Sáu nạp âm hành Thủy: Giản Hạ, Tuyền Trung, Trường Lưu, Thiên Hà, Đại Khê, Đại Hải xếp theo đường đi của nước

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc

Sáu nạp âm hành Thủy: Giản Hạ, Tuyền Trung, Trường Lưu, Thiên Hà, Đại Khê, Đại Hải xếp theo đường đi của nước

Sáu nạp âm hành Thủy là sáu chặng của nước: Thiên Hà Thủy là nước trên trời (mưa, sương), Tuyền Trung là nước mạch, Giản Hạ là nước khe, Đại Khê là suối lớn, Trường Lưu là sông chảy dài, Đại Hải là biển. Hai thứ ở hai đầu, nước trời và nước biển, được sách cho là không sợ Thổ; hai thứ nhỏ là nước khe, nước mạch thì sợ đất lấp.

Năm 2026 và 2027 đều mang nạp âm Thiên Hà Thủy, nên đây là bài có nhiều người hỏi nhất trong năm hành. Bài lục thập hoa giáp đã giải từng tên; bài này đặt sáu thứ nước cạnh nhau theo đường đi của nước, theo mùa của chi, và theo sức trên vòng Trường Sinh, rồi lấy năm Đinh Mùi làm ví dụ.

Bảng sáu thứ Thủy

TênCan chiNăm sinh gần đâyTháng âm của hai chiThủy ở chi ấy (vòng Trường Sinh)
Thiên Hà ThủyBính Ngọ, Đinh Mùi1966–67, 2026–27Năm, SáuThai, Dưỡng
Tuyền Trung ThủyGiáp Thân, Ất Dậu1944–45, 2004–05Bảy, TámTrường Sinh, Mộc Dục
Giản Hạ ThủyBính Tý, Đinh Sửu1936–37, 1996–97Mười Một, ChạpĐế Vượng, Suy
Đại Khê ThủyGiáp Dần, Ất Mão1974–75, 2034–35Giêng, HaiBệnh, Tử
Trường Lưu ThủyNhâm Thìn, Quý Tỵ1952–53, 2012–13Ba, TưMộ, Tuyệt
Đại Hải ThủyNhâm Tuất, Quý Hợi1982–83, 2042–43Chín, MườiQuan Đới, Lâm Quan

Vòng Trường Sinh của Thủy khởi ở Thân. Năm sinh là năm âm lịch tính từ Tết; người sinh tháng Một, đầu tháng Hai dương lịch nên xem ngày Tết của năm sinh. Các cột tính bằng máy, tên nạp âm khớp bảng của bộ máy lá số trên site.

Đường đi của nước: từ mây xuống biển

Xếp sáu tên theo đường nước đi trong tự nhiên, ta được một vòng tuần hoàn khép kín. Đây là cách đọc của chúng tôi, không phải lời sách, nhưng mỗi chặng đều khớp với lời giải trong chương thủ tượng:

  1. Thiên Hà Thủy: nước trên trời, mưa và sương. Sách giải: Bính Đinh là Hỏa, Ngọ là chỗ Hỏa vượng, vậy mà nạp âm ra Thủy; nước sinh ra từ chỗ lửa mạnh nhất chỉ có thể là nước trên trời.
  2. Tuyền Trung Thủy: mưa ngấm xuống thành mạch, thành giếng. Thủy trường sinh ở Thân: nước vừa mới sinh, ít mà đều.
  3. Giản Hạ Thủy: mạch chảy ra khe. Thủy đế vượng ở Tý nhưng suy ở Sửu: vượng rồi lại suy nên không thành sông, chỉ là dòng khe nhỏ, trong.
  4. Đại Khê Thủy: khe gom lại thành suối lớn, chảy về phía đông (Dần, Mão).
  5. Trường Lưu Thủy: suối thành sông dài. Thìn là kho của Thủy, nước có kho chứa nên nguồn không cạn.
  6. Đại Hải Thủy: sông đổ ra biển. Thủy quan đới ở Tuất, lâm quan ở Hợi, sức nước đã dày. Biển bốc hơi thành mây, quay về chặng một.

Đặt cạnh tháng của chi, vòng này còn khớp với mùa của nước ở nước ta và phương Bắc: Thiên Hà Thủy ứng tháng Năm, tháng Sáu âm, đúng mùa mưa; Giản Hạ ứng tháng Mười Một, tháng Chạp, mùa khô, khe nước nhỏ nhất; Đại Khê ứng tháng Giêng, Hai, nước xuân về.

Sức trên vòng Trường Sinh và chỗ hình tượng đi ngược

Xếp theo sức của Thủy ở hai chi: Đại Hải (Quan Đới, Lâm Quan) và Giản Hạ (Đế Vượng, Suy) mạnh nhất; Tuyền Trung (Trường Sinh, Mộc Dục) đang lên; Đại Khê (Bệnh, Tử), Trường Lưu (Mộ, Tuyệt), Thiên Hà (Thai, Dưỡng) yếu.

Có hai chỗ hình tượng đi ngược sức, đáng chú ý:

  • Giản Hạ mạnh mà nhỏ. Thủy ở Tý là đế vượng, mạnh nhất, vậy mà tên lại là nước khe. Sách giải bằng chữ "Sửu": vượng rồi suy ngay, không đủ đà thành sông. Hình tượng lấy cả cặp, không lấy riêng chi đầu.
  • Trường Lưu yếu mà dài. Thủy ở Thìn là mộ, ở Tỵ là tuyệt, vậy mà tên là nước chảy dài. Sách giải bằng chữ "kho": Thìn là kho chứa nước, lại thêm Kim trường sinh ở Tỵ sinh Thủy. Nước yếu nhưng có kho và có nguồn nên không cạn.

Hai chỗ này cho thấy chương thủ tượng không đọc máy móc theo một tiêu chí; người soạn cân sức của hành, kho chứa, nguồn sinh và cảnh vật cùng lúc.

Thiên Hà và Đại Hải không sợ Thổ: lý lẽ của hình tượng

TênGặp ThổLý lẽ theo hình tượng
Thiên Hà Thủykhông sợ, có sách còn nói tưới cho đấtnước từ trên rơi xuống, đất ở dưới không chặn được
Đại Hải Thủykhông sợđê đất chỉ chạm được rìa biển
Trường Lưu Thủysông cần bờ; đất vừa là bờ, đất nhiều là lấpsuy từ hình tượng
Đại Khê Thủynhư Trường Lưu, nhẹ hơnsuy từ hình tượng
Giản Hạ Thủysợ: một xẻng đất là lấp khexu hướng các bản đời sau
Tuyền Trung Thủysợ: lở đất là vùi giếngxu hướng các bản đời sau

Hai dòng đầu là phần khẩu quyết "khắc mà thành" của hành Thủy, các bản thống nhất. Hai dòng cuối là xu hướng, câu chữ kém thống nhất hơn. Hai dòng giữa là suy từ hình tượng, ghi để thấy logic (bảng năm hành ở bài nạp âm phản sinh, phản khắc).

Ví dụ: năm Đinh Mùi 2027, năm Thiên Hà Thủy

Năm 2027 (từ Tết 6/2/2027) là Đinh Mùi, nạp âm Thiên Hà Thủy, cặp thứ hai của tên này sau Bính Ngọ 2026. Vài điều người đọc hay hỏi:

Bé sinh năm 2027 mang nạp âm gì? Thiên Hà Thủy, nếu sinh từ 6/2/2027 tới trước Tết Mậu Thân (26/1/2028). Bé sinh tháng Một năm 2027 dương lịch, trước Tết, vẫn là Bính Ngọ, cùng tên Thiên Hà Thủy (cách tính tuổi người sinh sát Tết ở bài tuổi mụ, tuổi âm, tuổi thật).

Đọc năm 2027 với các nạp âm khác theo lối "khắc mà thành". Với người mang Thổ, phép so phổ biến phán "Thổ khắc Thủy", nhưng Thiên Hà là nước trời, sách không xếp vào loại bị Thổ khắc. Với người mang các thứ lửa của trời như Tích Lịch Hỏa (sấm sét, sinh 1948–49, 2008–09), khẩu quyết lại nói gặp Thủy thì hiển: sấm đi cùng mưa. Còn với Phú Đăng, Lư Trung Hỏa (đèn, lò), "Thủy khắc Hỏa" mới đúng nghĩa (xem sáu nạp âm hành Hỏa).

Năm 2027 không phải "năm của người mệnh Thủy". Nạp âm của năm và nạp âm của tuổi là hai thứ khác nhau; năm nào cũng có nạp âm, và cả năm hành đều sống qua năm ấy như nhau. Các lớp khác của năm Đinh Mùi gom ở bài tử vi năm 2027.

Sách cổ nói gì

Thượng thiện nhược thủy. Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh.

Dịch: Bậc thiện cao nhất như nước. Nước khéo làm lợi cho muôn vật mà không tranh. — Đạo Đức Kinh, chương 8

Bình: Câu này không nói về nạp âm, nhưng nó là cách người xưa nhìn nước: thứ đi xuống chỗ thấp, nuôi mọi vật. Thiên Hà Thủy rơi từ trên xuống, Đại Hải gom mọi dòng; hai đầu của vòng nước đều "không tranh" với đất, và sách cho chúng không sợ Thổ.

Tam Mệnh Thông Hội, Luận nạp âm thủ tượng, đại ý: Bính Ngọ, Đinh Mùi là Thiên Hà Thủy; Bính Đinh thuộc Hỏa, Ngọ là chỗ Hỏa vượng mà nạp âm lại là Thủy; nước sinh từ lửa, ấy là nước trên trời.

Bình: Đây là một trong hai trường hợp (cùng với Tích Lịch Hỏa) mà hành nạp âm đi ngược hẳn hành của can chi, và sách giải bằng hiện tượng trời. Thiên Hà Thủy không phải nước của đất, nên không đọc theo luật của đất.

Đọc cho đúng mức

Nạp âm năm là chung cho cả lứa tuổi. Mọi em bé sinh năm 2027 đều mang Thiên Hà Thủy; nạp âm không nói gì riêng về em bé nào.

Cách đọc theo đường đi của nước là của chúng tôi. Sách giải từng tên, không xếp chúng thành vòng tuần hoàn; vòng ấy giúp nhớ và khớp với lời giải.

Phần "sợ Thổ" của Giản Hạ, Tuyền Trung kém thống nhất. Chỉ phần "không sợ Thổ" của Thiên Hà, Đại Hải là khẩu quyết rõ.

Việc nên làm

  1. Tra tên nạp âm năm sinh âm lịch bằng công cụ dưới đây; nhớ mốc Tết với người sinh đầu năm dương lịch.
  2. Khi nghe "Thổ khắc Thủy", xem tên Thủy là gì trước: Thiên Hà, Đại Hải theo sách không sợ Thổ.
  3. Muốn đọc một em bé sinh năm 2027 kỹ hơn nạp âm, lập lá số theo đúng ngày giờ sinh.
🔥Tra mệnh – cung phi
Mệnh nạp âm, cung phi, can chi theo ngày sinh (tính đúng người sinh trước Tết).
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Vạn Dân Anh, Tam Mệnh Thông Hội, quyển 1, Luận nạp âm thủ tượng (đại ý).
  • Lão Tử, Đạo Đức Kinh, chương 8.
  • Bảng nạp âm, tháng của chi, vòng Trường Sinh và ngày Tết 2027, 2028: tính bằng bộ âm lịch và bảng nạp âm của aihuyenhoc.com, đối chiếu một chương trình riêng.

Câu hỏi thường gặp

Sinh năm 2027 là mệnh gì?

Theo nạp âm năm sinh là Thiên Hà Thủy (Đinh Mùi), áp cho người sinh từ Tết 6/2/2027 tới trước Tết 26/1/2028. Người sinh tháng Một năm 2027, trước Tết, thuộc Bính Ngọ, cũng là Thiên Hà Thủy.

Thiên Hà Thủy là gì?

Là nước trên trời: mưa, sương, dải Ngân Hà. Sách giải rằng Bính Ngọ, Đinh Mùi là chỗ Hỏa vượng mà nạp âm lại ra Thủy, nước sinh từ lửa nên là nước trời. Năm 1966, 1967, 2026, 2027 mang tên này.

Vì sao Thiên Hà Thủy và Đại Hải Thủy không sợ Thổ?

Theo hình tượng, nước trời rơi từ trên xuống nên đất không chặn được, còn biển lớn thì đê đất chỉ chạm được rìa. Đây là phần khẩu quyết "khắc mà thành" các bản chép khá thống nhất.

Giản Hạ Thủy là mạnh hay yếu?

Thủy ở Bính Tý là Đế Vượng, mạnh nhất, nhưng sang Đinh Sửu thì Suy. Vượng rồi suy ngay nên sách ví như nước khe nhỏ, trong. Hình tượng lấy cả cặp hai năm.

Trường Lưu Thủy khác Đại Khê Thủy thế nào?

Đại Khê Thủy (Giáp Dần, Ất Mão) là suối lớn chảy về đông; Trường Lưu Thủy (Nhâm Thìn, Quý Tỵ) là sông chảy dài, có Thìn là kho nước nên nguồn không cạn. Theo đường đi của nước, suối đổ vào sông.

Nguồn tham khảo: Tam Mệnh Thông Hội — Vạn Dân Anh — quyển 1, Luận nạp âm thủ tượng · Đạo Đức Kinh — chương 8 — câu thượng thiện nhược thủy

Mệnh khắc Cục, Cục khắc Mệnh trong tử vi: năm quan hệ, sách Việt đọc ra sao và máy đếm được bao nhiêuMệnh khắc Cục, Cục khắc Mệnh trong tử vi: năm quan hệ giữa nạp âm năm sinh và ngũ hành cục, cách sách Việt đọc, và máy đếm 8.640 …
Tam Mệnh Thông Hội luận 30 nạp âm: dịch và chú chương "Luận nạp âm thủ tượng" cho người ViệtDịch, chú chương Luận nạp âm thủ tượng của Tam Mệnh Thông Hội: một đời người trong 12 chi, đời của Kim, phép đối đãi, và chỗ các …
Giáp Tý là Kim hay Mộc: ngũ hành nạp âm khác ngũ hành của chính can chi thế nào, dùng ở đâuNgũ hành nạp âm và ngũ hành can chi: Giáp Tý can Mộc, chi Thủy, nạp âm Kim, ba hành ở ba chỗ dùng; thống kê 60 năm và vì sao Bát …
So nạp âm vợ chồng: Kim gặp Hỏa có thật là khắc — đọc theo lối "sinh khắc chế hoá" của sáchSo nạp âm vợ chồng: bảng 5×5 hành, tỉ lệ cặp bị gọi là khắc theo độ chênh tuổi, những cặp Tam Mệnh Thông Hội coi là khắc mà thành…
Vì sao gọi là "nạp âm": ngũ âm, mười hai luật và lời giải của Thẩm Quát trong Mộng Khê Bút ĐàmVì sao gọi là nạp âm: mười hai luật nhân năm âm thành sáu mươi âm gán cho sáu mươi can chi. Lời giải của Thẩm Quát, số Thái Huyền…
Sáu nạp âm hành Thổ: Lộ Bàng, Thành Đầu, Ốc Thượng, Bích Thượng, Đại Dịch, Sa Trung Thổ, ba thứ đất trống và ba thứ đất người đắpSáu nạp âm hành Thổ: đất đường, đất thành, ngói mái, đất vách, đất trạm dịch, đất cát; ba thứ đất trống cần Mộc, ba thứ người đắp…