Vì sao Đại Lục Nhâm có đúng 720 khóa: 60 ngày nhân 12 vị trí thiên bàn và bảng khóa thể

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc

Vì sao Đại Lục Nhâm có đúng 720 khóa: 60 ngày nhân 12 vị trí thiên bàn và bảng khóa thể

Đại Lục Nhâm có đúng 720 khóa vì bốn khóa và tam truyền chỉ phụ thuộc hai thứ: can chi của ngày (60 khả năng) và vị trí xoay của thiên bàn so với địa bàn (12 khả năng). 60 nhân 12 là 720. Nguyệt tướng và giờ tuy có 144 cách ghép, nhưng chỉ độ lệch giữa chúng là quan trọng.

Con số này được Lục Nhâm Đại Toàn ghi thẳng: "六壬总计七百二十课" — Lục Nhâm tổng cộng bảy trăm hai mươi khóa. Bài này giải phép đếm, chỉ ra những gì con số ấy không đếm, nói về cách sách cổ chia 720 khóa thành các "khóa thể", và vì sao một chương trình nhỏ làm việc tra khóa tốt hơn cuốn bảng in.

Một khóa cần những gì

Lập một khóa Đại Lục Nhâm (các bước ở bài lập thiên bàn, địa bàn, tứ khóa):

  1. Can chi ngày cho biết can ký ở cung nào và chi ngày ở đâu trên địa bàn.
  2. Nguyệt tướng gia lên giờ cho biết thiên bàn xoay bao nhiêu cung so với địa bàn.
  3. Từ hai thứ trên đọc ra bốn khóa (chi trên các cung của can và chi), rồi theo cửu tông môn lấy ra tam truyền.

Không bước nào dùng tháng, năm, tuổi người hỏi hay câu hỏi. Vậy số khóa khác nhau bằng số ngày khác nhau nhân số cách xoay thiên bàn.

Vì sao 12 chứ không phải 144

Nguyệt tướng có mười hai (đổi theo trung khí, xem nguyệt tướng và chiếm thời), giờ có mười hai. Thoạt nhìn có 144 cách ghép. Nhưng phép lập khóa chỉ cần biết thiên bàn bị xoay đi mấy cung, tức giờ trừ nguyệt tướng.

Ví dụ nguyệt tướng Hợi gia giờ Thìn: mọi chi thiên bàn đứng tiến bảy bậc so với chi địa bàn bên dưới. Nguyệt tướng Tý gia giờ Tỵ cũng tiến bảy bậc. Nguyệt tướng Tuất gia giờ Mão, cũng vậy. Mười hai cặp như thế cho cùng một thiên bàn. 144 cặp gom lại thành đúng 12 vị trí xoay.

Hai vị trí đặc biệt:

  • Độ lệch bằng 0: nguyệt tướng gia đúng giờ trùng tên, thiên bàn trùng địa bàn. Đó là Phục ngâm.
  • Độ lệch bằng 6: thiên bàn xoay nửa vòng, mọi chi nằm trên chi xung với nó. Đó là Phản ngâm.

Mỗi ngày có đúng một giờ Phục ngâm và một giờ Phản ngâm (nếu nguyệt tướng không đổi giữa ngày), nên trong 720 khóa có đúng 60 khóa Phục ngâm và 60 khóa Phản ngâm.

Một hệ quả ít người để ý: với nguyệt tướng cố định, mười hai giờ trong một ngày cho đủ mười hai vị trí xoay. Nghĩa là mỗi ngày đi qua trọn vẹn mười hai khóa của can chi ngày ấy, và sáu mươi ngày liên tiếp đi qua đủ 720 khóa.

Những gì 720 không đếm

Con số 720 chỉ đếm phần khung: bốn khóa và tam truyền. Một bàn Lục Nhâm đầy đủ còn có:

  • Thiên tướng. Quý Nhân an theo can ngày và theo ngày hay đêm, nên cùng một khóa có thể mang hai bộ tướng (xem Quý Nhân ngày và đêm). Tính cả tướng thì có 1.440 bàn.
  • Thần sát theo tháng, theo năm (Thiên Mã, Thiên Hỷ…): cùng một khóa, tháng khác thì nhãn khác (xem thần sát trong Lục Nhâm).
  • Năm mệnh, hành niên của người hỏi: các sách đặt thêm vào để đọc riêng cho từng người.
  • Câu hỏi, qua loại thần: cùng một khóa, hỏi tiền và hỏi việc nhìn vào hai chỗ khác nhau.

Vì thế "chỉ có 720 khóa" không có nghĩa là mọi người hỏi cùng giờ nhận cùng một lời đoán. Nó có nghĩa là phần khung chung, còn phần riêng đến từ các lớp bên trên.

Khóa thể: chia 720 khóa thành từng nhóm

Sách cổ không học 720 khóa từng cái một. Họ chia theo khóa thể (thể của khóa), mỗi thể có tên và một lời đoán chung. Lục Nhâm Đại Toàn (quyển 7 – 10, phần "Khóa kinh") xếp khoảng sáu mươi tư thể, mỗi thể gắn với một quẻ Dịch. Mấy thể đầu, theo bảng "Khóa mục" ở quyển 1:

Khóa thểĐiều kiện (rút gọn)Quẻ gắn kèm
Nguyên Thủmột khóa trên khắc dướiCàn
Trùng Thẩmmột khóa dưới khắc trênKhôn
Tri Nhất (Bỉ dụng)nhiều khắc, chọn cái cùng âm dương với ngàyTỷ
Thiệp Hạinhiều khắc, đều cùng hoặc đều khác âm dươngKhảm
Dao Khắcbốn khóa không khắc, xét khắc xa với canKhuê
Mão Tinhkhông khắc, không dao khắcLý
Bát Chuyênhai khóa không khắcĐồng Nhân
Phục Ngâmthiên bàn trùng địa bànCấn
Phản Ngâmthiên bàn xung địa bànChấn

Mười thể đầu đi theo đúng cửu tông môn (cách lấy sơ truyền); các thể sau đặt tên theo hình của tam truyền hay thần tướng (Tam Quang, Tam Dương, Phú Quý, Du Tử…). Một khóa vì thế có thể mang nhiều tên cùng lúc: vừa là Nguyên Thủ theo cách lấy sơ truyền, vừa là Du Tử vì ba truyền đều là chi Thổ có tuần Đinh. Khóa thể là bảng phân loại chồng lên nhau, không phải sáu mươi tư ngăn kéo tách rời.

Đại Toàn cho vài con số đếm: trong 720 khóa có 115 khóa Nguyên Thủ; và thể Độc Túc chỉ có một khóa duy nhất, ngày Kỷ Mùi với Dậu đóng trên can, khi ấy cả ba truyền cùng là Dậu và cùng nằm trên cung Mùi, nơi can Kỷ ký và cũng là chi ngày. Sách giải tên gọi: chỉ có một chân, thì đi đâu được.

Bảng tra in sẵn và máy tính

Vì chỉ có 720 khóa, người xưa có thể lập sẵn và tra. Nhưng cần nói rõ: Lục Nhâm Đại Toàn không in đủ 720 khóa; sau khi nêu vài khóa Nguyên Thủ, sách viết "举此数课为例,则余课可推矣" — nêu mấy khóa làm ví dụ, các khóa khác tự suy ra. Bảng đủ 720 khóa là việc của những người soạn sách tra về sau.

Một cuốn bảng 720 khóa giải quyết được phần khung, nhưng để tra được, người dùng vẫn phải tự làm ba việc dễ sai nhất:

  1. Biết nguyệt tướng đúng lúc xem. Nguyệt tướng đổi ở trung khí, vào một giờ phút cụ thể; xem trong ngày giao trung khí mà lấy nhầm tướng là lệch cả bàn.
  2. Biết can chi ngày và ranh giới ngày ở giờ Tý. Lục Nhâm đổi ngày ở đầu giờ Tý (23 giờ) hay ở nửa đêm là chỗ các thầy chưa thống nhất.
  3. Ghép thiên tướng và thần sát, phần mà bảng 720 khóa không chứa.

Máy tính làm cả ba việc từ ngày giờ dương lịch: tính tiết khí ra giờ phút, đổi can chi, xoay bàn, áp cửu tông môn, an tướng theo bản Quý Nhân đã chọn. Các bài Lục Nhâm trên site đều lập bàn bằng một chương trình nhỏ như vậy rồi đếm tay đối chiếu. Cái máy không làm thay được là đọc: chọn loại thần, cân sinh khắc, nói thành lời.

Sách cổ nói gì

Ở cuối phần Nguyên Thủ khóa, Lục Nhâm Đại Toàn viết:

六壬总计七百二十课,内合元首课凡一百一十五,举此数课为例,则余课可推矣。

Dịch: Lục Nhâm tổng cộng bảy trăm hai mươi khóa, trong đó hợp Nguyên Thủ khóa là một trăm mười lăm; nêu mấy khóa này làm ví dụ, các khóa khác có thể suy ra. — Lục Nhâm Đại Toàn, quyển 7

Về Độc Túc, sách viết: "己未日干上酉……于七百二十课中,止有此一课,故名独足" — ngày Kỷ Mùi, trên can là Dậu… trong bảy trăm hai mươi khóa chỉ có một khóa này, nên gọi là Độc Túc. — Lục Nhâm Đại Toàn, quyển 12

Bình: người soạn Đại Toàn rõ ràng đã đếm. Con số 115 cho Nguyên Thủ khác chút ít với con số chúng tôi tự đếm bằng chương trình (119, xem bảng ở bài cửu tông môn), và chênh lệch ấy nằm đúng ở các trường hợp biên, nơi sách và người lập trình phân loại khác nhau. Việc hai cách đếm gần khớp cho thấy phép lập khóa thật sự là một thuật toán; chỗ lệch cho thấy ngay cả thuật toán ấy cũng có nhánh mà các sách xử không giống nhau.

Đọc cho đúng mức

  • 720 là con số của phép tính, không phải của số phận. Nó cho biết phần khung của Lục Nhâm hữu hạn và kiểm được; nó không nói gì về độ đúng của lời đoán.
  • Hai người cùng giờ cùng khóa là chuyện bình thường của phép này. Ai nói Lục Nhâm "riêng cho từng người" thì phần riêng ấy nằm ở câu hỏi, năm mệnh và cách đọc, không nằm ở khóa.
  • Các bảng 720 khóa in khác nhau ở vài khóa: những khóa rơi vào nhánh hiếm của cửu tông môn (Mão Tinh, Biệt Trách, Bát Chuyên) hay bị in sai hoặc theo dị bản. Đối chiếu ít nhất hai nguồn.
  • Lời đề yếu Tứ Khố Toàn Thư cho Đại Toàn cũng nhắc người đọc rằng sách gom nhiều nguồn, "theo lệ tục" ở phép an Quý Nhân và giữ nhiều thuyết phân dã cũ chưa đính chính. Một bộ "đại toàn" là bộ sưu tập, không phải bộ chuẩn.

Việc nên làm

  1. Khi tự lập khóa, ghi kèm "độ lệch" (giờ trừ nguyệt tướng) bên cạnh can chi ngày. Hai số ấy là "mã" của khóa trong 720.
  2. Thử tự lập đủ mười hai khóa của một ngày, từ Phục ngâm đến Phản ngâm, để thấy khung khóa xoay theo giờ ra sao.
  3. Nếu dùng bảng in, kiểm lại vài khóa Mão Tinh, Biệt Trách bằng tay trước khi tin cả cuốn.
  4. Học khóa thể theo nhóm (theo cửu tông môn trước, rồi các thể đặt tên theo tam truyền), đừng cố thuộc 720 khóa riêng lẻ.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Lục Nhâm Đại Toàn — quyển 1 (Khóa mục: tên khóa thể và quẻ gắn kèm), quyển 7 (Nguyên Thủ khóa: "tổng cộng 720 khóa, Nguyên Thủ 115"), quyển 12 (Độc Túc); nguyên văn theo bản số hoá trên Wikisource tiếng Trung.
  • Tứ Khố Toàn Thư tổng mục đề yếu — lời đề yếu cho Lục Nhâm Đại Toàn (đại ý).

Câu hỏi thường gặp

Vì sao Lục Nhâm có 720 khóa?

Vì bốn khóa và tam truyền chỉ phụ thuộc can chi ngày (60) và độ xoay của thiên bàn so với địa bàn (12). 60 × 12 = 720.

Nguyệt tướng và giờ có 144 cách ghép, sao không phải 60 × 144?

Vì chỉ hiệu số giữa giờ và nguyệt tướng quyết định thiên bàn xoay bao nhiêu. Mười hai cặp có cùng hiệu số cho cùng một thiên bàn, nên 144 cặp gom lại còn 12.

Lục Nhâm Đại Toàn có in đủ 720 khóa không?

Không. Sách ghi con số 720, đếm riêng 115 khóa Nguyên Thủ, nhưng chỉ nêu vài khóa làm ví dụ và nói các khóa còn lại tự suy ra. Bảng đủ 720 khóa là của các sách tra soạn sau.

Khóa thể là gì?

Là cách phân loại khóa theo hình thế, mỗi thể có tên và lời đoán chung, như Nguyên Thủ, Trùng Thẩm, Phục Ngâm, Phản Ngâm. Lục Nhâm Đại Toàn xếp khoảng sáu mươi tư thể, gắn mỗi thể với một quẻ Dịch; một khóa có thể thuộc nhiều thể.

Hai người hỏi cùng một giờ có nhận cùng một lời đoán không?

Họ nhận cùng một khóa, nhưng không nhất thiết cùng lời đoán. Câu hỏi khác thì loại thần khác; năm mệnh khác thì chỗ xét khác; giờ ngày hay đêm còn làm đổi bộ thiên tướng.

Nguồn tham khảo: Lục Nhâm Đại Toàn — quyển 1 (Khóa mục), quyển 7 (Nguyên thủ khóa: 'tổng cộng 720 khóa'), quyển 12 (Độc túc) · Tứ Khố Toàn Thư tổng mục đề yếu — lời đề yếu cho Lục Nhâm Đại Toàn

Tiểu Lục Nhâm bấm đốt tay: Đại An, Lưu Niên, Tốc Hỷ, Xích Khẩu, Tiểu Cát, Không VongTiểu Lục Nhâm là phép bấm sáu cung trên đốt tay theo tháng, ngày, giờ âm lịch. Cách bấm từng bước, ví dụ có đếm tay, ngũ hành sáu…
Quý Nhân ngày và đêm trong Lục Nhâm: bài ca "Giáp Mậu Canh ngưu dương" và ba chỗ các sách an khác nhauQuý Nhân ngày và đêm trong Lục Nhâm: bài ca Giáp Mậu Canh ngưu dương, dị bản Canh Tân mã hổ, hai cách chia ngày đêm và bảng 10 ca…
Tam thức: Thái Ất, Kỳ Môn, Lục Nhâm khác nhau ở đâu và vì sao gọi là "thức"Tam thức gồm Thái Ất, Kỳ Môn Độn Giáp và Đại Lục Nhâm: chữ thức là cái bàn xoay trời tròn đất vuông; bảng so tầm việc, đầu vào th…
Cửu tông môn: chín phép lấy tam truyền trong Lục NhâmCửu tông môn Lục Nhâm: Tặc khắc, Bỉ dụng, Thiệp hại, Dao khắc, Mão tinh, Biệt trách, Bát chuyên, Phục ngâm, Phản ngâm — điều kiện…
Mười hai thiên tướng trong Lục Nhâm: Quý Nhân, Đằng Xà, Chu Tước…Mười hai thiên tướng Lục Nhâm: thứ tự, bản gia ngũ hành, cát hung, việc mỗi tướng chủ; cách an theo Quý Nhân ngày, đêm và khi nào…
Tiểu Lục Nhâm có mấy lối bấm: theo tháng – ngày – giờ, theo con số, theo chữCách bấm Tiểu Lục Nhâm theo ba lối: tháng ngày giờ, con số, chữ. Cùng một thời điểm mùng 1 Tết Đinh Mùi 2027 giờ Thìn, ba lối ra …