Sáu nạp âm hành Mộc: Đại Lâm, Dương Liễu, Tùng Bách, Bình Địa, Tang Đố, Thạch Lựu đọc như sáu mùa cây

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc

Sáu nạp âm hành Mộc: Đại Lâm, Dương Liễu, Tùng Bách, Bình Địa, Tang Đố, Thạch Lựu đọc như sáu mùa cây

Sáu nạp âm hành Mộc chia trọn mười hai tháng trong năm, mỗi tên hai tháng: Tùng Bách đầu xuân, Đại Lâm cuối xuân, Dương Liễu giữa hè, Thạch Lựu mùa thu, Bình Địa cuối thu đầu đông, Tang Đố giữa đông. Đọc theo mùa, mỗi thứ cây có sức riêng: Tùng Bách chịu rét, Dương Liễu mềm sợ Kim, Bình Địa cần được phát tỉa.

Bài lục thập hoa giáp đã giải từng tên theo Tam Mệnh Thông Hội. Bài này đặt sáu thứ cây cạnh nhau theo một lối ít người để ý: mỗi cặp can chi ứng với hai tháng âm lịch, và sáu tên Mộc nối nhau thành một năm của cây cối. Cuối bài là chuyện cái tên "Tang Đố" mà sách Việt quen dùng.

Bảng sáu thứ Mộc

TênCan chiNăm sinh gần đâyTháng âm của hai chiMộc ở chi ấy (vòng Trường Sinh)
Tùng Bách MộcCanh Dần, Tân Mão1950–51, 2010–11Giêng, HaiLâm Quan, Đế Vượng
Đại Lâm MộcMậu Thìn, Kỷ Tỵ1928–29, 1988–89Ba, TưSuy, Bệnh
Dương Liễu MộcNhâm Ngọ, Quý Mùi1942–43, 2002–03Năm, SáuTử, Mộ
Thạch Lựu MộcCanh Thân, Tân Dậu1980–81, 2040–41Bảy, TámTuyệt, Thai
Bình Địa MộcMậu Tuất, Kỷ Hợi1958–59, 2018–19Chín, MườiDưỡng, Trường Sinh
Tang Đố Mộc (bản Hán: Tang Chá Mộc)Nhâm Tý, Quý Sửu1972–73, 2032–33Mười Một, ChạpMộc Dục, Quan Đới

Tháng âm lịch đặt theo chi: tháng Giêng là Dần, tháng Hai là Mão… tháng Chạp là Sửu. Vòng Trường Sinh của Mộc khởi ở Hợi. Cả hai cột tính bằng máy; tên nạp âm khớp bảng của bộ máy lá số trên site.

Sáu tên, mười hai tháng: một năm của cây cối

Sáu cặp chi của sáu tên Mộc (Dần Mão, Thìn Tỵ, Ngọ Mùi, Thân Dậu, Tuất Hợi, Tý Sửu) phủ đủ mười hai chi, không trùng, không sót. Điều này đúng với mọi hành, vì ba mươi tên nạp âm được dựng từ sáu cặp chi nhân năm hành. Nhưng với hành Mộc, nó cho một cách đọc đặc biệt tự nhiên, vì cây cối đổi theo mùa rõ hơn mọi thứ khác:

Tháng Giêng, Hai: Tùng Bách. Đầu xuân, trời còn rét, chỉ tùng bách xanh (bài nạp âm trong Tử Vi và Bát Tự giải thêm vòng Trường Sinh dùng ở đây). Đây cũng là chỗ Mộc lâm quan, đế vượng, mạnh nhất. Hình tượng và sức của hành trùng nhau.

Tháng Ba, Tư: Đại Lâm. Cuối xuân đầu hạ, rừng sum suê nhất. Nhưng trên vòng Trường Sinh, Mộc ở Thìn, Tỵ đã Suy, Bệnh. Nghịch lý này đáng dừng lại: rừng lớn là cây đã qua thời "đang lên", đã thành hình, đã già. Sách giải Đại Lâm bằng chữ "đồng nội" của Thìn và sáu hào dương của tháng Tỵ, tức lấy cảnh vật của mùa, không lấy sức của Mộc. Ở tên này, hình tượng và sức đi hai đường.

Tháng Năm, Sáu: Dương Liễu. Giữa hè, nắng gắt, cây liễu rủ cành. Mộc ở Tử, Mộ. Liễu sống qua hè bằng cách mềm đi, nghiêng theo gió.

Tháng Bảy, Tám: Thạch Lựu. Mùa thu, Kim vượng, cây cối rụng lá. Mộc ở Tuyệt, Thai, yếu nhất. Vậy mà cây lựu lại kết trái đúng mùa này. Sách chọn đúng thứ cây đi ngược mùa để đặt tên cho chỗ Mộc yếu nhất.

Tháng Chín, Mười: Bình Địa. Cuối thu đầu đông, cây cỏ đồng bằng. Mộc ở Dưỡng, Trường Sinh: mầm của năm sau đang được nuôi dưới đất. Không phải một gốc cây, mà cả một vùng cỏ cây nhỏ.

Tháng Mười Một, Chạp: Tang Đố (Tang Chá). Giữa đông, cây dâu trụi lá, gốc được vun, chờ xuân ra lá nuôi tằm. Mộc ở Mộc Dục, Quan Đới: đang lớn lại từ gốc.

Đọc vòng này từ đầu tới cuối là thấy một năm của cây: xanh qua rét, tốt tươi, mềm dưới nắng, đi ngược mùa, nằm mầm, chờ xuân. Đây là cách đọc của chúng tôi dựa trên tháng của chi, không phải lời sách; nhưng nó khớp với từng lời giải trong chương thủ tượng.

Cần gì, kỵ gì

TênGặp KimGhi chú
Bình Địa Mộccần Kim (được phát, tỉa, đẽo mới thành)khẩu quyết "khắc mà thành" của hành Mộc
Đại Lâm Mộcmột số bản cũng xếp vào nhóm cần Kim (rừng có rìu mới thành rường cột)không thống nhất
Dương Liễu Mộckỵ Kim rõ nhất (cành mềm, Kim đến là gãy)các bản đời sau dẫn nhiều
Tùng Bách Mộcchịu được, gỗ cứngsuy từ hình tượng và sức (Lâm Quan, Đế Vượng)
Thạch Lựu Mộcsống giữa mùa Kim vượngsuy từ hình tượng; sách không nói rõ "cần" hay "kỵ"
Tang Đố Mộccần Thủy, Thổ vun gốc hơn là cần Kimsuy từ hình tượng mùa đông

Hai dòng đầu và dòng Dương Liễu là phần khẩu quyết có nói; ba dòng còn lại là suy từ hình tượng, ghi để thấy logic. Bảng đầy đủ năm hành ở bài nạp âm phản sinh, phản khắc.

Tang Đố hay Tang Chá: chuyện một cái tên

Sách Việt và các bảng nạp âm phổ biến ở ta viết Tang Đố Mộc cho Nhâm Tý, Quý Sửu; bộ máy lá số của site cũng giữ tên này theo thói quen. Bản Hán của Tam Mệnh Thông Hội và các sách Trung Hoa viết 桑柘木:

  • 桑 (tang) là cây dâu.
  • 柘 (đọc Hán Việt là chá) là một loài cây cùng họ dâu, lá cũng dùng nuôi tằm, gỗ cứng.

Vậy nghĩa đúng của tên là "gỗ cây dâu, cây chá", hai thứ cây nuôi tằm. Vì sao chữ "chá" thành "đố" trong sách Việt, chúng tôi chưa tìm được văn bản nói rõ. Điều chắc là khi tra sách Trung Hoa, phải tìm "Tang Chá", không phải "Tang Đố". Trường hợp tương tự: Mậu Thân, Kỷ Dậu sách Việt chép "Đại Trạch Thổ", bản Hán là "Đại Dịch Thổ" (xem sáu nạp âm hành Thổ).

Sách cổ nói gì

Tuế hàn, nhiên hậu tri tùng bách chi hậu điêu dã.

Dịch: Trời rét rồi mới biết tùng bách rụng lá sau cùng. — Luận Ngữ, Tử Hãn

Bình: Câu của Khổng Tử không nói về nạp âm, nhưng nó là hình ảnh người xưa gắn với tùng bách: cây đứng được qua mùa rét. Tam Mệnh Thông Hội chọn tùng bách cho Canh Dần, Tân Mão, tức tháng Giêng, tháng Hai còn rét, đúng hình ảnh ấy.

Tam Mệnh Thông Hội, Luận nạp âm thủ tượng, đại ý: Canh Thân, Tân Dậu là Thạch Lựu Mộc; Thân là tháng Bảy, Dậu là tháng Tám, lúc cây cối tàn úa, riêng cây lựu lại kết trái.

Bình: Lời giải này cho thấy sách đọc nạp âm theo tháng của chi, đúng như cách đọc theo mùa ở trên. Cây lựu là ví dụ đẹp nhất: một thứ cây mạnh lên đúng lúc hành của nó yếu nhất.

Tam Mệnh Thông Hội, cùng chương, đại ý: Nhâm Ngọ, Quý Mùi là Dương Liễu Mộc; Mộc tử ở Ngọ, mộ ở Mùi, dù được Thủy nuôi vẫn mềm yếu.

Bình: Ở đây sách đọc bằng vòng Trường Sinh thay vì bằng mùa. Hai tiêu chí, mùa và sức, cùng được dùng; chỗ chúng trùng (Tùng Bách, Dương Liễu) thì lời giải gọn, chỗ chúng lệch (Đại Lâm) thì lời giải phải dựa vào cảnh vật.

Đọc cho đúng mức

Hình tượng cây không phải lời phán về tính người (nạp âm khác ngũ hành can chi, xem ngũ hành nạp âm và ngũ hành can chi). Người sinh năm Nhâm Ngọ không mềm yếu như liễu, người sinh năm Canh Dần không cứng cỏi như tùng. Nạp âm năm sinh là chung cho cả một lứa tuổi.

Cách đọc theo mùa là của chúng tôi, dựa trên tháng của chi. Nó giúp nhớ và khớp lời giải sách, nhưng sách không trình bày sáu tên Mộc thành một vòng năm như vậy.

Phần "cần, kỵ" có nhiều dị bản. Chỉ dòng Bình Địa cần Kim và Dương Liễu kỵ Kim là khá thống nhất.

Việc nên làm

  1. Tra đúng tên nạp âm năm sinh âm lịch bằng công cụ dưới đây, đừng chỉ dừng ở chữ "Mộc".
  2. Khi tra sách Trung Hoa, đổi "Tang Đố" thành "Tang Chá", "Đại Trạch" thành "Đại Dịch".
  3. Gặp lời phán "Kim khắc Mộc", xem tên Mộc là gì: Bình Địa cần Kim, Dương Liễu mới thật sợ Kim.
🔥Tra mệnh – cung phi
Mệnh nạp âm, cung phi, can chi theo ngày sinh (tính đúng người sinh trước Tết).
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Vạn Dân Anh, Tam Mệnh Thông Hội, quyển 1, Luận nạp âm thủ tượng (đại ý).
  • Luận Ngữ, thiên Tử Hãn, câu về tùng bách.
  • Bảng nạp âm, tháng của chi, trạng thái vòng Trường Sinh: tính bằng bảng nạp âm của bộ máy lá số aihuyenhoc.com và một chương trình riêng.

Câu hỏi thường gặp

Sáu nạp âm Mộc gồm những tên nào?

Đại Lâm Mộc (Mậu Thìn, Kỷ Tỵ), Dương Liễu Mộc (Nhâm Ngọ, Quý Mùi), Tùng Bách Mộc (Canh Dần, Tân Mão), Bình Địa Mộc (Mậu Tuất, Kỷ Hợi), Tang Đố Mộc (Nhâm Tý, Quý Sửu) và Thạch Lựu Mộc (Canh Thân, Tân Dậu).

Tang Đố Mộc có phải tên đúng không?

Sách Việt quen viết Tang Đố Mộc, còn bản Hán viết 桑柘木, đọc là Tang Chá Mộc: gỗ cây dâu và cây chá, hai thứ cây nuôi tằm. Khi tra sách Trung Hoa nên tìm theo tên Tang Chá.

Vì sao Đại Lâm Mộc là rừng lớn mà lại ở Suy, Bệnh?

Vì sách đặt tên Đại Lâm theo cảnh vật của tháng Ba, tháng Tư (đồng nội, cây cối sum suê), không theo sức của Mộc. Rừng lớn là cây đã thành hình, đã qua thời đang lên.

Dương Liễu Mộc kỵ gì?

Theo các bản đời sau, Dương Liễu Mộc kỵ Kim rõ nhất trong sáu thứ Mộc, vì cành mềm, Mộc lại ở Tử, Mộ. Người sinh 1942, 1943, 2002, 2003 mang nạp âm này.

Bình Địa Mộc vì sao cần Kim?

Bình Địa Mộc là cây cỏ cả vùng đồng bằng; khẩu quyết đại ý nói không có Kim thì không tươi tốt, tức cây phải được phát, tỉa, đẽo mới thành dùng. Đây là một trường hợp "khắc mà thành".

Nguồn tham khảo: Tam Mệnh Thông Hội — Vạn Dân Anh — quyển 1, Luận nạp âm thủ tượng · Luận Ngữ — Tử Hãn — câu tuế hàn nhiên hậu tri tùng bách

Sáu nạp âm hành Thổ: Lộ Bàng, Thành Đầu, Ốc Thượng, Bích Thượng, Đại Dịch, Sa Trung Thổ, ba thứ đất trống và ba thứ đất người đắpSáu nạp âm hành Thổ: đất đường, đất thành, ngói mái, đất vách, đất trạm dịch, đất cát; ba thứ đất trống cần Mộc, ba thứ người đắp…
So nạp âm vợ chồng: Kim gặp Hỏa có thật là khắc — đọc theo lối "sinh khắc chế hoá" của sáchSo nạp âm vợ chồng: bảng 5×5 hành, tỉ lệ cặp bị gọi là khắc theo độ chênh tuổi, những cặp Tam Mệnh Thông Hội coi là khắc mà thành…
Sáu nạp âm hành Kim: Hải Trung, Kiếm Phong, Bạch Lạp, Sa Trung, Kim Bạch, Thoa Xuyến khác nhau ở đâuSáu nạp âm hành Kim: Hải Trung, Kiếm Phong, Bạch Lạp, Sa Trung, Kim Bạch, Thoa Xuyến. Độ mạnh theo vòng Trường Sinh, hình tượng v…
Những cặp nạp âm "khắc mà thành": Kiếm Phong Kim cần Hỏa, Đại Hải Thủy không sợ ThổNạp âm phản sinh phản khắc: vì sao Kiếm Phong, Sa Trung Kim cần Hỏa, Thiên Hà, Đại Hải Thủy không sợ Thổ, và nạp âm nào thật sự k…
Mệnh khắc Cục, Cục khắc Mệnh trong tử vi: năm quan hệ, sách Việt đọc ra sao và máy đếm được bao nhiêuMệnh khắc Cục, Cục khắc Mệnh trong tử vi: năm quan hệ giữa nạp âm năm sinh và ngũ hành cục, cách sách Việt đọc, và máy đếm 8.640 …
Nạp âm làm gì trong Tử Vi và Bát Tự: cục, vòng Tràng Sinh và sinh khắc cung MệnhNạp âm trong Tử Vi định cục, vòng Tràng Sinh và lớp sinh khắc bản mệnh; Bát Tự Tử Bình gần như bỏ nó. Chỗ nạp âm được dùng thật v…