Sáu nạp âm hành Thổ: Lộ Bàng, Thành Đầu, Ốc Thượng, Bích Thượng, Đại Dịch, Sa Trung Thổ, ba thứ đất trống và ba thứ đất người đắp
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc
Sáu nạp âm hành Thổ chia đôi gọn gàng: ba thứ đất còn trống, rời (Lộ Bàng là đất ven đường, Đại Dịch là đất đường cái có trạm, Sa Trung là đất cát) và ba thứ đất đã được người đắp thành hình (Thành Đầu là tường thành, Ốc Thượng là ngói trên mái, Bích Thượng là đất trát vách). Theo khẩu quyết, ba thứ đất trống cần Mộc giữ đất; ba thứ đã thành hình thì rễ cây là thứ phá.
Bài lục thập hoa giáp giải từng tên theo Tam Mệnh Thông Hội. Bài này so sáu thứ đất cạnh nhau, chỉ ra chỗ mà hành Thổ khó hơn mọi hành khác (nó có hai cách đặt lên vòng Trường Sinh), và chuyện cái tên Đại Dịch mà sách Việt chép là Đại Trạch.
Bảng sáu thứ Thổ
| Tên | Can chi | Năm sinh gần đây | Tháng âm của hai chi | Nhóm |
|---|---|---|---|---|
| Lộ Bàng Thổ | Canh Ngọ, Tân Mùi | 1930–31, 1990–91 | Năm, Sáu | đất trống |
| Đại Dịch Thổ (sách Việt: Đại Trạch Thổ) | Mậu Thân, Kỷ Dậu | 1968–69, 2028–29 | Bảy, Tám | đất trống |
| Sa Trung Thổ | Bính Thìn, Đinh Tỵ | 1976–77, 2036–37 | Ba, Tư | đất trống |
| Thành Đầu Thổ | Mậu Dần, Kỷ Mão | 1938–39, 1998–99 | Giêng, Hai | đất người đắp |
| Ốc Thượng Thổ | Bính Tuất, Đinh Hợi | 1946–47, 2006–07 | Chín, Mười | đất người đắp |
| Bích Thượng Thổ | Canh Tý, Tân Sửu | 1960–61, 2020–21 | Mười Một, Chạp | đất người đắp |
Tên nạp âm khớp bảng của bộ máy lá số trên site (bộ máy giữ tên "Đại Trạch Thổ" theo thói quen sách Việt). Năm sinh là năm âm lịch tính từ Tết.
Sự chia đôi ba và ba ở cột cuối là quan sát của chúng tôi, nhưng nó khớp đúng với nhóm "khắc mà thành" của khẩu quyết: Lộ Bàng, Đại Dịch, Sa Trung là ba tên được nói "cần Mộc". Ba tên còn lại đều là sản phẩm của bàn tay người: đắp thành, nung ngói, trát vách.
Thổ có hai vòng Trường Sinh: chỗ khó riêng của hành này
Bốn hành kia mỗi hành có một chỗ Trường Sinh rõ ràng (Kim ở Tỵ, Mộc ở Hợi, Thủy ở Thân, Hỏa ở Dần). Thổ thì không: sách xưa có hai lối.
- Thổ theo Thủy, Trường Sinh ở Thân. Lối này được Tử Vi dùng (Thổ ngũ cục khởi Tràng Sinh ở Thân, xem nạp âm trong Tử Vi và Bát Tự) và nhiều sách mệnh dùng.
- Thổ theo Hỏa, Trường Sinh ở Dần, với lý lẽ Hỏa sinh Thổ. Lối này có trong một số sách Tử Bình.
Đặt sáu tên lên hai vòng (tính bằng máy):
| Tên | Can chi | Thổ theo Thủy (sinh ở Thân) | Thổ theo Hỏa (sinh ở Dần) |
|---|---|---|---|
| Lộ Bàng Thổ | Canh Ngọ, Tân Mùi | Thai, Dưỡng | Đế Vượng, Suy |
| Đại Dịch Thổ | Mậu Thân, Kỷ Dậu | Trường Sinh, Mộc Dục | Bệnh, Tử |
| Sa Trung Thổ | Bính Thìn, Đinh Tỵ | Mộ, Tuyệt | Quan Đới, Lâm Quan |
| Thành Đầu Thổ | Mậu Dần, Kỷ Mão | Bệnh, Tử | Trường Sinh, Mộc Dục |
| Ốc Thượng Thổ | Bính Tuất, Đinh Hợi | Quan Đới, Lâm Quan | Mộ, Tuyệt |
| Bích Thượng Thổ | Canh Tý, Tân Sửu | Đế Vượng, Suy | Thai, Dưỡng |
Hai cột cho hai bức tranh gần như ngược nhau: thứ mạnh ở vòng này là thứ yếu ở vòng kia. Đọc lời giải của chương thủ tượng sẽ thấy người soạn dùng cả hai: Sa Trung Thổ được giải bằng "Thổ vào kho ở Thìn, tuyệt ở Tỵ" (theo Thủy), còn Lộ Bàng Thổ được giải bằng "Hỏa vượng ở Ngọ thì Thổ bị nung" (nhìn từ phía Hỏa). Vì vậy với hành Thổ, đừng xếp "mạnh yếu" bằng một vòng duy nhất rồi kết luận; chính sách cũng không làm vậy.
Đọc từng cặp: đất trống và đất người đắp
Lộ Bàng Thổ và Thành Đầu Thổ. Cùng là đất ở chỗ người qua lại: một bên là mặt đường, một bên là tường thành. Đường là đất bị nung, bị dẫm, chưa nuôi được cây nhưng ai cũng cần nó; tường thành là đất đã được đắp lên, có hình khối, dùng để che chắn.
Đại Dịch Thổ và Ốc Thượng Thổ. Đất đường cái có trạm dịch (đường lớn nối các vùng) và ngói trên mái nhà. Một thứ trải ra theo chiều ngang, nối người với người; một thứ nâng lên cao, che người ở dưới.
Sa Trung Thổ và Bích Thượng Thổ. Đất cát rời rạc và đất bùn trát vách. Cát không tự giữ được hình; bùn vách giữ được hình nhưng phải bám vào khung nhà.
Đọc theo cặp như vậy để thấy mỗi thứ đất trống có một "anh em" do người làm ra từ chính thứ đất ấy: đất đường thành tường, đất đường cái thành ngói lợp trạm, đất cát trộn nước thành vữa trát vách. Đây là cách ghép của chúng tôi để dễ nhớ, không phải lời sách.
Cần gì, kỵ gì
| Tên | Gặp Mộc | Ghi chú |
|---|---|---|
| Lộ Bàng Thổ | cần (cây giữ đất, che đường) | khẩu quyết "khắc mà thành" |
| Đại Dịch Thổ | cần | khẩu quyết |
| Sa Trung Thổ | cần (rễ giữ cát) | khẩu quyết |
| Bích Thượng Thổ | kỵ (rễ xuyên vách) | xu hướng các bản đời sau |
| Ốc Thượng Thổ | kỵ (rễ phá mái) | xu hướng các bản đời sau |
| Thành Đầu Thổ | tường thành cũng sợ rễ cây | suy từ hình tượng, sách ít bàn |
Ba dòng đầu thống nhất giữa các bản; hai dòng tiếp là xu hướng; dòng cuối là suy luận của chúng tôi. Bảng đủ năm hành ở bài nạp âm phản sinh, phản khắc.
Một ví dụ quen (cách so nạp âm hai người ở bài so nạp âm vợ chồng): người sinh 1990 (Canh Ngọ, Lộ Bàng Thổ) thường nghe "Mộc khắc Thổ, kỵ người mệnh Mộc". Theo khẩu quyết, Lộ Bàng là thứ đất cần cây; còn với người sinh 1960 hay 2020 (Bích Thượng Thổ), "Mộc khắc Thổ" mới gần nghĩa đen.
Đại Dịch hay Đại Trạch
Mậu Thân, Kỷ Dậu trong sách Việt là Đại Trạch Thổ (đất đầm lớn). Bản Hán của Tam Mệnh Thông Hội và các sách Trung Hoa viết 大驛土, đọc là Đại Dịch Thổ: 驛 là trạm dịch, chỗ đổi ngựa trên đường cái quan. Hai cái tên cho hai hình ảnh khác hẳn: đường lớn có trạm, và đầm nước lớn.
Lời giải của sách lại nhắc tới cả hai: Thân thuộc quẻ Khôn (đất), Dậu thuộc quẻ Đoài, mà Đoài trong Thuyết Quái là đầm (trạch). Có thể chữ "Đoài là trạch" trong lời giải đã kéo tên thành "Đại Trạch"; cũng có thể do chữ 驛 và chữ 澤 có chung phần bên phải nên dễ chép lẫn. Chúng tôi chưa tìm được văn bản nói rõ, nên chỉ nêu hai khả năng. Khi tra sách Trung Hoa, tìm theo "Đại Dịch Thổ". Trường hợp tương tự là "Tang Đố Mộc" của sách Việt, bản Hán là "Tang Chá Mộc" (xem sáu nạp âm hành Mộc).
Sách cổ nói gì
Tam Mệnh Thông Hội, Luận nạp âm thủ tượng, đại ý: Canh Ngọ, Tân Mùi là Lộ Bàng Thổ; Mộc trong Mùi sinh Hỏa vượng của Ngọ, Hỏa vượng thì Thổ bị nung, chưa nuôi được vật, như đất ven đường.
Bình: Lời giải này nhìn Thổ từ phía Hỏa, khác với lời giải Sa Trung Thổ nhìn từ phía kho Thủy. Một chương sách dùng hai lối là dấu hiệu cho thấy chính người xưa cũng không gò Thổ vào một vòng Trường Sinh.
Tam Mệnh Thông Hội, cùng chương, đại ý: Mậu Dần, Kỷ Mão là Thành Đầu Thổ; Mậu Kỷ là Thổ, Dần thuộc Cấn là núi, Thổ chồng lên thành núi, như đắp tường thành.
Bình: Thành Đầu được giải bằng quẻ (Cấn là núi), không bằng vòng Trường Sinh. Với hành Thổ, sách dựa vào quẻ và cảnh vật nhiều hơn các hành khác.
Đọc cho đúng mức
Hình tượng đất không phải lời phán về người. "Lộ Bàng" không có nghĩa người sinh năm Canh Ngọ thấp kém; "Thành Đầu" không có nghĩa người sinh năm Mậu Dần cứng rắn hơn ai.
Hai vòng Trường Sinh của Thổ là chuyện của các phái. Đừng lấy bảng mạnh yếu của một vòng làm lời phán; sách dùng cả hai.
Phần "kỵ Mộc" của Bích Thượng, Ốc Thượng là xu hướng, câu chữ không thống nhất như phần "cần Mộc" của ba thứ đất trống.
Việc nên làm
- Tra đúng tên nạp âm năm sinh bằng công cụ dưới đây; nhớ rằng "Đại Trạch Thổ" trên các bảng Việt là "Đại Dịch Thổ" trong sách Hán.
- Gặp lời phán "Mộc khắc Thổ", xem tên Thổ là gì: ba thứ đất trống theo khẩu quyết lại cần Mộc.
- Khi đọc sách nói Thổ "vượng ở đâu, suy ở đâu", hỏi sách ấy theo vòng nào, Thổ theo Thủy hay theo Hỏa.
Mệnh nạp âm, cung phi, can chi theo ngày sinh (tính đúng người sinh trước Tết).✨ Dùng thử
Nguồn tham khảo
- Vạn Dân Anh, Tam Mệnh Thông Hội, quyển 1, Luận nạp âm thủ tượng (đại ý).
- Vạn Dân Anh, Tam Mệnh Thông Hội, phần mười hai cung trường sinh, chỗ bàn Thổ (đại ý).
- Bảng nạp âm, tháng của chi, hai vòng Trường Sinh của Thổ: tính bằng bảng nạp âm của bộ máy lá số aihuyenhoc.com và một chương trình riêng.
Câu hỏi thường gặp
Sáu nạp âm Thổ gồm những tên nào?
Lộ Bàng Thổ (Canh Ngọ, Tân Mùi), Thành Đầu Thổ (Mậu Dần, Kỷ Mão), Ốc Thượng Thổ (Bính Tuất, Đinh Hợi), Bích Thượng Thổ (Canh Tý, Tân Sửu), Đại Dịch Thổ, sách Việt chép Đại Trạch Thổ (Mậu Thân, Kỷ Dậu), và Sa Trung Thổ (Bính Thìn, Đinh Tỵ).
Đại Trạch Thổ hay Đại Dịch Thổ mới đúng?
Bản Hán viết 大驛土, đọc là Đại Dịch Thổ, nghĩa là đất đường cái có trạm dịch. Sách Việt quen chép Đại Trạch Thổ; lý do chưa rõ, có thể do lời giải nhắc quẻ Đoài là đầm, hoặc do hai chữ Hán dễ chép lẫn.
Lộ Bàng Thổ có sợ Mộc không?
Theo khẩu quyết, Lộ Bàng Thổ là đất ven đường, cần cây giữ đất và che đường, nên gặp Mộc là "khắc mà thành". Người sinh năm 1990, 1991 mang nạp âm này.
Vì sao nói Thổ có hai vòng Trường Sinh?
Vì sách xưa có hai lối: Thổ theo Thủy (Trường Sinh ở Thân), dùng trong Tử Vi và nhiều sách mệnh, và Thổ theo Hỏa (Trường Sinh ở Dần), có trong một số sách Tử Bình. Hai lối cho bảng mạnh yếu gần như ngược nhau.
Bích Thượng Thổ là gì?
Là đất trát vách: Canh Tý, Tân Sửu, Thổ gặp nhiều nước thành bùn, trát lên vách nhà. Đất vách phải bám vào khung nhà mới đứng được. Người sinh năm 1960, 1961, 2020, 2021 mang nạp âm này.
Nguồn tham khảo: Tam Mệnh Thông Hội — Vạn Dân Anh — quyển 1, Luận nạp âm thủ tượng · Tam Mệnh Thông Hội — Vạn Dân Anh — phần mười hai cung trường sinh, chỗ bàn Thổ