở bài quẻ nhiều hào động):
- Cửu ngũ quẻ Ích: "Hữu phu huệ tâm, vật vấn nguyên cát; hữu phu huệ ngã đức." Có lòng thành muốn làm ơn, chẳng cần hỏi cũng rất tốt; người ta sẽ lấy lòng thành đáp lại đức của mình.
- Lục nhị quẻ Ích: "Hoặc ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi, vĩnh trinh cát." Có khi được ban cho con rùa quý đáng giá mười bằng, muốn từ chối cũng không được; giữ chính lâu dài thì tốt.
Đọc vào việc: hào chủ nói về động cơ, giúp người mới vì muốn họ khá lên chứ không vì tính toán đền đáp; hào kia nói về cái mình nhận lại, đến mà không cần đòi. Quẻ biến Tổn nhắc cái giá: thời gian và sức của mình sẽ bớt đi trong năm ấy. Ba dòng ghi vào sổ có thể là: việc nên nhận; nhận vì người mới, đừng vì thành tích; chừa sẵn thời gian, đừng ôm thêm việc khác.
Đồng xu và cỏ thi: cùng sáu hào, khác xác suất
Phép gieo cổ nhất còn văn bản là phép cỏ thi ở chương Đại diễn, Hệ Từ thượng: năm mươi cọng, dùng bốn mươi chín, chia, gác, đếm theo bốn, ba lần biến ra một hào, mười tám lần biến ra một quẻ. Tính kỹ cách đếm ấy thì bốn loại hào không ra đều nhau. Đồng xu cũng không. Và hai phép không ra giống nhau:
| Hào | Cỏ thi | Ba đồng xu |
|---|---|---|
| 6 — lão âm (động) | 1/16 | 2/16 (tức 1/8) |
| 7 — thiếu dương | 5/16 | 6/16 |
| 8 — thiếu âm | 7/16 | 6/16 |
| 9 — lão dương (động) | 3/16 | 2/16 (tức 1/8) |
Vì sao cỏ thi lệch: ở lần biến đầu, số cọng còn lại trên tay ra "ít" với khả năng 3/4 và "nhiều" với khả năng 1/4; hai lần biến sau thì mỗi bên 1/2. Ba lần "ít" (khả năng 3/4 × 1/2 × 1/2 = 3/16) cho lão dương; ba lần "nhiều" (1/4 × 1/2 × 1/2 = 1/16) cho lão âm. Đồng xu thì mỗi mặt 1/2, ba mặt như nhau có khả năng 1/8 cho cả hai loại lão.
Ba điều rút ra từ bảng, người gieo nên biết:
- Tổng số hào động như nhau. Mỗi hào có khả năng động là 1/4 ở cả hai phép (cỏ thi 1/16 + 3/16, đồng xu 1/8 + 1/8). Số hào động trung bình mỗi quẻ đều là một hào rưỡi.
- Âm dương cũng cân như nhau. Cả hai phép đều cho hào dương và hào âm mỗi bên một nửa.
- Khác ở chỗ hào nào động. Cỏ thi cho dương động gấp ba âm động; đồng xu cho hai bên ngang nhau. Gieo bằng đồng xu, bạn gặp lão âm nhiều gấp đôi, lão dương ít hơn so với người xưa bói cỏ.
Chênh lệch này không làm phép đồng xu "kém linh" hơn; nó chỉ cho thấy đồng xu là một cách làm tắt ra đời sau, không phải bản sao chính xác của phép cổ. Ai muốn giữ đúng tỷ lệ cỏ thi mà không có cỏ, có thể dùng một túi mười sáu viên bi bốn màu theo đúng tỷ lệ 1, 5, 7, 3, rút có hoàn lại. Đó là cách hiện đại, sách xưa không có, nhưng trung thành với con số của Hệ Từ hơn đồng xu.
Sách cổ nói gì
Đại diễn chi số ngũ thập, kỳ dụng tứ thập hữu cửu. Phân nhi vi nhị dĩ tượng lưỡng, quải nhất dĩ tượng tam, thiệp chi dĩ tứ dĩ tượng tứ thời, quy kỳ ư lặc dĩ tượng nhuận.
Số đại diễn là năm mươi, dùng bốn mươi chín. Chia làm hai để tượng hai nghi, gác một để tượng ba tài, đếm theo bốn để tượng bốn mùa, dồn số lẻ vào kẽ ngón tay để tượng tháng nhuận. — Chu Dịch, Hệ Từ thượng
Tứ doanh nhi thành Dịch, thập hữu bát biến nhi thành quái.
Bốn thao tác thành một lần biến, mười tám lần biến thành một quẻ. — Chu Dịch, Hệ Từ thượng
Bình: Hệ Từ ghi thao tác, không ghi xác suất; con số 1/16 và 3/16 là người đời sau tính ra từ chính các thao tác ấy. Chu Hy trong Dịch Học Khải Mông dành hẳn một thiên để khôi phục cách đếm cỏ thi, vì đến đời Tống nhiều người đã chỉ còn dùng tiền. Đồng xu là phép tiện; cỏ thi là phép gốc.
Đọc cho đúng mức
Phép đồng xu là một cách lấy ngẫu nhiên. Nó cho bạn một quẻ để soi việc; nó không chứng minh quẻ ấy là ý trời. Các phép đoán khác nhau đọc cùng một lần gieo theo cách khác nhau: lối nghĩa lý đọc lời hào như bài này làm; Lục Hào lấy đúng sáu hào ấy nạp can chi, xét ngũ hành, gần như không đọc lời hào. Hai lối có thể ra lời khuyên khác nhau, xem tượng số và nghĩa lý.
Quy ước mặt chữ, mặt lưng có hai dòng truyền; bài theo dòng Lục Hào. Người dùng quy ước ngược lại vẫn ra xác suất y hệt, chỉ cần không đổi qua lại. Còn chuyện gieo trên điện thoại có khác tung tay không, xem bài gieo quẻ online có linh không.
Việc nên làm
- Chọn ba đồng xu giống nhau, dành riêng cho việc gieo, ghi quy ước mặt vào trang đầu sổ.
- Mỗi lần gieo một trang: ngày, câu hỏi, sáu dòng ghi từ dưới lên kèm số, quẻ chính, quẻ biến, ba dòng tự đọc.
- Tập đọc hình hai quẻ đơn trước khi tra bảng; sau vài chục lần bạn sẽ nhận ra quẻ ngay từ sáu vạch.
- Gặp quẻ có từ ba hào động trở lên, mở bài quy tắc của Chu Hy ra đọc thay vì đọc hết mọi hào.
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Nguồn tham khảo
- Chu Dịch, Hệ Từ thượng, chương Đại diễn (trích nguyên văn hai đoạn về phép cỏ thi).
- Chu Hy, Dịch Học Khải Mông, các thiên Minh thi sách và Khảo biến chiêm (dẫn đại ý).
- Hoả Châu Lâm, sách Lục Hào truyền thống gắn với đời Tống: bốn tên hào đơn, sách, trùng, giao (dẫn đại ý; người soạn và niên đại sách còn bàn cãi).
- Chu Dịch, quẻ Ích (hào lục nhị, cửu ngũ) và quẻ Tổn (trích nguyên văn lời hào).
Câu hỏi thường gặp
Mặt nào của đồng xu là âm, mặt nào là dương?
Theo truyền thống Lục Hào, mặt chữ là âm (tính 2), mặt lưng là dương (tính 3). Có sách đảo lại; xác suất không đổi, miễn là bạn giữ một quy ước cố định.
Vì sao hai mặt lưng lại ra hào âm?
Vì mặt lẻ loi làm chủ. Hai lưng một chữ thì mặt chữ đứng một mình nên hào là âm, cộng lại được 8, thiếu âm. Đây cũng là lẽ khiến quẻ Chấn có hai hào âm mà vẫn là quẻ dương.
Hào động là gì?
Là hào ra số 6 (lão âm) hoặc 9 (lão dương), tức hào đã "già" đến mức sắp chuyển sang mặt kia. Đổi các hào ấy sẽ ra quẻ biến, và lời của hào động thường là phần nói thẳng nhất với việc đang hỏi.
Dùng đồng xu Việt Nam hiện nay có được không?
Được, miễn ba đồng cùng loại, cùng độ mòn và bạn chốt trước mặt nào tính là "chữ". Đồng tiền cổ chỉ có giá trị gợi nhớ, không làm kết quả khác đi.
Gieo bằng đồng xu có giống bói cỏ thi không?
Giống ở số hào động trung bình và ở tỷ lệ âm dương, khác ở chỗ hào nào động: cỏ thi ra lão dương 3/16, lão âm 1/16; đồng xu ra mỗi loại 1/8. Đồng xu là cách làm tắt của đời sau.
Nguồn tham khảo: Chu Dịch — Hệ Từ thượng, chương Đại diễn — phép bói cỏ thi: năm mươi cọng, dùng bốn mươi chín, mười tám lần biến thành quẻ · Dịch Học Khải Mông — Chu Hy — Minh thi sách, Khảo biến chiêm · Hoả Châu Lâm (truyền thống Lục Hào, đời Tống) — bốn tên hào khi dùng tiền: đơn, sách, trùng, giao · Chu Dịch — quẻ Ích, quẻ Tổn — hào lục nhị, cửu ngũ quẻ Ích