Tam Sát và Tuế Phá là gì: hai phương kiêng động thổ đổi theo năm, bảng mười hai năm

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc

Tam Sát và Tuế Phá là gì: hai phương kiêng động thổ đổi theo năm, bảng mười hai năm

Tam Sát và Tuế Phá là hai phương mà sách chọn ngày dặn tránh động thổ, sửa lớn trong năm. Tuế Phá nằm ở phương xung với Thái Tuế, tức đối diện chi của năm. Tam Sát gồm ba sơn Kiếp sát, Tai sát, Tuế sát, tính theo bộ tam hợp của chi năm, nằm ở phương đối diện chỗ vượng của cục. Cả hai chỉ cần biết chi năm là tính được.

Bài này là bài khái niệm, làm gốc cho các bài theo từng năm như Tam Sát, Thái Tuế, Tuế Phá năm 2027. Ở đây có cách tính chung, bảng đủ mười hai năm kèm độ la bàn, và vài quy luật chỉ thấy khi đặt cả mười hai năm cạnh nhau.

Thái Tuế, Tuế Phá: một trục đi qua tâm nhà

Thái Tuế là ngôi "vua của năm" trong hệ thần sát, đóng ở đúng địa chi của năm: năm Tý ở sơn Tý (chính Bắc), năm Mùi ở sơn Mùi (Tây Nam lệch Nam). Gốc thiên văn của nó, một sao tưởng tượng chạy ngược sao Mộc, đã giải ở bài Thái Tuế là gì.

Tuế Phá đóng ở địa chi xung với năm, cách Thái Tuế đúng 180 độ. "Phá" là đối đầu: phương ấy đứng thẳng mặt với ngôi vua của năm. Sách chọn ngày kiêng động thổ ở Tuế Phá, có nơi coi nặng hơn cả Thái Tuế.

Hai phương này luôn nằm trên một đường thẳng qua tâm, như kim đồng hồ có hai đầu. Mỗi năm, trục ấy quay đi 30 độ theo chiều kim đồng hồ (nhìn bản đồ phương Bắc ở trên), mười hai năm quay đủ một vòng.

Tam Sát: ba sơn ở phương đối diện chỗ vượng

Tam Sát tính theo bộ tam hợp chứa chi năm:

Chi năm thuộcCụcCục vượng ởTam Sát ở phương đối diệnKiếp sátTai sátTuế sát
Thân, Tý, ThìnThuỷTý (Bắc)NamTỵNgọMùi
Dần, Ngọ, TuấtHoảNgọ (Nam)BắcHợiTýSửu
Tỵ, Dậu, SửuKimDậu (Tây)ĐôngDầnMãoThìn
Hợi, Mão, MùiMộcMão (Đông)TâyThânDậuTuất

Lý lẽ thường được nêu: cục mạnh nhất ở phương vượng, nên phương đối diện là chỗ khí của cục yếu nhất, bị xung, gọi là sát. Đặt lên vòng Trường Sinh thì ba sơn Tam Sát đúng là ba chặng Tuyệt, Thai, Dưỡng của hành cục; ba chặng đứng ngay trước đó, Bệnh, Tử, Mộ, lại chính là ba năm tam tai theo tuổi. Quan hệ giữa hai lệ được phân tích ở bài tam tai từ đâu ra.

Về độ rộng, ba sơn Tam Sát mỗi sơn 15 độ. Giữa chúng có hai sơn can xen kẽ (ví dụ giữa Thân, Dậu, Tuất là Canh, Tân); nhiều thầy tính cả hai sơn ấy, tức trọn một dải 75 độ. Sách không thống nhất chỗ này.

Bảng mười hai năm

Độ tính theo la bàn từ tâm nhà hoặc tâm khu đất, 0 độ là chính Bắc, đi theo chiều kim đồng hồ. Năm thần sát đổi ở Lập Xuân (khoảng 4/2 dương lịch), theo lệ sách chọn ngày.

Năm (chi)Năm gần nhấtThái TuếTuế PháTam SátGhi chú
Tý2032Tý 352,5–7,5Ngọ 172,5–187,5Tỵ, Ngọ, Mùi (Nam)Tuế Phá trùng Tai sát
Sửu2033Sửu 22,5–37,5Mùi 202,5–217,5Dần, Mão, Thìn (Đông)
Dần2034Dần 52,5–67,5Thân 232,5–247,5Hợi, Tý, Sửu (Bắc)
Mão2035Mão 82,5–97,5Dậu 262,5–277,5Thân, Dậu, Tuất (Tây)Tuế Phá trùng Tai sát
Thìn2024, 2036Thìn 112,5–127,5Tuất 292,5–307,5Tỵ, Ngọ, Mùi (Nam)
Tỵ2025Tỵ 142,5–157,5Hợi 322,5–337,5Dần, Mão, Thìn (Đông)
Ngọ2026Ngọ 172,5–187,5Tý 352,5–7,5Hợi, Tý, Sửu (Bắc)Tuế Phá trùng Tai sát
Mùi2027Mùi 202,5–217,5Sửu 22,5–37,5Thân, Dậu, Tuất (Tây)
Thân2028Thân 232,5–247,5Dần 52,5–67,5Tỵ, Ngọ, Mùi (Nam)
Dậu2029Dậu 262,5–277,5Mão 82,5–97,5Dần, Mão, Thìn (Đông)Tuế Phá trùng Tai sát
Tuất2030Tuất 292,5–307,5Thìn 112,5–127,5Hợi, Tý, Sửu (Bắc)
Hợi2031Hợi 322,5–337,5Tỵ 142,5–157,5Thân, Dậu, Tuất (Tây)

Bảng tính bằng máy theo quy tắc trên và kiểm tay; dòng năm Mùi khớp với bảng của bài năm 2027.

Ba quy luật hiện ra khi nhìn cả mười hai năm

Tam Sát chỉ có bốn phương, và quay bốn năm một vòng. Năm Tý ở Nam, Sửu ở Đông, Dần ở Bắc, Mão ở Tây, rồi Thìn lại ở Nam. Nam, Đông, Bắc, Tây: mỗi năm nhảy 90 độ theo chiều ngược kim đồng hồ. Trong khi đó trục Thái Tuế, Tuế Phá chỉ quay 30 độ mỗi năm theo chiều kim đồng hồ. Hai hệ chạy ngược chiều nhau, nên năm nào chúng cũng rơi vào những chỗ khác nhau.

Năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu: Tuế Phá rơi đúng vào Tai sát. Ở bốn năm tứ chính này, chi xung với năm cũng chính là sơn giữa của Tam Sát. Phương ấy chịu hai lớp kiêng cùng lúc. Năm 2026 (Ngọ) là ví dụ: sơn Tý ở chính Bắc vừa là Tuế Phá vừa là Tai sát.

Không năm nào Thái Tuế nằm trong Tam Sát. Kiểm cả mười hai dòng: sơn Thái Tuế luôn ở ngoài ba sơn Tam Sát của chính năm ấy. Nghĩa là ngoài phương Tam Sát, mỗi năm còn thêm ít nhất một phương nữa (Thái Tuế) và thường thêm phương thứ ba (Tuế Phá) phải để ý.

Kiêng cái gì, và không kiêng cái gì

Theo sách chọn ngày, cái bị kiêng là động: đào móng, đào ao, đập tường, khoan cắt kết cấu, làm ồn kéo dài ở phương ấy tính từ tâm. Sơn sửa nhẹ, dọn dẹp, thay đồ đạc không thuộc diện này. Công trình đã khởi công từ năm trước và làm liên tục thì phần đông thầy không coi là động thổ mới.

Có một khẩu quyết lưu truyền về cách tọa, hướng với hai loại thần sát này; bài năm 2027 đã giải khẩu quyết ấy và cách áp vào nhà ở. Các sách chọn ngày còn tính Tam Sát cho tháng và cho ngày theo cùng quy tắc tam hợp với chi tháng, chi ngày; khi chọn ngày động thổ, người làm nghề xét thêm lớp này (xem xem ngày động thổ).

Tam Sát, Tuế Phá thuộc về phương, không thuộc về tuổi. "Tuổi phạm Thái Tuế" là một khái niệm khác, xét theo tuổi người; còn "tam tai" theo tuổi là một lệ khác nữa dù cùng có chữ "tam".

Sách cổ nói gì

Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, đại ý: Thái Tuế là tượng của vua trong năm, đứng đầu các thần; phương xung với Thái Tuế là Tuế Phá, không nên động thổ, tu tạo.

Bình: Bộ sách triều Thanh sai soạn để chỉnh lý các thuyết thần sát đã loại bỏ rất nhiều thần sát vụn vặt, nhưng giữ lại Thái Tuế, Tuế Phá, Tam Sát. Đó là ba thần có lý lẽ ngũ hành và phương vị rõ ràng nhất trong hệ.

Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, đại ý: năm Thân Tý Thìn sát ở Tỵ Ngọ Mùi, năm Dần Ngọ Tuất sát ở Hợi Tý Sửu, năm Tỵ Dậu Sửu sát ở Dần Mão Thìn, năm Hợi Mão Mùi sát ở Thân Dậu Tuất; gọi là Kiếp sát, Tai sát, Tuế sát.

Bình: Cả bảng mười hai năm ở trên chỉ là bốn câu này trải ra. Người học nên thuộc bốn câu, không cần thuộc bảng.

Đọc cho đúng mức

Đây là quy ước chọn phương của sách chọn ngày, không phải phép đo. Tránh động thổ ở một phương không bảo đảm điều gì; nó là cách người xưa xếp việc trong năm cho êm.

Các phái khác nhau về độ rộng. Có thầy chỉ tính ba sơn chi, có thầy tính trọn dải 75 độ. Có thầy Huyền Không thuần chỉ xét phi tinh, ít chú trọng Tam Sát.

An toàn công trình đứng trước mọi phương hướng. Nền móng, kết cấu, giấy phép, thợ có tay nghề quyết định ngôi nhà nhiều hơn Tam Sát, Tuế Phá.

Việc nên làm

  1. Thuộc bốn câu Tam Sát theo tam hợp và luật "Tuế Phá là chi xung năm". Với hai thứ ấy, năm nào cũng tự tính được.
  2. Vẽ sơ đồ nhà, đánh dấu tâm, kẻ các tia của Thái Tuế, Tuế Phá và dải Tam Sát năm định sửa.
  3. Việc sửa chữa có thể chủ động thì làm ở các phương không vướng trước; phương vướng để sang sau Lập Xuân năm sau.
🧭Hướng nhà Bát Trạch
Cung phi chủ nhà, tám phương cát hung, đặt cửa – bếp – giường.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, biên soạn đời Càn Long: các mục Thái Tuế, Tuế Phá, Tam Sát (đại ý).
  • Vạn Dân Anh, Tam Mệnh Thông Hội: phần tam hợp, mười hai cung trường sinh (đại ý).
  • Bảng mười hai năm: tính bằng máy theo quy tắc tam hợp và xung, độ theo hai mươi bốn sơn; kiểm tay, đối chiếu bài Tam Sát, Thái Tuế, Tuế Phá năm 2027.

Câu hỏi thường gặp

Tam Sát là gì?

Là ba sơn Kiếp sát, Tai sát, Tuế sát của năm, tính theo bộ tam hợp của chi năm, nằm ở phương đối diện chỗ vượng của cục. Năm Thân, Tý, Thìn Tam Sát ở phương Nam; các năm khác suy tương tự.

Tuế Phá là gì?

Là phương xung với Thái Tuế, tức địa chi đối diện chi của năm, cách Thái Tuế 180 độ. Sách chọn ngày dặn tránh động thổ, sửa lớn ở phương Tuế Phá trong năm.

Tam Sát có mấy hướng?

Chỉ bốn hướng Nam, Đông, Bắc, Tây, đổi bốn năm một vòng: năm Tý ở Nam, Sửu ở Đông, Dần ở Bắc, Mão ở Tây, rồi lặp lại. Mỗi hướng gồm ba sơn chi, có thầy tính thêm hai sơn can xen giữa.

Năm nào Tuế Phá trùng Tam Sát?

Năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Ở bốn năm này, sơn xung với năm cũng là Tai sát, sơn giữa của Tam Sát, nên phương ấy chịu hai lớp kiêng cùng lúc.

Tam Sát, Tuế Phá có liên quan tuổi người không?

Không. Đây là thần sát của phương trong năm, dùng khi chọn chỗ động thổ, sửa nhà. Tuổi phạm Thái Tuế và tam tai là những lệ khác, xét theo tuổi người.

Nguồn tham khảo: Hiệp Kỷ Biện Phương Thư (biên soạn đời Càn Long) — các mục Thái Tuế, Tuế Phá, Tam Sát · Tam Mệnh Thông Hội — Vạn Dân Anh — phần tam hợp, mười hai cung trường sinh

Kim Lâu tính tuổi mụ hay tuổi thật, năm âm hay năm Lập Xuân: bốn điểm các thầy nói khác nhauKim Lâu tính theo tuổi nào: tuổi mụ hay tuổi thật, mốc Tết hay Lập Xuân, mẹo đuôi số hay cộng chữ số, có bỏ Lục Súc — mỗi điểm mộ…
Năm kiểu phạm Thái Tuế: trực, xung, hình, hại, phá — bảng theo 12 năm và mức nặng nhẹNăm kiểu phạm Thái Tuế trực, xung, hình, hại, phá: gốc từng kiểu trên vòng địa chi, bảng tuổi phạm cho cả 12 năm, năm phạm kép và…
Thái Tuế là gì: từ sao Mộc mười hai năm, một ngôi sao tưởng tượng chạy ngược, đến vị thần cai quản nămThái Tuế là gì: Tuế tinh (sao Mộc) và Thái Tuế, ảo tinh chạy ngược để đếm năm; tên năm trong Nhĩ Nhã, vì sao tách khỏi sao Mộc, t…
Lễ an Thái Tuế ở chùa người Hoa: tục lệ gồm những gì, từ đâu ra, và tự quyết có làm hay khôngAn Thái Tuế là gì: tục người Hoa ghi tên đầu năm, thờ bài vị, tạ cuối năm; gốc tế Thái Tuế đời Minh, khác lễ dâng sao của người V…
Sáu mươi vị Thái Tuế tinh quân: bảng tên theo năm hoa giáp và vị năm Đinh Mùi 2027Bảng 60 vị Thái Tuế tinh quân theo năm hoa giáp, kèm chữ Hán và năm dương lịch; vị năm Đinh Mùi 2027 là ai, cách tra theo năm âm …
Năm tam tai có nên cưới, làm nhà, mua xe: sách nói gì và mức kiêng thật của từng việcNăm tam tai có nên cưới không: sách chọn ngày ít xét tam tai khi cưới, nhẹ hơn Kim Lâu; làm nhà là điều kiện phụ; mua xe chỉ xét …