Lục thập hoa giáp: bảng 60 năm, 30 tên nạp âm và hình tượng của từng tên

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 17 phút đọc

Lục thập hoa giáp: bảng 60 năm, 30 tên nạp âm và hình tượng của từng tên

Lục thập hoa giáp là vòng 60 cặp can chi, từ Giáp Tý đến Quý Hợi, dùng để gọi tên năm, tháng, ngày, giờ. Cứ hai cặp liền nhau, một dương một âm, chung một tên nạp âm, nên 60 cặp cho 30 tên, mỗi hành sáu tên. Năm 2027 là Đinh Mùi, nạp âm Thiên Hà Thủy, cặp thứ 44 của vòng.

🔥Tra mệnh – cung phi
Mệnh nạp âm, cung phi, can chi theo ngày sinh (tính đúng người sinh trước Tết).
✨ Dùng thử

Vì sao là 60 chứ không phải 120

Mười thiên can và mười hai địa chi, nếu ghép tự do, sẽ ra 10 × 12 = 120 cặp. Nhưng lịch không ghép tự do. Can và chi cùng tiến một bước mỗi năm (mỗi ngày, mỗi giờ), nên Giáp luôn đi với chi đứng ở vị trí lẻ thứ nhất, thứ ba, thứ năm…: Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất. Kết quả là can dương chỉ gặp chi dương, can âm chỉ gặp chi âm. Không bao giờ có năm Giáp Sửu hay Ất Tý.

Hai bánh xe 10 răng và 12 răng quay khớp nhau thì sau 60 bước mới về đúng chỗ cũ, vì 60 là bội chung nhỏ nhất của 10 và 12. Đó là toàn bộ "bí mật" của con số 60. Một đời người sống qua được một vòng gọi là "hoàn giáp", lễ mừng thọ 61 tuổi mụ của các cụ xưa chính là mừng lúc can chi năm sinh quay về.

Chữ "hoa" trong "hoa giáp" thường được giải là đan xen: can và chi xen nhau như hoa văn trên vải. Trong văn chương, "tuổi hoa giáp" còn dùng để chỉ người đã sống trọn một vòng sáu mươi năm.

Bảng 60 hoa giáp và năm dương lịch hai vòng gần nhất

Năm can chi bắt đầu từ mùng Một Tết, không phải 1/1 dương lịch. Người sinh tháng Một hoặc đầu tháng Hai dương lịch phải xem ngày Tết của năm sinh: sinh trước Tết thì thuộc dòng của năm liền trước. Bảng tính bằng bộ âm lịch của site và đối chiếu từng dòng với hàm can chi năm.

#Can chiNạp âmHànhVòng trướcVòng này
1Giáp TýHải Trung KimKim19241984
2Ất SửuHải Trung KimKim19251985
3Bính DầnLư Trung HỏaHỏa19261986
4Đinh MãoLư Trung HỏaHỏa19271987
5Mậu ThìnĐại Lâm MộcMộc19281988
6Kỷ TỵĐại Lâm MộcMộc19291989
7Canh NgọLộ Bàng ThổThổ19301990
8Tân MùiLộ Bàng ThổThổ19311991
9Nhâm ThânKiếm Phong KimKim19321992
10Quý DậuKiếm Phong KimKim19331993
11Giáp TuấtSơn Đầu HỏaHỏa19341994
12Ất HợiSơn Đầu HỏaHỏa19351995
13Bính TýGiản Hạ ThủyThủy19361996
14Đinh SửuGiản Hạ ThủyThủy19371997
15Mậu DầnThành Đầu ThổThổ19381998
16Kỷ MãoThành Đầu ThổThổ19391999
17Canh ThìnBạch Lạp KimKim19402000
18Tân TỵBạch Lạp KimKim19412001
19Nhâm NgọDương Liễu MộcMộc19422002
20Quý MùiDương Liễu MộcMộc19432003
21Giáp ThânTuyền Trung ThủyThủy19442004
22Ất DậuTuyền Trung ThủyThủy19452005
23Bính TuấtỐc Thượng ThổThổ19462006
24Đinh HợiỐc Thượng ThổThổ19472007
25Mậu TýTích Lịch HỏaHỏa19482008
26Kỷ SửuTích Lịch HỏaHỏa19492009
27Canh DầnTùng Bách MộcMộc19502010
28Tân MãoTùng Bách MộcMộc19512011
29Nhâm ThìnTrường Lưu ThủyThủy19522012
30Quý TỵTrường Lưu ThủyThủy19532013
31Giáp NgọSa Trung KimKim19542014
32Ất MùiSa Trung KimKim19552015
33Bính ThânSơn Hạ HỏaHỏa19562016
34Đinh DậuSơn Hạ HỏaHỏa19572017
35Mậu TuấtBình Địa MộcMộc19582018
36Kỷ HợiBình Địa MộcMộc19592019
37Canh TýBích Thượng ThổThổ19602020
38Tân SửuBích Thượng ThổThổ19612021
39Nhâm DầnKim Bạch KimKim19622022
40Quý MãoKim Bạch KimKim19632023
41Giáp ThìnPhú Đăng HỏaHỏa19642024
42Ất TỵPhú Đăng HỏaHỏa19652025
43Bính NgọThiên Hà ThủyThủy19662026
44Đinh MùiThiên Hà ThủyThủy19672027
45Mậu ThânĐại Trạch Thổ (bản Hán: Đại Dịch Thổ)Thổ19682028
46Kỷ DậuĐại Trạch Thổ (bản Hán: Đại Dịch Thổ)Thổ19692029
47Canh TuấtThoa Xuyến KimKim19702030
48Tân HợiThoa Xuyến KimKim19712031
49Nhâm TýTang Đố Mộc (bản Hán: Tang Chá Mộc)Mộc19722032
50Quý SửuTang Đố Mộc (bản Hán: Tang Chá Mộc)Mộc19732033
51Giáp DầnĐại Khê ThủyThủy19742034
52Ất MãoĐại Khê ThủyThủy19752035
53Bính ThìnSa Trung ThổThổ19762036
54Đinh TỵSa Trung ThổThổ19772037
55Mậu NgọThiên Thượng HỏaHỏa19782038
56Kỷ MùiThiên Thượng HỏaHỏa19792039
57Canh ThânThạch Lựu MộcMộc19802040
58Tân DậuThạch Lựu MộcMộc19812041
59Nhâm TuấtĐại Hải ThủyThủy19822042
60Quý HợiĐại Hải ThủyThủy19832043

Năm ngoài bảng thì cộng hoặc trừ 60: người sinh 1864 hay 2044 cùng can chi, cùng nạp âm với dòng 1924 và 1984.

Bốn điều đọc ra từ bảng mà ít người để ý

Một: nạp âm là hành thứ ba, không phải hành của can hay chi. Giáp Tý có can Giáp thuộc Mộc, chi Tý thuộc Thủy, nhưng nạp âm lại là Kim. Ba hành khác nhau, dùng ở ba chỗ khác nhau. Người nói "tôi mệnh Kim" là đang nói nạp âm của năm sinh, không nói gì về can, chi. Bài Giáp Tý là Kim hay Mộc đi kỹ chỗ này.

Hai: cặp nào cũng là dương trước, âm sau. Giáp Tý – Ất Sửu, Bính Dần – Đinh Mão… Người sinh năm dương và người sinh năm âm trong cùng một cặp mang cùng một tên nạp âm. Vì sao người xưa ghép đôi như vậy, câu trả lời nằm ở nguồn gốc âm nhạc của phép nạp âm, xem bài vì sao gọi là nạp âm và vì sao hai năm liền nhau chung một nạp âm.

Ba: hai nửa vòng có cùng một trình tự hành. Đặt ba mươi năm đầu (Giáp Tý đến Quý Tỵ) cạnh ba mươi năm sau (Giáp Ngọ đến Quý Hợi), trình tự hành giống hệt nhau: Kim, Hỏa, Mộc, Thổ, Kim, Hỏa, Thủy, Thổ, Kim, Mộc, Thủy, Thổ, Hỏa, Mộc, Thủy. Hệ quả thực tế: hai người sinh cách nhau đúng 30 năm luôn cùng hành nạp âm, nhưng khác tên. Sinh 1984 là Hải Trung Kim, con sinh 2014 là Sa Trung Kim; cùng "mệnh Kim" theo cách nói dân gian, nhưng một bên là vàng chìm đáy biển, một bên là vàng lẫn trong cát. Chỗ khác nhau ấy chính là phần hình tượng ở hai mục dưới.

Bốn: mỗi hành đúng sáu tên, không hành nào nhiều hơn. Ba mươi tên chia đều cho năm hành. Không có "mệnh hiếm", cũng không có hành nào được trời ưu ái về số lượng. Năm bài sáu nạp âm hành Kim, hành Mộc, hành Thủy, hành Hỏa, hành Thổ so sáu tên của từng hành cạnh nhau.

Hình tượng 15 tên nửa vòng đầu: Giáp Tý đến Quý Tỵ

Các tên nạp âm không đặt tuỳ hứng. Tam Mệnh Thông Hội của Vạn Dân Anh (đời Minh), quyển 1, có chương "Luận nạp âm thủ tượng" giải từng tên bằng một lối lập luận rất nhất quán: xem chi của cặp năm ấy là đất vượng hay đất suy của hành nạp âm (theo vòng Tràng Sinh), rồi chọn một vật trong đời thường có đúng trạng thái ấy. Dưới đây là đại ý lời giải trong sách, kèm phần chúng tôi diễn ra cho dễ hình dung. Lời giải nào chúng tôi thấy gượng thì nói thẳng.

Giáp Tý, Ất Sửu – Hải Trung Kim (vàng trong biển). Tý thuộc Thủy, là đất Thủy vượng; Kim đến Tý là "tử", đến Sửu là "mộ". Kim ở nơi nước đang mạnh mà bản thân đang lặn, nên ví như vàng chìm dưới biển: có thật nhưng chưa ai thấy.

Bính Dần, Đinh Mão – Lư Trung Hỏa (lửa trong lò). Dần, Mão là lúc dương khí lên ba, lên bốn; Hỏa vừa có chỗ đứng lại được Mộc của Dần Mão nuôi. Sách nói "trời đất mở lò, vạn vật bắt đầu sinh". Lửa lò là lửa có khuôn, có người giữ, cháy đều chứ không bùng.

Mậu Thìn, Kỷ Tỵ – Đại Lâm Mộc (cây rừng lớn). Thìn là đồng nội, Tỵ là lúc sáu hào đều dương, cây cối cành lá sum suê. Cây lớn mọc giữa đồng nội thì thành rừng.

Canh Ngọ, Tân Mùi – Lộ Bàng Thổ (đất ven đường). Mộc trong Mùi sinh cho Hỏa vượng của Ngọ, Hỏa vượng thì Thổ bị nung. Đất bị nung chưa nuôi được cây, như đất ven đường: ai cũng đi qua, chưa trồng được gì, nhưng đường thì cần nó.

Nhâm Thân, Quý Dậu – Kiếm Phong Kim (vàng mũi kiếm). Thân, Dậu là chính vị của Kim; Kim lâm quan ở Thân, đế vượng ở Dậu. Kim mạnh nhất thì cứng nhất, mà cứng thì không gì hơn mũi kiếm.

Giáp Tuất, Ất Hợi – Sơn Đầu Hỏa (lửa đầu núi). Tuất, Hợi là "cửa trời" (thiên môn) ở góc tây bắc. Lửa soi tới cửa trời thì ánh sáng ở chỗ cao nhất, như ngọn lửa trên đỉnh núi nhìn được từ xa.

Bính Tý, Đinh Sửu – Giản Hạ Thủy (nước dưới khe). Thủy vượng ở Tý nhưng suy ở Sửu. Vượng rồi lại suy thì không thành sông lớn, chỉ là dòng nước dưới khe núi: nhỏ, trong, không cạn.

Mậu Dần, Kỷ Mão – Thành Đầu Thổ (đất đầu thành). Mậu, Kỷ là Thổ; Dần thuộc quẻ Cấn, Cấn là núi. Thổ chồng lên thành núi, hay đắp thành tường thành. Đây là đất đã có người vun đắp, có hình khối.

Canh Thìn, Tân Tỵ – Bạch Lạp Kim (kim như sáp trắng). Kim "dưỡng" ở Thìn, "trường sinh" ở Tỵ: hình chất mới thành, chưa cứng chưa sắc. Ví như kim loại còn mềm như sáp. Sách Việt có bản giải là "chân nến bằng thiếc"; ý chính vẫn là thứ kim chưa tôi luyện.

Nhâm Ngọ, Quý Mùi – Dương Liễu Mộc (cây dương liễu). Mộc "tử" ở Ngọ, "mộ" ở Mùi, dù được Thủy của Nhâm Quý nuôi thì cuối cùng vẫn mềm yếu. Cây liễu rủ là hình ảnh ấy: cành mềm, chịu gió bằng cách nghiêng theo gió.

Giáp Thân, Ất Dậu – Tuyền Trung Thủy (nước trong suối, trong giếng). Kim vượng ở Thân Dậu, Kim sinh Thủy, nên nước từ đó mà ra; nhưng vừa mới sinh, sức chưa lớn. Bản Hán có chỗ chép là "Tỉnh Tuyền Thủy", nước giếng mạch. Nước mạch ít mà đều, đào sâu mới có.

Bính Tuất, Đinh Hợi – Ốc Thượng Thổ (đất trên mái nhà). Bính Đinh là Hỏa, Tuất Hợi là cửa trời; lửa đã bốc lên thì Thổ không nằm dưới thấp nữa. Đất nung thành ngói, nằm trên mái, che cho người bên dưới.

Mậu Tý, Kỷ Sửu – Tích Lịch Hỏa (lửa sấm sét). Tý là chính vị của Thủy, vậy mà nạp âm ra Hỏa. Lửa ở giữa nước thì chỉ có sấm sét trong mây mưa. Đây là lối "thủ tượng" táo bạo nhất trong ba mươi tên, và là lý do sách sau coi Tích Lịch Hỏa là thứ lửa "cần" Thủy.

Canh Dần, Tân Mão – Tùng Bách Mộc (cây tùng, cây bách). Mộc lâm quan ở Dần, đế vượng ở Mão. Mộc đã vượng thì không thuộc loại mềm yếu; hình ảnh là tùng bách đứng được qua mùa đông.

Nhâm Thìn, Quý Tỵ – Trường Lưu Thủy (nước chảy dài). Thìn là kho của Thủy, Tỵ là chỗ Kim trường sinh. Nước có kho chứa lại gặp Kim sinh thêm thì nguồn không cạn, chảy dài.

Hình tượng 15 tên nửa vòng sau: Giáp Ngọ đến Quý Hợi

Giáp Ngọ, Ất Mùi – Sa Trung Kim (vàng trong cát). Ngọ là đất Hỏa vượng, Kim gặp Hỏa vượng thì bại; sang Mùi Hỏa suy, Kim mới đến "quan đới". Kim vừa qua cơn bại, sức chưa đủ, nên ví như vàng còn lẫn trong cát, phải đãi mới thấy. So với Hải Trung Kim cùng vị trí ở nửa vòng đầu: cùng là vàng chưa lộ, một bên chìm sâu, một bên nằm nông chờ người đãi.

Bính Thân, Đinh Dậu – Sơn Hạ Hỏa (lửa dưới núi). Thân là "cửa đất", Dậu là cửa mặt trời lặn; đến lúc này mặt trời không còn chiếu sáng. Lửa dưới chân núi là đèn đuốc lúc chiều tối, ánh nhỏ nhưng ấm.

Mậu Tuất, Kỷ Hợi – Bình Địa Mộc (cây đồng bằng). Tuất là đồng nội, Hợi là chỗ Mộc trường sinh. Cây sinh ra ở đồng nội thì không phải một gốc một cây mà cả một vùng cây cỏ.

Canh Tý, Tân Sửu – Bích Thượng Thổ (đất trên vách). Sửu tuy là chính vị của Thổ nhưng Tý là đất Thủy vượng; Thổ gặp nhiều nước thành bùn, trát lên vách. Đất vách không đứng một mình được, phải bám vào khung nhà.

Nhâm Dần, Quý Mão – Kim Bạch Kim (vàng lá). Dần Mão là đất Mộc vượng, Mộc vượng thì Kim yếu; Kim "tuyệt" ở Dần, "thai" ở Mão. Kim không có sức thì chỉ dát mỏng được thành lá. Chữ Hán là 金箔, "bạc" (箔) nghĩa là lá mỏng; sách Việt quen viết "Kim Bạch" nên nhiều người hiểu thành "vàng trắng", không đúng ý gốc. Vàng lá dùng để thếp lên tượng, lên hoành phi: mỏng nhưng làm sáng cả vật nó phủ lên.

Giáp Thìn, Ất Tỵ – Phú Đăng Hỏa (lửa đèn có chụp). Lời giải trong sách nói Thìn là giờ ăn sáng, Tỵ là gần trưa, mặt trời sắp lên đỉnh, ánh sáng rải khắp thiên hạ. Thật lòng mà nói, lời giải này khớp với "mặt trời" hơn là với "ngọn đèn"; chúng tôi ghi lại đúng như sách và lưu ý chỗ gượng. Hình tượng quen dùng là ngọn đèn có chụp, soi trong đêm, cần dầu để cháy.

Bính Ngọ, Đinh Mùi – Thiên Hà Thủy (nước sông trời). Bính Đinh là Hỏa, Ngọ là đất Hỏa vượng, vậy mà nạp âm ra Thủy. Nước sinh ra từ chỗ lửa mạnh nhất thì chỉ có thể là nước trên trời: mưa, sương, dải Ngân Hà. Năm 2026 và 2027 đều mang tên này; bài năm 2027 là năm con gì nói thêm về năm Đinh Mùi.

Mậu Thân, Kỷ Dậu – Đại Dịch Thổ, sách Việt chép Đại Trạch Thổ. Thân thuộc quẻ Khôn, Khôn là đất; Dậu thuộc quẻ Đoài, Đoài là đầm. Thổ Mậu Kỷ đắp thêm lên Khôn, Đoài thì dày rộng, không mỏng như các loại đất khác. Bản Hán viết 大驛土, "dịch" là trạm ngựa, đường cái quan: đất của con đường lớn ai cũng qua lại. Phần lớn sách Việt chép "Đại Trạch Thổ" và giải là đất nền nhà lớn hoặc đất đầm lớn. Chúng tôi chưa thấy văn bản nào giải thích vì sao có chỗ lệch này; hai khả năng là chữ 驛 có phần 睪 giống chữ 澤 (trạch, đầm), và chính lời giải có câu "Đoài là trạch".

Canh Tuất, Tân Hợi – Thoa Xuyến Kim (vàng trâm xuyến). Kim đến Tuất thì suy, đến Hợi thì bệnh; Kim đã suy bệnh thì mềm. Thứ kim mềm mà quý là đồ trang sức: trâm cài tóc, vòng đeo tay. Đẹp, tinh, nhưng không dùng để chặt chém.

Nhâm Tý, Quý Sửu – Tang Chá Mộc, sách Việt chép Tang Đố Mộc. Tý là Thủy sinh Mộc, Sửu là Thổ vun gốc; đang giữa mùa rét nên cây không cao lớn, chỉ là những cây bụi lá nuôi tằm. Chữ Hán là 桑柘: "tang" là cây dâu, "chá" (柘) là một loài cây cùng họ, lá cũng nuôi tằm được. Sách Việt chép "Tang Đố", có bản "Tang Thạch"; nghĩa đúng vẫn là cây dâu, cây chá, hai thứ cây chịu cắt lá nhiều lần mà vẫn đâm chồi.

Giáp Dần, Ất Mão – Đại Khê Thủy (nước khe lớn). Dần ở góc đông bắc, Mão ở chính đông; nước chảy về đông là thuận dòng, khe suối ao đầm đều gom về. Đây là dòng suối lớn đổ ra sông.

Bính Thìn, Đinh Tỵ – Sa Trung Thổ (đất trong cát). Thổ vào kho ở Thìn, "tuyệt" ở Tỵ; nhưng Hỏa của Bính Đinh đến Thìn là quan đới, đến Tỵ là lâm quan, lửa vượng lại sinh cho Thổ. Đất đã tàn được lửa nung lại thành cát, cát lắng thành bãi.

Mậu Ngọ, Kỷ Mùi – Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời). Ngọ là đất Hỏa vượng, Mộc tàng trong Mùi lại sinh thêm. Lửa vốn bốc lên, lại gặp chỗ được sinh, thì là lửa trên trời: mặt trời giữa trưa.

Canh Thân, Tân Dậu – Thạch Lựu Mộc (gỗ cây lựu). Thân là tháng Bảy, Dậu là tháng Tám, lúc cây cối tàn úa vì Kim vượng; riêng cây lựu lại kết trái đúng mùa này. Hình tượng một thứ cây ra quả khi xung quanh đang rụng lá.

Nhâm Tuất, Quý Hợi – Đại Hải Thủy (nước biển lớn). Thủy quan đới ở Tuất, lâm quan ở Hợi, sức nước đã dày; Hợi lại ứng với sông lớn. Nước gom từ mọi dòng về thì thành biển.

Lối giải chung đằng sau 30 tên

Đọc liền ba mươi lời giải sẽ thấy một mẫu số chung, đáng nắm hơn là học thuộc từng tên:

Trạng thái của hành nạp âm tại chi nămVí dụKiểu hình tượng sách chọn
Đang lâm quan, đế vượngKiếm Phong Kim, Tùng Bách Mộc, Đại Hải Thủyvật cứng, lớn, đã thành hình
Mới sinh, mới dưỡngBạch Lạp Kim, Tuyền Trung Thủy, Bình Địa Mộcvật còn non, nhỏ mà đều
Suy, bệnh, tử, mộ, tuyệtHải Trung Kim, Dương Liễu Mộc, Kim Bạch Kim, Thoa Xuyến Kimvật mềm, ẩn, mỏng, phải nương vào thứ khác
Hành nạp âm trái với hành của chiTích Lịch Hỏa, Thiên Hà Thủyhiện tượng trời: sấm sét, mưa

Nhìn bằng bảng này thì thấy hình tượng nạp âm không phải lời khen chê. "Vàng lá", "đất vách", "cây liễu" không kém "mũi kiếm", "biển lớn"; chúng chỉ cho biết hành ấy đang ở trạng thái nào và cần nương vào cái gì. Từ đây mới có lối đọc "khắc mà thành" của sách cổ: Kiếm Phong Kim cần Hỏa để tôi, Thiên Hà Thủy không sợ Thổ. Bài những cặp nạp âm khắc mà thành đi hết các trường hợp ấy.

Lục thập hoa giáp dùng ở đâu

  • Gọi tên thời gian. Năm, tháng, ngày, giờ đều chạy theo vòng 60. Ngày can chi chạy liên tục không đứt từ đời Xuân Thu đến nay; đó là chuỗi đếm ngày dài nhất còn dùng. Cách tính can chi năm, ngày ở bài tính can chi của năm bất kỳ.
  • Bản mệnh và cục trong Tử Vi. Nạp âm năm sinh là bản mệnh; nạp âm của can chi cung Mệnh là cục, thứ quyết định vị trí sao Tử Vi và tuổi khởi đại vận. Xem ngũ hành cục trong tử vi và nạp âm trong Tử Vi và Bát Tự.
  • Xem tuổi dân gian. So nạp âm vợ chồng, tuổi làm ăn, ngày khắc tuổi. Đây là tầng nông nhất và cũng là tầng hay bị đọc quá tay nhất.
  • Phong thủy các phái cũ. La kinh của phái Tam Hợp có vòng sáu mươi long ghi nạp âm từng long để xét sinh khắc với tọa sơn.

Sách cổ nói gì

Lục thập giáp tý hữu nạp âm, tiển nguyên kỳ ý, cái lục thập luật toàn tương vi cung pháp dã. Nhất luật hàm ngũ âm, thập nhị luật nạp lục thập âm dã.

Dịch: Sáu mươi giáp tý có nạp âm, ít ai truy đến gốc ý của nó; ấy là phép sáu mươi luật xoay vòng làm cung. Mỗi luật chứa năm âm, mười hai luật thu nạp sáu mươi âm. — Thẩm Quát, Mộng Khê Bút Đàm, phần Nhạc luật

Bình: đây là lời giải sớm và rõ nhất về chữ "nạp âm": mười hai luật của âm nhạc cổ, mỗi luật năm âm, thành sáu mươi âm, gán vào sáu mươi cặp can chi. Phần tên gọi hình tượng (Hải Trung, Lư Trung…) là lớp sau, và đến Tam Mệnh Thông Hội mới có một chương giải trọn ba mươi tên. Hai lớp này khác tuổi nhau: lớp âm luật là cái khung, lớp hình tượng là cách người đời sau đọc cái khung ấy cho dễ nhớ.

Tam Mệnh Thông Hội, chương "Luận nạp âm thủ tượng", đại ý mở đầu: các tên nạp âm đều lấy tượng từ chỗ sinh, vượng, suy, tuyệt của ngũ hành tại can chi; hiểu được chỗ ấy thì hiểu vì sao cùng một hành mà có vật lớn vật nhỏ, vật cứng vật mềm. Lời giải từng tên ở hai mục trên là đại ý của chương này.

Đọc cho đúng mức

  • Hình tượng là cách gợi nhớ, không phải lời phán tính cách. "Hải Trung Kim" không có nghĩa người sinh 1984 kín đáo hơn người sinh 1992 (Kiếm Phong Kim). Không có nghiên cứu nào cho thấy điều đó, và chính sách cổ cũng dùng hình tượng để luận quan hệ sinh khắc chứ không để tả tính người.
  • Bát Tự chính thống không lấy nạp âm làm gốc. Từ đời Tống, phái Tử Bình chuyển sang lấy can ngày làm chủ và luận bằng hành của can chi, tàng can. Nạp âm năm sinh là di sản của lối luận mệnh cũ, còn sống mạnh trong xem tuổi dân gian và trong Tử Vi.
  • Ranh năm khác nhau giữa các môn. Lịch Việt và Tử Vi đổi năm ở Tết; Bát Tự đổi năm ở tiết Lập Xuân (khoảng 4/2). Người sinh giữa hai mốc có thể mang hai can chi năm khác nhau, kéo theo hai nạp âm khác nhau. Xem bốn con giáp của một người.
  • Tên gọi có dị bản. Đại Trạch/Đại Dịch, Tang Đố/Tang Chá, Kim Bạch/Kim Bạc, Tuyền Trung/Tỉnh Tuyền. Khi tra hai nguồn thấy khác tên, so can chi và hành trước; hai thứ đó không có dị bản.

Việc nên làm

  1. Xác định đúng năm âm lịch sinh của mình (nhất là người sinh tháng Một, tháng Hai dương lịch), rồi mới tra bảng.
  2. Ghi lại ba thứ cạnh nhau: can chi năm sinh, tên nạp âm, hành. Khi đọc bất kỳ trang nào nói "mệnh Kim, mệnh Thủy", biết ngay họ đang nói tầng nào.
  3. Nếu dùng nạp âm để so tuổi, đọc thêm phần "khắc mà thành" trước khi kết luận cặp nào khắc.
  4. Muốn biết nạp âm của cung Mệnh (tức cục) và cách nó quyết định cả lá số, lập lá số theo ngày giờ sinh.

Xem lá số tử vi của chính bạn

Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.

Lập lá số miễn phí

Nguồn tham khảo

  • Vạn Dân Anh, Tam Mệnh Thông Hội — quyển 1, chương "Luận nạp âm thủ tượng" (đại ý lời giải 30 tên).
  • Thẩm Quát, Mộng Khê Bút Đàm — phần Nhạc luật, đoạn bàn về nạp âm (nguyên văn câu mở đầu).
  • Bảng can chi, nạp âm và năm dương lịch 1924–2043: tính bằng bộ âm lịch và bảng nạp âm của aihuyenhoc.com, đối chiếu từng dòng với hàm can chi năm; trình tự hành của hai nửa vòng kiểm bằng máy.

Câu hỏi thường gặp

Lục thập hoa giáp là gì?

Là vòng sáu mươi cặp can chi, từ Giáp Tý đến Quý Hợi, dùng để gọi tên năm, tháng, ngày, giờ. Can dương chỉ ghép với chi dương, can âm với chi âm, nên mười can và mười hai chi chỉ cho sáu mươi cặp chứ không phải một trăm hai mươi.

Vì sao hai năm liền nhau có cùng mệnh?

Vì phép nạp âm ghép mỗi cặp năm dương và năm âm liền nhau vào cùng một tên, như Giáp Tý và Ất Sửu cùng là Hải Trung Kim. Sáu mươi cặp can chi vì thế chỉ cho ba mươi tên nạp âm.

Năm 2027 là mệnh gì?

Năm Đinh Mùi 2027 có nạp âm Thiên Hà Thủy, nước sông trời, cùng tên với năm Bính Ngọ 2026. Năm Đinh Mùi tính từ mùng Một Tết, tức ngày 6/2/2027.

Đại Trạch Thổ và Đại Dịch Thổ có phải một không?

Là một. Đó là nạp âm của Mậu Thân và Kỷ Dậu. Bản Hán viết là Đại Dịch Thổ, đất đường cái có trạm ngựa; sách Việt phổ biến chép là Đại Trạch Thổ. Can chi và hành Thổ không đổi.

Người sinh cách nhau 30 năm có cùng mệnh không?

Cùng hành nạp âm nhưng khác tên. Hai nửa vòng hoa giáp có trình tự hành giống hệt nhau, nên người sinh 1984 (Hải Trung Kim) và 2014 (Sa Trung Kim) đều thuộc Kim, còn hình tượng thì khác.

Nguồn tham khảo: Tam Mệnh Thông Hội — Vạn Dân Anh — quyển 1, Luận nạp âm thủ tượng · Mộng Khê Bút Đàm — Thẩm Quát — phần Nhạc luật, đoạn bàn về nạp âm · Bảng can chi và nạp âm 1924–2043 tính bằng bộ âm lịch của aihuyenhoc.com

Tam Mệnh Thông Hội luận 30 nạp âm: dịch và chú chương "Luận nạp âm thủ tượng" cho người ViệtDịch, chú chương Luận nạp âm thủ tượng của Tam Mệnh Thông Hội: một đời người trong 12 chi, đời của Kim, phép đối đãi, và chỗ các …
Sáu nạp âm hành Hỏa: Lư Trung, Sơn Đầu, Tích Lịch, Sơn Hạ, Phú Đăng, Thiên Thượng và vì sao lửa trời lại cần nướcSáu nạp âm hành Hỏa: lửa lò, đèn, mặt trời, lửa chiều dưới núi, lửa đầu núi, sấm sét; ba nhóm lửa và vì sao Tích Lịch, Thiên Thượ…
Nạp âm của ngày sinh, giờ sinh: người xưa dùng làm gì, đọc thử một lá số bốn nạp âm và vì sao Tử Bình bỏNạp âm ngày sinh, giờ sinh: một lá Bát Tự có bốn nạp âm khác nhau, lối cũ lấy năm làm chủ đọc chúng ra sao, thai nguyên theo Thôn…
Những cặp nạp âm "khắc mà thành": Kiếm Phong Kim cần Hỏa, Đại Hải Thủy không sợ ThổNạp âm phản sinh phản khắc: vì sao Kiếm Phong, Sa Trung Kim cần Hỏa, Thiên Hà, Đại Hải Thủy không sợ Thổ, và nạp âm nào thật sự k…
Mệnh khắc Cục, Cục khắc Mệnh trong tử vi: năm quan hệ, sách Việt đọc ra sao và máy đếm được bao nhiêuMệnh khắc Cục, Cục khắc Mệnh trong tử vi: năm quan hệ giữa nạp âm năm sinh và ngũ hành cục, cách sách Việt đọc, và máy đếm 8.640 …
Sáu nạp âm hành Thủy: Giản Hạ, Tuyền Trung, Trường Lưu, Thiên Hà, Đại Khê, Đại Hải xếp theo đường đi của nướcSáu nạp âm hành Thủy từ mưa, mạch, khe, suối, sông tới biển; vì sao Thiên Hà, Đại Hải không sợ Thổ, Giản Hạ mạnh mà nhỏ; ví dụ nă…