An thiên can cho mười hai cung bằng Ngũ Hổ Độn: bước phải biết trước khi phi Tứ Hoá
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc
Can cung trong tử vi an bằng phép Ngũ Hổ Độn: can năm sinh quyết định can của cung Dần, rồi đi thuận Mão, Thìn, Tỵ… tới Hợi, Tý, Sửu. Năm Giáp, Kỷ thì Dần là Bính; Ất, Canh là Mậu; Bính, Tân là Canh; Đinh, Nhâm là Nhâm; Mậu, Quý là Giáp. Mười can chạy trên mười hai cung nên Tý, Sửu lặp lại can của Dần, Mão.
Vì sao phải biết can cung
Lá số nào cũng ghi can chi cho từng ô, kiểu "Đinh Mão", "Nhâm Thìn". Phần chi cố định; phần can đổi theo năm sinh. Người đọc theo lối Tam Hợp thuần có thể đọc cả đời mà không cần đến nó. Nhưng có ba việc không làm được nếu không có can cung:
- Tứ Hoá đại vận. Đại vận đi qua cung nào thì lấy can cung ấy tra bảng Tứ Hoá. Sai can cung là sai cả bộ hoá của mười năm (cách chồng tầng ở bài Tứ Hoá lưu niên).
- Phi hoá. Phái Phi Tinh cho mỗi cung "phát" bốn hoá theo can của nó, bay vào cung có sao bị hoá. Mười hai cung là bốn mươi tám đường bay; không có can thì không có đường nào (bài phi tinh Tứ Hoá).
- Lai Nhân cung. Cung mang đúng can năm sinh, được Phi Tinh coi là gốc phát ra Tứ Hoá năm sinh (bài Lai Nhân cung).
Bảng Ngũ Hổ Độn áp lên mười hai cung
Bảng do bộ máy lá số của site in ra, đọc theo hàng: tìm can năm sinh ở cột đầu, đi ngang để có can từng cung.
| Năm sinh | Dần | Mão | Thìn | Tỵ | Ngọ | Mùi | Thân | Dậu | Tuất | Hợi | Tý | Sửu |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Giáp hoặc Kỷ | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ | Canh | Tân | Nhâm | Quý | Giáp | Ất | Bính | Đinh |
| Ất hoặc Canh | Mậu | Kỷ | Canh | Tân | Nhâm | Quý | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ |
| Bính hoặc Tân | Canh | Tân | Nhâm | Quý | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ | Canh | Tân |
| Đinh hoặc Nhâm | Nhâm | Quý | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ | Canh | Tân | Nhâm | Quý |
| Mậu hoặc Quý | Giáp | Ất | Bính | Đinh | Mậu | Kỷ | Canh | Tân | Nhâm | Quý | Giáp | Ất |
Năm 2027 Đinh Mùi rơi vào hàng thứ tư: cung Dần mang can Nhâm, cung Mùi mang can Đinh. Ai sinh năm Đinh thì cung Mùi trên lá số là Đinh Mùi, trùng đúng can chi của năm 2027.
Hai mẹo nhớ không cần thuộc bảng.
- Mẹo số học. Đánh số can từ Giáp = 0 tới Quý = 9. Can cung Dần bằng hai lần số can năm cộng hai, bỏ hàng chục. Năm Đinh (3): 3 × 2 + 2 = 8, là Nhâm. Năm Mậu (4): 4 × 2 + 2 = 10, bỏ hàng chục còn 0, là Giáp.
- Mẹo ngũ hành. Năm can hợp thành năm cặp và mỗi cặp "hoá" ra một hành: Giáp Kỷ hoá Thổ, Ất Canh hoá Kim, Bính Tân hoá Thuỷ, Đinh Nhâm hoá Mộc, Mậu Quý hoá Hoả. Can của cung Dần là can dương của hành sinh ra hành ấy. Giáp Kỷ hoá Thổ, Hoả sinh Thổ, can dương hành Hoả là Bính: Bính Dần. Đinh Nhâm hoá Mộc, Thuỷ sinh Mộc, can dương hành Thuỷ là Nhâm: Nhâm Dần. Năm cặp đều khớp. Đây là lời giải thích cổ cho phép Ngũ Hổ Độn, có trong các sách Tử Bình bàn ngũ hợp.
Vì sao khởi từ Dần, và vì sao Tý Sửu lặp can
Ngũ Hổ Độn vốn không phải phép của Tử Vi. Đó là khẩu quyết tìm can của tháng Giêng trong lịch can chi: tháng Giêng là tháng Dần (lịch kiến Dần), nên mới gọi là "hổ". Tử Vi mượn nguyên phép ấy và coi mười hai cung như mười hai tháng của năm sinh: Dần là tháng Giêng, Mão tháng Hai… Hợi tháng Mười, Tý tháng Một, Sửu tháng Chạp.
Hiểu như vậy thì chỗ lặp tự nhiên: một năm có mười hai tháng mà chỉ có mười can, nên tháng Một và tháng Chạp mang lại can của tháng Giêng, tháng Hai. Năm Giáp: tháng Giêng Bính Dần, tháng Một Bính Tý, tháng Chạp Đinh Sửu. Đó đúng là can tháng in trên lịch thật.
Cặp cung trùng can thay đổi theo vị trí Mệnh
Vì Tý trùng can với Dần và Sửu trùng can với Mão, mọi lá số luôn có hai cặp cung trùng can. Cặp nào là cặp nào thì tuỳ cung Mệnh đóng ở đâu:
| Mệnh ở | Cặp trùng can thứ nhất (Tý – Dần) | Cặp thứ hai (Sửu – Mão) |
|---|---|---|
| Tý | Mệnh – Phúc Đức | Phụ Mẫu – Điền Trạch |
| Sửu | Huynh Đệ – Phụ Mẫu | Mệnh – Phúc Đức |
| Dần | Phu Thê – Mệnh | Huynh Đệ – Phụ Mẫu |
| Mão | Tử Tức – Huynh Đệ | Phu Thê – Mệnh |
| Thìn | Tài Bạch – Phu Thê | Tử Tức – Huynh Đệ |
| Tỵ | Tật Ách – Tử Tức | Tài Bạch – Phu Thê |
| Ngọ | Thiên Di – Tài Bạch | Tật Ách – Tử Tức |
| Mùi | Nô Bộc – Tật Ách | Thiên Di – Tài Bạch |
| Thân | Quan Lộc – Thiên Di | Nô Bộc – Tật Ách |
| Dậu | Điền Trạch – Nô Bộc | Quan Lộc – Thiên Di |
| Tuất | Phúc Đức – Quan Lộc | Điền Trạch – Nô Bộc |
| Hợi | Phụ Mẫu – Điền Trạch | Phúc Đức – Quan Lộc |
Hai cung trùng can thì phi ra đúng bốn hoá giống nhau, vào đúng bốn chỗ giống nhau. Phi Tinh đọc đó là hai mảng đời cùng một nhịp. Hai trường hợp đáng nhớ:
- Mệnh ở Tý hoặc Sửu: Mệnh và Phúc Đức cùng can. Tâm tính và đời sống tinh thần đi cùng hướng; mình để tâm vào đâu thì niềm vui, nỗi lo cũng dồn về đó. Ví dụ người nam sinh 12 giờ ngày 11/7/1981 (năm Tân Dậu) có Mệnh Tân Sửu, Phúc Đức Tân Mão: cả hai cùng phi Lộc và Kỵ vào Điền Trạch.
- Mệnh ở Dần hoặc Mão: Mệnh và Phu Thê cùng can. Mình và người bạn đời "để tâm" vào cùng những chỗ; bài phi tinh Tứ Hoá có một lá số như vậy, nơi cả hai cùng phi Kỵ vào Tài Bạch.
Mệnh ở tám vị trí còn lại thì không trùng can với cung nào.
Chỗ lặp ở Tý Sửu: các phái xử lý ra sao
Phần lớn sách và phần mềm, kể cả bộ máy của site, an can Tý Sửu như bảng trên: đi tiếp từ Hợi, theo đúng can tháng Một, tháng Chạp. Nhưng chỗ lặp này không phải không có tranh luận.
Cách thứ nhất, phổ biến: giữ nguyên chỗ lặp. Lập luận là lịch tháng: lá số dựng theo tháng, tháng Một, tháng Chạp thật sự mang can ấy. Hai cặp cung trùng can được đọc như đặc điểm của lá số.
Cách thứ hai, ở riêng phép Lai Nhân: bỏ qua Tý Sửu. Khi tìm cung mang can năm sinh, các phái Phi Tinh thường không lấy Tý, Sửu, nên năm Tân lấy Mão, năm Nhâm lấy Dần. Quy ước này chỉ dùng cho Lai Nhân; phi hoá của Tý Sửu vẫn theo can lặp. Bài Lai Nhân cung đi kỹ chỗ này.
Cách thứ ba, có ý kiến đề xuất: cho Tý Sửu mang can đứng trước Dần. Tức là đếm lùi từ Dần: năm Giáp thì Sửu là Ất Sửu, Tý là Giáp Tý, thay vì Đinh Sửu, Bính Tý. Khi đó chỗ trùng can chuyển sang cặp Tý – Tuất và Sửu – Hợi. Cách đếm này chính là phép Ngũ Thử Độn dùng để tìm can giờ (giờ khởi từ Tý): năm Giáp, Kỷ khởi Giáp Tý; Ất, Canh khởi Bính Tý; Bính, Tân khởi Mậu Tý; Đinh, Nhâm khởi Canh Tý; Mậu, Quý khởi Nhâm Tý.
Lập luận ủng hộ cách thứ ba đến từ một chi tiết ít người để ý: sao Triệt. Triệt an theo can năm, và vị trí của nó luôn rơi đúng hai ô mang can Nhâm, Quý nếu tính can theo Ngũ Thử Độn. Bộ máy của site cho:
| Can năm sinh | Triệt ở | Can hai ô ấy trên lá số (Ngũ Hổ Độn) | Theo Ngũ Thử Độn |
|---|---|---|---|
| Giáp, Kỷ | Thân – Dậu | Nhâm Thân, Quý Dậu | Nhâm Thân, Quý Dậu |
| Ất, Canh | Ngọ – Mùi | Nhâm Ngọ, Quý Mùi | Nhâm Ngọ, Quý Mùi |
| Bính, Tân | Thìn – Tỵ | Nhâm Thìn, Quý Tỵ | Nhâm Thìn, Quý Tỵ |
| Đinh, Nhâm | Dần – Mão | Nhâm Dần, Quý Mão | Nhâm Dần, Quý Mão |
| Mậu, Quý | Tý – Sửu | Giáp Tý, Ất Sửu | Nhâm Tý, Quý Sửu |
Tám can khớp cả hai cách; chỉ năm Mậu, Quý thì lá số in "Giáp Tý, Ất Sửu" mà Triệt vẫn đóng ở đó. Lý do: Triệt mượn từ khẩu quyết Triệt Lộ Không Vong, vốn tính theo can và giờ, mà giờ thì khởi từ Tý. Chi tiết này cho thấy lá số Tử Vi dùng cùng lúc hai phép độn: Ngũ Hổ Độn cho can cung, Ngũ Thử Độn ẩn trong Triệt. Nó không chứng minh Tý Sửu phải đổi can; nó chỉ giải thích vì sao có người đặt câu hỏi.
Site theo cách thứ nhất cho mọi phép phi hoá và Tứ Hoá đại vận, theo cách thứ hai cho Lai Nhân, và ghi rõ như vậy.
Từ can cung tới phi hoá: một bước làm mẫu
Lá số trên (nam, 11/7/1981, năm Tân): cung Tài Bạch ở Dậu. Tra bảng, hàng "Bính hoặc Tân", cột Dậu: Đinh. Can Đinh làm Thái Âm hoá Lộc, Thiên Đồng hoá Quyền, Thiên Cơ hoá Khoa, Cự Môn hoá Kỵ. Thái Âm và Thiên Cơ ở Dần (Phụ Mẫu), Thiên Đồng ở Tuất (Tử Tức), Cự Môn ở Thìn (Điền Trạch). Vậy Tài Bạch phi Lộc và Khoa vào Phụ Mẫu, Quyền vào Tử Tức, Kỵ vào Điền Trạch. Đại vận 45 – 54 tuổi của người này chạy qua đúng cung Tài Bạch này, nên bộ hoá can Đinh cũng là Tứ Hoá đại vận của mười năm ấy. Một can cung, hai cách dùng.
Sách cổ nói gì
Khẩu quyết Ngũ Hổ Độn (bản chép phổ biến, dẫn đủ ở bài Lai Nhân cung) đại ý: năm Giáp, Kỷ thì tháng Giêng khởi Bính; năm Ất, Canh khởi Mậu; năm Bính, Tân khởi Canh Dần; năm Đinh, Nhâm khởi Nhâm Dần; năm Mậu, Quý khởi Giáp Dần. — khẩu quyết lưu truyền trong sách lịch và mệnh học (đại ý)
Phép ngũ hợp hoá khí trong các sách Tử Bình: Giáp hợp Kỷ hoá Thổ, Ất hợp Canh hoá Kim, Bính hợp Tân hoá Thuỷ, Đinh hợp Nhâm hoá Mộc, Mậu hợp Quý hoá Hoả. — Tam Mệnh Thông Hội và các sách Tử Bình (đại ý)
Khẩu quyết Triệt Lộ Không Vong đại ý: ngày Giáp, Kỷ thì giờ Thân, Dậu là Triệt; Ất, Canh ở Ngọ, Mùi; Bính, Tân ở Thìn, Tỵ; Đinh, Nhâm ở Dần, Mão; Mậu, Quý ở Tý, Sửu. — khẩu quyết chọn giờ (đại ý)
Bình: ba câu quyết vốn của ba môn khác nhau (lịch tháng, Tử Bình, chọn giờ) cùng gặp nhau trên một lá số Tử Vi. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư dùng can cung và Triệt mà không giải thích gốc của chúng; phần giải thích phải tìm ở các môn kia. Biết gốc giúp người học khỏi coi chỗ lặp ở Tý Sửu là "lỗi" của lá số.
Đọc cho đúng mức
- Can cung là phần cơ học, không có gì để luận riêng. Nó chỉ là đầu vào cho Tứ Hoá đại vận, phi hoá, Lai Nhân. Đừng đọc "cung Phu Thê mang can Nhâm" thành một lời phán.
- Tử vi Việt truyền thống dùng can cung ít. Sách Việt theo dòng Tân Biên chủ yếu đọc sao theo tam phương tứ chính; can cung quan trọng với người theo Phi Tinh. Xem bài Tứ Hoá ở tử vi Việt và Đài Loan.
- Năm sinh tính theo Tết. Người sinh tháng Một, tháng Hai dương lịch phải đổi sang năm âm trước khi tra hàng; sai năm là sai cả mười hai can.
- Cách thứ ba ở trên là ý kiến, không phải phái có sách riêng. Bài nêu để người đọc biết vì sao có tranh luận; site không dùng nó.
- Phần mềm khác nhau có thể in can Tý Sửu khác nhau; thấy lệch thì kiểm lại theo bảng trên trước khi so phi hoá.
Việc nên làm
- Đổi năm sinh sang năm âm, lấy can năm.
- Tìm hàng tương ứng trong bảng, chép can cho đủ mười hai cung lên lá số của mình (lá số của site in sẵn để đối chiếu).
- Xem Mệnh mình ở chi nào để biết hai cặp cung trùng can là cặp nào.
- Thử phi một cung: lấy can cung Tài Bạch, tra bảng Tứ Hoá, tìm bốn sao trên lá số.
Xem lá số tử vi của chính bạn
Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.
Lập lá số miễn phíNguồn tham khảo
- Khẩu quyết Ngũ Hổ Độn — bản chép phổ biến trong sách lịch và mệnh học (đại ý; nguyên văn ở bài Lai Nhân cung).
- Ngũ hợp hoá khí của thiên can — Tam Mệnh Thông Hội và các sách Tử Bình (đại ý).
- Khẩu quyết Triệt Lộ Không Vong và phép Ngũ Thử Độn tìm can giờ (đại ý).
- Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — phần an can cung, an Tuần Triệt (đại ý).
- Bảng can cung, bảng cặp trùng can và vị trí Triệt theo mười can: bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com.
Câu hỏi thường gặp
Can của mười hai cung tính thế nào?
Theo Ngũ Hổ Độn: từ can năm sinh tìm can cung Dần (Giáp Kỷ → Bính, Ất Canh → Mậu, Bính Tân → Canh, Đinh Nhâm → Nhâm, Mậu Quý → Giáp), rồi đi thuận một can một cung tới Sửu.
Vì sao cung Tý, Sửu lại trùng can với Dần, Mão?
Vì mười hai cung được coi như mười hai tháng, Dần là tháng Giêng. Mười can không đủ cho mười hai tháng, nên tháng Một (Tý) và tháng Chạp (Sửu) mang lại can của tháng Giêng, tháng Hai.
Hai cung trùng can thì có ý nghĩa gì?
Hai cung ấy phi ra bốn hoá giống hệt nhau. Phái Phi Tinh đọc đó là hai mảng đời cùng một nhịp, ví dụ Mệnh và Phu Thê cùng can thì mình và người bạn đời cùng để tâm vào những chỗ giống nhau.
Năm 2027 can cung Dần là gì?
Năm 2027 là năm Đinh, nên theo Ngũ Hổ Độn cung Dần mang can Nhâm. Nhưng can cung trên lá số lấy theo năm sinh của bạn, không theo năm đang xem.
Sao Triệt có liên quan gì tới can cung?
Triệt luôn đóng ở hai ô mang can Nhâm, Quý nếu tính can theo phép tìm can giờ (khởi từ Tý). Với năm Mậu, Quý, hai ô ấy là Tý, Sửu, nơi lá số in can Giáp, Ất theo phép tìm can tháng.
Nguồn tham khảo: Khẩu quyết Ngũ Hổ Độn (tìm can tháng Giêng), lưu truyền trong sách lịch và mệnh học · Phép ngũ hợp hoá khí của thiên can, trong các sách Tử Bình như Tam Mệnh Thông Hội · Khẩu quyết Triệt Lộ Không Vong theo can và giờ · Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư · Bảng can cung và vị trí Triệt lập bằng bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com