Đọc bản đồ cổ Việt Nam: Hồng Đức bản đồ, Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư và cách người xưa vẽ núi sông

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc

Đọc bản đồ cổ Việt Nam: Hồng Đức bản đồ, Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư và cách người xưa vẽ núi sông

Bản đồ cổ Việt Nam còn lại sớm nhất là bộ Hồng Đức bản đồ: vua Lê Thánh Tông ra lệnh vẽ năm 1467, hoàn tất khoảng năm 1490; bản gốc đã mất, chỉ còn truyền bản chép muộn hơn. Bản đồ xưa thường đặt phía tây (núi) ở trên, biển ở dưới, vẽ núi như tranh, không theo tỉ lệ. Chúng là tư liệu quý để biết người xưa nhìn núi sông thế nào, nhưng không dùng để đo hướng hay khoảng cách.

Ba loại bản đồ, ba mục đích

Bản đồ cổ Việt Nam còn lại có thể chia theo việc người ta cần:

LoạiVí dụ tiêu biểuMục đích
Bản đồ hành chínhHồng Đức bản đồ (lệnh vẽ 1467, hoàn tất khoảng 1490)biết cương vực, các thừa tuyên, phủ, huyện, núi sông hiểm yếu
Bản đồ lộ trìnhThiên Nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá (cuối thế kỷ 17)biết đường đi từ kinh đô ra bốn phía, bến, trạm, đồn
Bản đồ quân sựGiáp Ngọ niên Bình Nam đồ (1774)phục vụ cuộc hành quân vào Đàng Trong
Bản đồ triều NguyễnĐại Nam nhất thống toàn đồ (khoảng 1838)toàn quốc, bắt đầu theo lối vẽ phương Tây, phía bắc ở trên

Mỗi loại vẽ những gì người dùng cần và bỏ những gì không cần. Bản đồ lộ trình vẽ kỹ từng khúc đường, từng bến đò, nhưng méo cả hình đất nước; bản đồ hành chính ghi đủ tên phủ huyện, nhưng núi chỉ vẽ tượng trưng.

Hồng Đức bản đồ: từ lệnh vua đến truyền bản

Sử chép rõ nguồn gốc. Năm Đinh Hợi (1467), vua Lê Thánh Tông sai quan mười hai thừa tuyên đi khám xét núi sông hiểm trở, dễ dàng, sự tích xưa nay trong địa hạt, vẽ bản đồ ghi chú kỹ, gửi về bộ Hộ để làm dư địa đồ. Hai năm sau (1469), triều đình định bản đồ thiên hạ, ấn định mười hai thừa tuyên với số phủ, huyện, châu. Sau khi thêm thừa tuyên Quảng Nam (1471), cả nước có mười ba thừa tuyên.

Theo các nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội, bộ bản đồ hoàn tất và ban hành năm 1490 (niên hiệu Hồng Đức thứ 21), nên có tên Hồng Đức bản đồ. Truyền bản đầy đủ nhất hiện còn gồm 15 tấm: một tấm toàn quốc, một tấm kinh đô và mười ba tấm của mười ba thừa tuyên. Hai bản chép đáng tin nhất được lưu ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm (ký hiệu A.2499) và Toyo Bunko ở Tokyo. Bản gốc đã mất; các truyền bản chép muộn hơn, có thay đổi một số địa danh so với thời Hồng Đức.

Điều này quyết định cách dùng: khi một bài viết "theo Hồng Đức bản đồ" kể tên một làng, một núi, phải hỏi đó là tên thời Hồng Đức hay tên do người chép đời sau thêm vào.

Vì sao phía tây ở trên

Điều làm người hôm nay bỡ ngỡ nhất là phương vị. Theo mô tả của các nhà nghiên cứu, bản đồ Hồng Đức đặt phía tây ở trên, phía đông ở dưới, phía bắc bên phải, phía nam bên trái. Đất nước vì thế nằm ngang trên tờ giấy: núi non ở trên, đồng bằng ở giữa, biển cả ở dưới.

Cách đặt ấy có lý của nó. Người vẽ đứng ở đồng bằng, quay lưng ra biển, nhìn về dãy núi phía tây: núi ở xa thì vẽ lên trên, biển ở sau lưng thì vẽ xuống dưới. Đó là cách nhìn của người ở đồng bằng ven biển, giống cách ta tả "đằng sau là núi, trước mặt là biển" mà không cần la bàn. Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư cũng theo cách đặt này. Đến Đại Nam nhất thống toàn đồ đời Nguyễn mới chuyển sang phía bắc ở trên như bản đồ phương Tây.

Người đọc phong thuỷ sẽ thấy ngay sự gần gũi: phong thuỷ hình thế cũng nhìn đất từ chỗ mình đứng, "tọa núi, hướng nước", chứ không nhìn từ trên trời xuống.

Núi vẽ như tranh, sông là dải màu

Cách vẽ trên bản đồ cổ:

  • Núi vẽ thành hình khối nhấp nhô như tranh thuỷ mặc, núi quan trọng (núi thiêng, núi có đền, núi hiểm) vẽ to hơn, có ghi tên. Kích thước núi trên giấy nói về tầm quan trọng, không nói về độ cao.
  • Sông vẽ thành dải, thường thẳng và đều hơn thực tế; chỗ hợp lưu, cửa biển được nhấn mạnh vì đó là chỗ đặt đồn, đặt bến.
  • Công trình (thành, đền, chùa, đồn) vẽ bằng ký hiệu nhỏ hay hình nhà.
  • Khoảng cách ghi bằng chữ (bao nhiêu ngày đường, bao nhiêu dặm) chứ không đo bằng tỉ lệ.

Đặt một tấm bản đồ cổ cạnh bản đồ hiện đại sẽ thấy méo nhiều chỗ: sông bị nắn thẳng, vùng đông dân bị phóng to, vùng núi hẻo lánh bị thu nhỏ. Bản đồ cổ là bản đồ ý nghĩa, không phải bản đồ đo đạc.

Dùng bản đồ cổ làm tư liệu địa lý: ba nguyên tắc

Các bài địa lý Việt trên trang này dùng bản đồ cổ theo ba nguyên tắc:

  1. Dùng để biết tên và sự có mặt, không dùng để đo. Bản đồ cổ cho biết thời ấy có hồ này, sông này, đền này; không cho biết hướng hay diện tích chính xác. Muốn đo hướng một công trình, dùng bản đồ hiện đại hay vệ tinh (như bài Thành nhà Hồ).
  2. Ghi rõ truyền bản. Hồng Đức bản đồ là truyền bản muộn; bản đồ Pháp cuối thế kỷ 19 có niên đại chắc hơn để so hệ hồ, sông đã đổi (bài Hồ Gươm, Hồ Tây).
  3. Không đọc "long mạch" trên bản đồ cổ. Dãy núi vẽ liền nhau trên giấy là cách vẽ, không phải bằng chứng các núi ấy nối mạch. Muốn bàn long mạch phải dùng bản đồ địa hình có đường đồng mức (bài long mạch Việt Nam).

Sách cổ nói gì

六月,造輿地圖。令十二承宣官履勘管內山川險易、古今事跡,畫圖詳註,送戶部作輿地圖。

Dịch: Tháng sáu, làm dư địa đồ. Sai quan mười hai thừa tuyên đi khám xét núi sông hiểm trở hay dễ dàng, sự tích xưa nay trong địa hạt mình, vẽ bản đồ, chú thích tỉ mỉ, gửi về bộ Hộ để làm dư địa đồ. — Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, chính biên quyển 20, năm Đinh Hợi (1467)

定天下版圖。定十二承宣版圖。

Dịch: Định bản đồ thiên hạ, định bản đồ mười hai thừa tuyên. — cùng sách, quyển 21, năm Kỷ Sửu (1469)

Bình: lệnh năm 1467 cho thấy người xưa muốn gì ở bản đồ: núi sông hiểm hay dễ (để giữ nước) và sự tích xưa nay (để biết đất ấy có gì đáng nhớ). Hai thứ ấy cũng là hai thứ người làm địa lý phong thuỷ quan tâm: hình thế và lịch sử nơi chốn. Chỉ có điều, bản đồ của nhà nước nhằm cai trị, không nhằm xem đất.

Đọc cho đúng mức

  • Mốc 1467 và 1469 theo Cương Mục (nguyên văn); mốc hoàn tất 1490, số 15 tấm, ký hiệu truyền bản theo các mục từ bách khoa của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội và tài liệu thư mục phổ biến.
  • Mô tả phương vị "tây trên, đông dưới" theo các nhà nghiên cứu; không phải tấm nào trong các bộ bản đồ cổ cũng đặt giống hệt nhau.
  • Niên đại Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư thường ghi cuối thế kỷ 17 (nhiều tài liệu ghi 1686); một số tài liệu ghi khác, chúng tôi ghi khoảng.
  • Cách giải "nhìn từ đồng bằng về núi" cho phương vị bản đồ là suy luận của chúng tôi, hợp với hình vẽ nhưng không có văn bản cổ nói thẳng.

Việc nên làm

  • Khi gặp một bản đồ cổ trên mạng, tìm tên truyền bản và nơi lưu giữ trước khi tin chi tiết trên đó.
  • Xoay bản đồ cổ cho phía tây lên trên rồi mới đọc; nhiều chỗ "lạ" sẽ hết lạ.
  • Dùng bản đồ cổ để lập danh sách núi, sông, đền có mặt thời ấy; dùng bản đồ hiện đại để đo.
  • Đọc tiếp các bài địa lý Việt, mỗi bài đều ghi rõ tư liệu bản đồ nào được dùng.

Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?

Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.

Xem lịch các thầy

Nguồn tham khảo

  • Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục — chính biên quyển 20 (Đinh Hợi 1467: lệnh vẽ dư địa đồ), quyển 21 (Kỷ Sửu 1469: định bản đồ thiên hạ) (nguyên văn, bản Wikisource tiếng Hán).
  • Hồng Đức bản đồ — truyền bản A.2499 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) và bản lưu ở Toyo Bunko (đại ý, qua mô tả của các nhà nghiên cứu).
  • Đỗ Bá — Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (đại ý).
  • Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam — mục từ "Hồng Đức bản đồ" và bài tổng thuật về vị trí, lãnh thổ Việt Nam trên các bản đồ cổ (đại ý).

Câu hỏi thường gặp

Hồng Đức bản đồ có từ khi nào?

Vua Lê Thánh Tông ra lệnh cho các thừa tuyên vẽ bản đồ năm 1467; bộ bản đồ hoàn tất khoảng năm 1490, niên hiệu Hồng Đức. Bản gốc đã mất, chỉ còn truyền bản chép muộn hơn.

Vì sao bản đồ cổ Việt Nam đặt phía tây ở trên?

Bản đồ Hồng Đức đặt núi (phía tây) ở trên, biển (phía đông) ở dưới, như cách người ở đồng bằng nhìn về núi, quay lưng ra biển. Đến đời Nguyễn, bản đồ mới chuyển sang phía bắc ở trên.

Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư là gì?

Là bộ bản đồ lộ trình do Đỗ Bá soạn khoảng cuối thế kỷ 17, vẽ đường đi từ kinh đô ra bốn phía, ghi bến, trạm, đồn và khoảng cách bằng ngày đường.

Có thể xem long mạch trên bản đồ cổ không?

Không nên. Núi trên bản đồ cổ vẽ tượng trưng, to nhỏ theo tầm quan trọng chứ không theo độ cao; dãy núi vẽ liền nhau không phải bằng chứng các núi nối mạch.

Bản đồ cổ dùng được gì cho người học địa lý phong thuỷ?

Để biết thời xưa có những núi, sông, hồ, đền nào và người xưa coi chỗ nào là hiểm yếu, đáng nhớ. Muốn đo hướng hay khoảng cách thì dùng bản đồ hiện đại.

Nguồn tham khảo: Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục — chính biên quyển 20 (năm 1467), quyển 21 (năm 1469) · Hồng Đức bản đồ — truyền bản lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (A.2499) và Toyo Bunko, Tokyo · Đỗ Bá — Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư · Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam — các mục từ bách khoa về Hồng Đức bản đồ và bản đồ cổ Việt Nam

Thế đất Gia Định – Sài Gòn: sông Sài Gòn, kênh rạch và thành Bát QuáiThành Bát Quái Gia Định (1790) trên đất cao giữa sông Sài Gòn, rạch Thị Nghè, kênh Bến Nghé; tám cửa tên tám quái. Hình bát giác:…
Đình làng chọn đất thế nào: hướng đình, ao đình và bãi trướcĐình làng phong thủy: nền cao, ao trước, bãi rộng, nhìn về núi xa. Đo trên bản đồ: đình Tây Đằng quay 192°, gần đúng về phía Ba V…
Cao Biền và "Cao Vương địa lý": lớp sử, lớp truyệnCao Biền trong sử là tướng nhà Đường đánh Nam Chiếu, đắp thành Đại La; trong truyện là thầy địa lý phá long mạch. Tách ba lớp: sử…
Chuyện "yểm long mạch" ở Việt Nam: đọc truyền thuyết như văn học, không như sửYểm long mạch là gì: bản chép sớm nhất trong Việt Điện U Linh, dị bản về Cao Biền, chuyện cột đồng Mã Viện, và vì sao hiện vật ha…
Phong thủy lăng tẩm triều Nguyễn: lăng Gia Long, Minh Mạng, Tự ĐứcPhong thủy lăng tẩm triều Nguyễn qua ba lăng Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức: núi làm án, sông Hương làm thủy tụ, và hồ đào trước lăn…
Hồ Gươm, Hồ Tây trong thế đất Thăng Long: nước tụ, dấu vết sông Hồng và một hệ hồ đã đổiHồ Gươm, Hồ Tây trong thế đất Thăng Long: dấu vết sông Hồng cũ, vai nước tụ theo Táng Thư, hệ hồ trên bản đồ cổ đã đổi thế nào, v…