Điều hậu: sinh mùa đông cần lửa, sinh mùa hạ cần nước theo Cùng Thông Bảo Giám

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Điều hậu: sinh mùa đông cần lửa, sinh mùa hạ cần nước theo Cùng Thông Bảo Giám

Điều hậu là phép chọn dụng thần theo "khí hậu" của tháng sinh trong Bát Tự: sinh mùa đông, khí lạnh, cần Hoả sưởi; sinh mùa hạ, khí nóng, cần Thủy làm mát. Cùng Thông Bảo Giám cho mỗi can ở mỗi tháng một hai chữ cần dùng, thành bảng mười can nhân mười hai tháng. Điều hậu đi cùng phép phù ức, không thay nó.

Bài này đưa bảng ấy (tóm từ chính văn bản), giải thích cách đọc, rồi trả lời câu hỏi người miền Nam hay hỏi: ở nơi không có mùa đông thật, sao vẫn dùng bảng "mùa đông cần lửa".

Điều hậu nằm ở đâu trong việc chọn dụng thần

Các sách Tử Bình chọn dụng thần theo vài phép (bài dụng thần là gì):

  • Phù ức: nhật chủ yếu thì nâng, mạnh thì nén.
  • Điều hậu: lá số quá lạnh thì cần ấm, quá nóng thì cần mát, quá ướt thì cần khô, quá khô thì cần ướt.
  • Thông quan, bệnh dược: cầu nối giữa hai phe đánh nhau; tìm chỗ hỏng rồi tìm thuốc.

Trích Thiên Tủy có hẳn hai thiên Hàn noãn và Táo thấp (nguyên văn ở mục sách cổ). Cùng Thông Bảo Giám đi xa nhất: gần như lấy điều hậu làm khung, viết riêng cho từng can ở từng tháng.

Bảng điều hậu theo Cùng Thông Bảo Giám

Bảng dưới tóm chữ cần dùng mà sách nêu đầu tiên cho mỗi can ở mỗi tháng, theo thứ tự sách đưa ra (chữ đứng trước là chính). Tháng tính theo tiết (tháng Dần bắt đầu từ Lập Xuân). Chữ trong ngoặc là chữ sách dùng có điều kiện.

Năm can dương

ThángGiápBínhMậuCanhNhâm
DầnBính, QuýNhâm, CanhBính, Giáp, QuýBính, GiápCanh, Bính, Mậu
MãoCanh (cần Mậu, Kỷ)Nhâm (Kỷ)Bính, Giáp, QuýĐinh, GiápMậu, Tân, Canh
ThìnCanh, NhâmNhâm, GiápGiáp, Bính, QuýGiáp, ĐinhGiáp, Canh
TỵQuý, Đinh, CanhNhâm, CanhGiáp, Bính, QuýNhâm, Mậu, BínhNhâm, Tân, Canh
NgọQuý, Đinh, CanhNhâm, CanhNhâm, Giáp, BínhNhâm, QuýQuý, Canh
MùiĐinh, CanhNhâm, CanhQuý, Bính, GiápĐinh, GiápTân, Giáp, Quý
ThânĐinh, CanhNhâmBính, Quý, GiápĐinh, GiápMậu, Đinh
DậuĐinh, Bính, CanhNhâmBính, QuýĐinh, Giáp, BínhGiáp
TuấtĐinh, Nhâm hoặc Quý, CanhGiáp, NhâmGiáp, Quý (Bính)Giáp, NhâmGiáp, Bính
HợiCanh, Đinh, Bính (Mậu chế Nhâm)Giáp, Mậu, CanhGiáp, BínhĐinh, Bính, GiápMậu, Canh
TýĐinh, Canh, BínhNhâm, MậuBính, GiápĐinh, Giáp, BínhMậu, Bính
SửuCanh, ĐinhNhâm, GiápBính, GiápBính, Đinh, GiápBính, Giáp

Năm can âm

ThángẤtĐinhKỷTânQuý
DầnBính, QuýCanh, GiápBính (Mậu khi nhiều Nhâm)Kỷ, Nhâm, CanhTân, Bính
MãoBính, QuýCanh, GiápGiáp, QuýNhâm, GiápCanh, Tân
ThìnQuý, BínhGiáp, CanhBính, Quý, GiápNhâm, GiápBính (sau Cốc Vũ thêm Tân, Giáp)
TỵQuý (Tân, Canh phụ)Giáp, CanhQuý, BínhNhâm (Giáp)Tân (Canh)
NgọQuý; nửa sau tháng Bính, QuýNhâm, Canh, QuýQuý, BínhKỷ, NhâmCanh, Tân, Nhâm hoặc Quý
MùiBính, QuýGiáp, NhâmQuý, BínhNhâm, CanhCanh, Tân, Nhâm hoặc Quý
ThânKỷ, Bính, QuýGiáp, Bính, CanhQuý, Bính (Tân phụ)NhâmĐinh (Giáp)
DậuQuý; sau Thu Phân Bính, QuýGiáp, Bính, CanhQuý, Bính (Tân phụ)Nhâm (Giáp chế Mậu)Tân, Bính
TuấtQuý, TânGiáp, CanhGiáp, Quý, BínhNhâm, GiápTân, Giáp
HợiBính, MậuGiáp, CanhBính (Mậu chế Nhâm), GiápNhâm, BínhCanh, Tân
TýBínhGiáp, CanhBính, GiápBính, NhâmBính, Tân
SửuBínhGiáp, CanhBính, GiápBính, NhâmBính

Bảng tóm, không thay được văn bản: mỗi ô trong sách còn kèm điều kiện (chữ nào thấu, chữ nào tàng, gặp gì thì phá). Một số tháng sách viết gộp (như "ba mùa đông Đinh hoả, Giáp là chính, Canh phụ"), bảng ghi theo đoạn gộp ấy.

Mấy quy luật đọc ra từ bảng

  • Mùa đông, Bính gần như có mặt khắp nơi: Ất, Kỷ, Tân, Quý tháng Tý, Sửu đều lấy Bính đứng đầu. Đó đúng là ý "sinh mùa đông cần lửa", và lửa ở đây là mặt trời (Bính), không phải ngọn đèn (Đinh). Sách nói thẳng ở Ất tháng Tý: Đinh là lửa đèn, sao giải được giá rét.
  • Mùa hạ, Nhâm và Quý lên đầu: Bính tháng Tỵ, Ngọ, Mùi cần Nhâm; Giáp, Ất tháng Tỵ, Ngọ cần Quý.
  • Kim sinh mùa thu cần Đinh luyện: Canh tháng Thân, Dậu lấy Đinh; ý là kim cứng cần lửa rèn mới thành đồ dùng, khác hẳn lối nghĩ "Kim vượng thì cần nước tiết".
  • Thổ tháng tứ quý cần Giáp khai: Mậu, Kỷ tháng Thìn, Tuất lấy Giáp đứng đầu, ý là đất dày cần cây làm tơi.

Bốn quy luật này cho thấy điều hậu của Cùng Thông Bảo Giám không chỉ là "lạnh thì sưởi": nó là một hệ hình ảnh về vật chất của từng can (cây, mặt trời, ngọn đèn, núi, ruộng, kiếm, ngọc, biển, mưa).

Dùng bảng thế nào cho đúng

  1. Xác định nhật chủ và tháng sinh theo tiết, không theo tháng âm lịch (công cụ Bát Tự của site tính sẵn).
  2. Tra ô tương ứng, ghi chữ đứng đầu và chữ thứ hai.
  3. Xem trong tám chữ có chữ ấy không, lộ hay tàng. Sách đánh giá rất khác nhau giữa "thấu can" và "tàng chi".
  4. Đặt điều hậu cạnh phù ức. Khi lá số không quá lạnh hay quá nóng, phù ức thường nặng hơn; khi mùa sinh cực đoan (Tý, Sửu, Ngọ, Mùi), nhiều thầy để điều hậu lên trước.
  5. Không dùng bảng để "bổ hành" theo kiểu mặc màu, đeo đồ. Bảng nói về chữ trong lá số và trong vận, không phải về đồ vật.

Người sinh ở miền Nam có cần bảng mùa đông không

Ở Cà Mau, Sài Gòn, không có mùa đông lạnh như Hà Nội, càng không như Hoa Bắc nơi các sách này ra đời. Người miền Nam sinh tháng Tý, tháng Sửu hỏi: lá số tôi có "lạnh" không?

Lý lẽ của cách dùng phổ biến (giữ nguyên bảng):

  • Tháng trong Bát Tự là tháng tiết khí, định bằng vị trí mặt trời, không phải bằng nhiệt độ đo được. Tháng Tý chứa Đông Chí, lúc "một dương bắt đầu sinh"; đó là điểm của chu kỳ âm dương, đúng ở mọi nơi trên bắc bán cầu.
  • Chu kỳ ấy có thật ở miền Nam, chỉ yếu hơn: theo tính toán thiên văn phổ thông, ở Hà Nội ngày Đông Chí ngắn hơn ngày Hạ Chí chừng hai tiếng rưỡi, ở Cà Mau chừng một tiếng; ngày ngắn nhất vẫn rơi đúng Đông Chí.
  • Các can trong bảng là hình ảnh của năm hành theo mùa trong hệ lý luận, không phải mô tả thời tiết địa phương.

Lý lẽ phản biện:

  • "Điều hậu" nghĩa đen là điều hoà khí hậu. Áp máy móc "mùa đông cần lửa" cho người sinh nơi tháng Chạp vẫn ba mươi độ là đọc sai tinh thần.
  • Với người sinh ở nam bán cầu, nơi tháng Sáu là mùa đông, có người đề xuất đảo trụ tháng; đề xuất này đến nay vẫn tranh cãi, phần đông thầy không dùng.

Cách chúng tôi trình bày: dùng bảng như sách, nhưng đọc nó là khí âm dương của tháng trong hệ ngũ hành, coi điều hậu là một lớp trong nhiều lớp; với người sinh ở vùng nhiệt đới, nên để phù ức và cách cục làm chính, điều hậu làm phụ trừ khi lá số thật sự lệch hẳn về Thủy hay về Hoả. Đây là lập trường đọc chừng mực, không phải chân lý.

Sách cổ nói gì

天道有寒暖,發育萬物,人道得之,不可過也。 Thiên đạo hữu hàn noãn, phát dục vạn vật, nhân đạo đắc chi, bất khả quá dã.

Đạo trời có lạnh có ấm, nuôi lớn muôn vật; đạo người có được nó, không thể thái quá. — Trích Thiên Tủy, Hàn noãn luận

地道有燥濕,生成品彙,人道得之,不可偏也。 Địa đạo hữu táo thấp, sinh thành phẩm vựng, nhân đạo đắc chi, bất khả thiên dã.

Đạo đất có khô có ướt, sinh thành muôn loài; đạo người có được nó, không thể lệch một bên. — Trích Thiên Tủy, Táo thấp luận

Bình: hai câu đặt nguyên tắc là "không quá, không lệch", không phải "mùa đông phải có lửa". Lời chú còn nói khí lạnh gặp ấm thì phát, khí ấm gặp lạnh thì thành; lạnh cực, ấm cực mà chỉ có một hai chữ làm thành tượng thì không tốt. Điều hậu là tìm thế cân, không phải chọn phe.

十一月乙木,花木寒冻,一阳来复,喜用丙火解冻,则花木有向阳之意,不宜用癸以冻花木,故耑用丙火。 Thập nhất nguyệt Ất mộc, hoa mộc hàn đống, nhất dương lai phục, hỷ dụng Bính hoả giải đống, tắc hoa mộc hữu hướng dương chi ý, bất nghi dụng Quý dĩ đống hoa mộc, cố chuyên dụng Bính hoả.

Ất mộc tháng Mười Một, cây hoa lạnh cóng, một dương trở lại, nên dùng Bính hoả để giải băng, cây hoa mới có ý hướng về mặt trời; không nên dùng Quý làm cây thêm cóng, nên chuyên dùng Bính hoả. — Cùng Thông Bảo Giám, phần Ất mộc

Bình: một đoạn đủ thấy cách sách nghĩ: Ất là cây hoa, tháng Tý là giá rét, Bính là mặt trời. Đọc như thơ thì dễ nhớ; đọc như công thức thì phải nhớ rằng phía sau còn hàng chục câu điều kiện.

Cùng Thông Bảo Giám vốn có tên Lan Giang Võng, được Dư Xuân Đài đời Thanh biên tập lại.

Đọc cho đúng mức

  • Bảng trong bài là bản tóm, đã lược nhiều điều kiện; ai dùng nghiêm túc nên đọc thẳng văn bản cho can và tháng của mình.
  • Các "bảng điều hậu tra nhanh" đang lưu hành xếp thứ tự chữ không giống nhau. Chẳng hạn Giáp mộc tháng Thân, tháng Dậu: nhiều bảng in sẵn để Canh đứng trước Đinh, trong khi đoạn văn của sách nhấn Đinh trước; Ất mộc tháng Thân có bảng để Bính, Quý trước Kỷ. Gặp chỗ lệch như vậy, chữ đứng đầu hay đứng sau không quan trọng bằng điều kiện sách nêu kèm; hai bảng thường vẫn cùng một nhóm chữ.
  • Các phái cân điều hậu và phù ức khác nhau. Có phái lấy điều hậu làm chính, có phái chỉ dùng khi lá số quá lạnh hay quá nóng.
  • Chuyện vùng nhiệt đới và nam bán cầu chưa có lời giải chung.
  • Dụng thần, dù theo điều hậu hay phù ức, chỉ là cách đọc cân bằng trong tám chữ, không phải lời hứa về đời người.

Việc nên làm

  1. Lập tứ trụ, xác định nhật chủ và tháng sinh theo tiết.
  2. Tra hai bảng trên, ghi chữ điều hậu đứng đầu cho trường hợp của mình.
  3. Kiểm chữ ấy có trong tám chữ không, thấu hay tàng; rồi đặt cạnh kết quả phù ức.
  4. Nếu sinh ở vùng nóng quanh năm mà rơi vào tháng Tý, Sửu, đừng vội kết luận "lá số lạnh"; hỏi thêm người đọc về cả hai phép.
  5. Đọc bài nguyệt lệnh để hiểu vì sao tháng sinh quyết định nhiều đến thế.

Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?

Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.

Xem lịch các thầy

Nguồn tham khảo

  • Cùng Thông Bảo Giám (Lan Giang Võng), Dư Xuân Đài biên tập — phần mười can theo từng tháng.
  • Trích Thiên Tủy — Hàn noãn luận, Táo thấp luận.
  • Tính toán độ dài ngày theo vĩ độ ở Hà Nội và Cà Mau (thiên văn phổ thông, đại ý).

Câu hỏi thường gặp

Điều hậu là gì?

Là phép chọn dụng thần theo khí của tháng sinh: lá số sinh mùa lạnh cần ấm, sinh mùa nóng cần mát, quá ướt cần khô, quá khô cần ướt. Cùng Thông Bảo Giám là sách dùng điều hậu làm khung.

Bảng điều hậu tra thế nào?

Xác định can ngày và tháng sinh theo tiết, rồi tìm ô tương ứng trong bảng mười can nhân mười hai tháng. Chữ đứng đầu là chữ sách coi trọng nhất; sau đó xem chữ ấy có trong tám chữ không.

Điều hậu và phù ức, phép nào quan trọng hơn?

Tuỳ lá số và tuỳ phái. Khi sinh vào tháng cực lạnh hay cực nóng, nhiều thầy đặt điều hậu lên trước; khi khí hậu tháng sinh không cực đoan, phù ức thường nặng hơn.

Người sinh ở miền Nam có dùng bảng điều hậu mùa đông không?

Phần đông thầy vẫn dùng, vì tháng trong Bát Tự là tháng tiết khí theo mặt trời, không theo nhiệt độ. Có ý kiến phản biện rằng nên giảm nhẹ điều hậu ở vùng nhiệt đới; đây là chỗ còn tranh luận.

Thiếu chữ điều hậu thì có nên mặc màu hay đeo đồ để bổ?

Không nên hiểu như vậy. Bảng điều hậu nói về chữ trong lá số và trong vận. Việc chọn màu, đồ vật là lối suy rộng của đời sau, không có trong Cùng Thông Bảo Giám.

Nguồn tham khảo: Cùng Thông Bảo Giám (Lan Giang Võng), Dư Xuân Đài biên tập — phần mười can theo từng tháng · Trích Thiên Tủy — Hàn noãn luận; Táo thấp luận · Tính toán độ dài ngày theo vĩ độ (thiên văn phổ thông)

Thần sát trong Bát Tự: Thiên Ất Quý Nhân, Văn Xương, Dịch Mã, Đào Hoa và vì sao danh gia coi nhẹThần sát Bát Tự: bảng tra Thiên Ất Quý Nhân, Văn Xương, Lộc, Dương Nhận, Dịch Mã, Đào Hoa, Hoa Cái; đếm 262.980 lá số cho thấy vì…
Tám chính cách và các ngoại cách: tòng cách, hoá khí cách, chuyên vượng cáchNgoại cách bát tự: tám chính cách theo Trích Thiên Tủy, rồi tòng cách, hoá khí cách, chuyên vượng cách; khi nào bỏ phép phù ức, v…
Không có giờ sinh: Tam Trụ đọc được gì và mất gìTam trụ không giờ sinh: ba trụ năm, tháng, ngày vẫn giữ nhật chủ, nguyệt lệnh; mất trụ giờ là mất phần con cái, tuổi già và độ ch…
Không vong trong Bát Tự: tuần không của trụ ngày rơi vào đâu và cách đọc "không mà không không"Không vong Bát Tự: bảng sáu tuần Giáp, cách tìm hai chi không vong theo trụ ngày, ví dụ rơi vào trụ năm và trụ giờ, khi nào không…
Chính Quan, Thất Sát: kỷ luật, áp lực, và bốn cách sách cổ "chế" SátChính Quan, Thất Sát trong Bát Tự: khắc ta là Quan Sát, vì sao gọi là Thất, Thực Thần chế Sát, Ấn hoá Sát, Nhận hợp Sát, Quan Sát…
Sáu mươi nhật trụ: người sinh ngày Giáp Tý đến Quý Hợi, bảng traBảng tra 60 nhật trụ từ Giáp Tý đến Quý Hợi: nạp âm, tàng can của chi ngày và Thập Thần, vòng Tràng Sinh, các ngày Khôi Cương, Nh…