Thế đất Gia Định – Sài Gòn: sông Sài Gòn, kênh rạch và thành Bát Quái

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc

Thế đất Gia Định – Sài Gòn: sông Sài Gòn, kênh rạch và thành Bát Quái

Thành Bát Quái (còn gọi thành Quy, thành Gia Định) do Nguyễn Ánh cho đắp năm 1790 trên vùng đất cao giữa sông Sài Gòn, rạch Thị Nghè và kênh Bến Nghé, nay là trung tâm Quận 1. Thành gần hình bát giác, có tám cửa mang tên tám quái. Hình dáng ấy đến từ kỹ thuật thành Vauban của các sĩ quan Pháp, hay từ ý bát quái? Có cơ sở cho cả hai.

Đất Sài Gòn trước khi có thành

Muốn hiểu vì sao thành đặt ở đó, hãy bắt đầu từ nước. Vùng Sài Gòn xưa là một khối đất cao hơn xung quanh, bị nước vây ba mặt:

PhíaDòng nướcVai trò
Đông Namsông Sài Gònhào lớn tự nhiên, đường thủy chính, cảng Bến Nghé
Đông Bắcrạch Thị Nghèhào phía bên, đường thủy nhỏ
Tây Namkênh (rạch) Bến Nghénối sang vùng Chợ Lớn và miền Tây qua kênh Tàu Hủ

Sông lớn cho tàu thuyền ra biển và lên Biên Hòa; mạng kênh rạch dày đặc (Bến Nghé, Tẻ, Cầu Kho, Tàu Hủ) đưa lúa gạo từ miền Tây về. Từ trước khi có thành, nơi này đã có đồn lính, kho lương, dinh trấn thủ, chợ búa, và các khu dân cư như Thị Nghè, Bầu Tròn. Người Hoa từ Hà Tiên, Biên Hòa về lập phố ở vùng Chợ Lớn, nối với Sài Gòn bằng kênh Tàu Hủ.

Đây là một thế đất thương cảng và thủy quân trước khi là một thế đất kinh đô. Nguyễn Ánh chiếm Sài Gòn năm 1788 và dùng nơi này làm căn cứ chống Tây Sơn suốt hơn mười năm: mỗi mùa gió thuận, thuyền quân từ đây ra Bắc.

Thành Bát Quái năm 1790

Năm 1790, Nguyễn Ánh cho đắp thành, gọi là Gia Định kinh. Theo các tài liệu, việc vẽ họa đồ có sự tham gia của hai sĩ quan công binh người Pháp theo giám mục Bá Đa Lộc là Olivier de Puymanel và Théodore Lebrun, kết hợp với quy hoạch của Trần Văn Học; Tôn Thất Hội chỉ huy thi công, huy động gần ba vạn dân phu. Tường xây bằng đá ong Biên Hòa, cao chừng bốn mét tám.

Phạm vi thành, quy về đường phố ngày nay, đại khái từ đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa đến khu đường Đinh Tiên Hoàng, Tôn Đức Thắng, và từ đường Lê Thánh Tôn đến đường Nguyễn Đình Chiểu.

Tám cửa thành mang tên tám quái:

Mặt thànhHai cửa (tên thời Gia Long)
NamCàn Nguyên, Ly Minh
BắcKhôn Hậu, Khảm Hiểm
ĐôngChấn Hanh, Cấn Chỉ
TâyTốn Thuận, Đoài Duyệt

Mỗi tên cửa ghép một quái với một chữ lấy từ nghĩa của quái ấy trong Kinh Dịch: Càn là "nguyên" (khởi đầu), Khôn là "hậu" (dày), Ly là "minh" (sáng), Khảm là "hiểm", Chấn là "hanh" (thông), Cấn là "chỉ" (dừng), Tốn là "thuận", Đoài là "duyệt" (vui). Đến đời Minh Mạng, tên các cửa được đổi sang những tên khác. Hai tên cửa có dị bản trong các tài liệu quốc ngữ: "Khảm Hiểm" có nơi chép "Khảm Hiền", "Cấn Chỉ" có nơi chép "Cấm Chí". Chúng tôi theo cách đọc khớp với lời quái trong Kinh Dịch (Khảm là hiểm, Cấn là dừng) nhưng chưa đối chiếu được chữ Hán gốc.

Một chi tiết thú vị: nếu đặt tám quái theo Hậu Thiên bát quái (bố cục dùng trong phong thủy và la kinh), Càn phải ở Tây Bắc, Khôn ở Tây Nam. Ở đây Càn và Khôn lại nằm ở mặt Nam và mặt Bắc, đúng vị trí của Tiên Thiên bát quái, trong khi Ly ở Nam, Khảm ở Bắc, Chấn ở Đông, Đoài ở Tây theo Hậu Thiên. Có thể người đặt tên đã trộn hai bố cục, hoặc chỉ chia tám tên cho đủ bốn mặt; cũng có thể "mặt Nam" trong tài liệu là mặt trước của thành chứ không phải chính Nam. Chúng tôi chưa có bản vẽ đủ chính xác để kết luận. Về hai bố cục, xem bài Tiên Thiên và Hậu Thiên bát quái.

Hình bát giác: Vauban hay bát quái?

Giả thuyết Vauban. Từ thế kỷ mười bảy, kỹ sư quân sự Pháp Vauban phát triển kiểu thành đa giác có pháo đài nhô ra ở các góc, để quân phòng thủ bắn chéo, không chừa góc khuất. Thành kiểu ấy thường là đa giác đều: năm, sáu, tám cạnh tùy quy mô. Hai sĩ quan công binh Pháp tham gia vẽ họa đồ; vật liệu, chiều cao tường, hào bao quanh đều hợp kiểu thành công sự châu Âu cuối thế kỷ mười tám. Theo giả thuyết này, hình tám cạnh là lựa chọn kỹ thuật.

Giả thuyết bát quái. Tên gọi "Bát Quái", tám cửa đặt theo tám quái, cùng vai trò của Trần Văn Học trong quy hoạch, cho thấy triều đình Nguyễn Ánh chủ ý gửi vào thành một ý nghĩa vũ trụ luận phương Đông. Tên "thành Quy" thường được giải thích là do hình dáng thành giống mai rùa, con vật gắn với Lạc Thư. Theo giả thuyết này, tám cạnh là để ứng với tám quái.

Đọc cả hai. Hai giả thuyết không loại trừ nhau. Một đa giác tám cạnh vừa là hình tốt cho thành công sự, vừa vừa khít với tám quái; người xây có thể đã chọn hình ấy chính vì nó thỏa cả hai yêu cầu. Kinh thành Huế xây sau đó mười lăm năm đi đúng con đường này: tường gấp khúc kiểu Vauban, vị trí và hướng theo tứ linh (xem bài Kinh thành Huế).

Số phận của thành: bị phá vì chính sự kiên cố

Khi Gia Long dời kinh đô ra Huế, Gia Định kinh thành Gia Định thành, trị sở của Tổng trấn Nam Kỳ. Năm 1833, Lê Văn Khôi khởi binh, chiếm thành và giữ được đến năm 1835. Quân triều đình vây hơn hai năm mới hạ được. Sau đó, Minh Mạng cho phá thành Bát Quái, dựng thành mới nhỏ hơn (thường gọi là thành Phụng). Thành Phụng lại bị quân Pháp phá năm 1859.

Thành Bát Quái bị phá không vì "thế đất xấu" mà vì nó quá kiên cố trong tay một lực lượng nổi dậy. Đó là bài học thực tế về thành trì: nó phục vụ người giữ nó, ai cũng vậy.

Thế đất Sài Gòn hôm nay

Ngày nay không còn dấu tường thành, nhưng bộ khung nước vẫn còn: sông Sài Gòn ở mặt trước, rạch Thị Nghè bên này, kênh Bến Nghé bên kia. Người đọc phong thủy thường nói Sài Gòn là đất "thủy tụ" (về các dạng nước trong địa lý, xem thủy pháp): nhiều dòng nước đổ về, khí của thương mại. Nói bằng ngôn ngữ đời thường thì: một khối đất cao, ba mặt nước, nối ra biển và vào đồng bằng lúa gạo lớn nhất cả nước. Hai cách nói chỉ cùng một sự thật.

Sách cổ nói gì

Đế xuất hồ Chấn, tề hồ Tốn, tương kiến hồ Ly, trí dịch hồ Khôn, duyệt ngôn hồ Đoài, chiến hồ Càn, lao hồ Khảm, thành ngôn hồ Cấn.

Dịch: Đế xuất ra ở Chấn, làm cho đều ở Tốn, gặp nhau ở Ly, giao việc ở Khôn, vui nói ở Đoài, giao chiến ở Càn, khó nhọc ở Khảm, hoàn thành ở Cấn. — Chu Dịch, Thuyết Quái truyện

Bình: đây là đoạn văn gốc của bố cục Hậu Thiên bát quái, nơi mỗi quái có một phương và một việc. Nhiều chữ đặt tên cửa thành Bát Quái (Đoài là vui, Cấn là dừng, Khảm là khó, hiểm) vang lại đúng tinh thần đoạn này. Tám cửa vì vậy là một bài văn ngắn về vũ trụ luận viết lên một công trình quân sự.

Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, quyển Thành trì chí, chép việc đắp thành năm 1790, quy mô và tám cửa, đại ý như phần trên; quyển Sơn xuyên chí mô tả sông rạch quanh Sài Gòn. Sách cũng có một quyển Tinh dã chí, xác định đất Gia Định ứng với vùng sao nào theo thiên văn cổ, phần mà học giả Đào Duy Anh đánh giá là không có giá trị thực tế. Chính người viết địa chí thời ấy cũng đặt thiên văn thuật số và địa lý thật vào hai quyển riêng.

Đọc cho đúng mức

  • Vai trò cụ thể của từng người (Olivier, Lebrun, Trần Văn Học) trong bản vẽ thành còn được bàn; các tài liệu nói "kết hợp" nhưng không tách rõ phần ai.
  • Vị trí tám cửa theo tài liệu hiện đại; thành có thể xoay chéo so với chính hướng, nên chữ "mặt Nam" cần đối chiếu với bản đồ năm 1795 của Lebrun trước khi suy luận.
  • Chúng tôi chưa đối chiếu nguyên văn Gia Định thành thông chí từng chữ; phần dẫn là đại ý theo bản dịch.
  • "Thủy tụ", "khí thương mại" là lời diễn giải đời sau, không có trong sử liệu chọn đất năm 1790.

Việc nên làm

  • Đi bộ quanh khu Lê Thánh Tôn – Nam Kỳ Khởi Nghĩa – Đinh Tiên Hoàng – Nguyễn Đình Chiểu, hình dung một thành đá ong cao gần năm mét từng đứng ở đó.
  • Ra bến Bạch Đằng nhìn sông Sài Gòn, rồi sang cầu Thị Nghè, cầu Mống trên kênh Bến Nghé: ba mặt nước của thế đất cũ còn nguyên.
  • Khi đọc một lời "thành xây theo bát quái nên…", hỏi thêm: còn phần Vauban thì sao? Thường thì câu trả lời đúng có cả hai.
  • So với các kinh đô phía Bắc chọn đất vì núi và thế thủ, như Hoa Lư, Gia Định là kinh đô chọn đất vì sông và cảng.

Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?

Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.

Xem lịch các thầy

Nguồn tham khảo

  • Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí — quyển Sơn xuyên chí, Thành trì chí, Tinh dã chí (đại ý, theo bản dịch).
  • Chu Dịch — Thuyết Quái truyện (đoạn "Đế xuất hồ Chấn…").
  • Trương Vĩnh Ký, Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận (bản 1885, Nguyễn Đình Đầu lược dịch, chú giải) — mô tả thành và đường phố cũ (đại ý).

Câu hỏi thường gặp

Thành Bát Quái Gia Định xây năm nào?

Năm 1790, dưới thời Nguyễn Ánh, gọi là Gia Định kinh; bị Minh Mạng cho phá năm 1835 sau cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi.

Thành Bát Quái nằm ở đâu?

Ở trung tâm Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, đại khái trong khu từ đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa đến Đinh Tiên Hoàng, Tôn Đức Thắng và từ Lê Thánh Tôn đến Nguyễn Đình Chiểu.

Vì sao gọi là thành Bát Quái?

Vì thành gần hình bát giác và có tám cửa mang tên tám quái: Càn Nguyên, Ly Minh, Khôn Hậu, Khảm Hiểm, Chấn Hanh, Cấn Chỉ, Tốn Thuận, Đoài Duyệt (hai tên có dị bản là Khảm Hiền, Cấm Chí).

Thành Bát Quái có phải thành kiểu Vauban không?

Có sự tham gia của hai sĩ quan công binh Pháp trong việc vẽ họa đồ, nên hình đa giác và cách bố trí công sự mang dấu kiểu Vauban. Tên gọi và tám cửa thì theo bát quái; hai lớp ấy cùng tồn tại.

Thế đất Sài Gòn có gì đặc biệt?

Một khối đất cao bị nước vây ba mặt: sông Sài Gòn, rạch Thị Nghè, kênh Bến Nghé; nối ra biển và vào mạng kênh rạch miền Tây. Đó là thế đất của thương cảng và thủy quân.

Nguồn tham khảo: Gia Định thành thông chí — Trịnh Hoài Đức — quyển Thành trì chí; quyển Sơn xuyên chí · Chu Dịch — Thuyết Quái truyện · Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận — Trương Vĩnh Ký (bản dịch Nguyễn Đình Đầu)

Chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc: kiến trúc trên nước, giấc mộng tòa sen và vì sao nên đọc theo Phật giáo trước phong thủyChùa Một Cột dựng năm 1049 theo giấc mộng tòa sen, mở rộng năm 1105 với ao Bích Trì; chùa Trấn Quốc dời ra gò Kim Ngư năm 1615. Đ…
Thế đất Thăng Long trong Chiếu dời đô: đọc lại "rồng cuộn hổ ngồi"Thế đất Thăng Long trong Chiếu dời đô: "rồng cuộn hổ ngồi" là thành ngữ mượn từ lời tả Nam Kinh. Đặt từng câu chiếu cạnh địa hình…
"Long mạch" Việt Nam theo các thầy địa lý: lời truyền và địa hình thậtLong mạch Việt Nam: lời truyền về rồng từ Côn Lôn, Tam Đảo, Ba Vì, Hoành Sơn, Cửu Long đặt cạnh bản đồ địa hình thật — chỗ trùng …
Hoa Lư: vì sao Đinh Tiên Hoàng chọn vùng núi đá vôi làm kinh đôHoa Lư thế đất: Đinh Tiên Hoàng bỏ Đàm Thôn vì đất hẹp, không lợi đặt hiểm, chọn nơi núi đá vôi làm tường, sông làm hào. Lý lẽ qu…
Bố cục làng Việt: cây đa, giếng nước, đình, cổng làngBố cục làng Việt cổ đọc theo phong thủy và theo việc thật: làng trên gò, ao đào lấy đất, lũy tre, cổng làng, cây đa, giếng, đình …
Phong thủy lăng tẩm triều Nguyễn: lăng Gia Long, Minh Mạng, Tự ĐứcPhong thủy lăng tẩm triều Nguyễn qua ba lăng Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức: núi làm án, sông Hương làm thủy tụ, và hồ đào trước lăn…