Tam truyền sơ – trung – mạt: đọc diễn tiến của việc trong Đại Lục Nhâm
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc
Tam truyền là ba chi rút ra từ bốn khoá của một bàn Đại Lục Nhâm, đọc như ba chặng của việc: sơ truyền là lúc khởi, trung truyền là đoạn chuyển, mạt truyền là kết cục. Mỗi truyền mang theo một thiên tướng và một quan hệ lục thân với can ngày, nên người đọc thấy việc bắt đầu từ đâu, vướng ở đâu và dừng lại thế nào.
Từ bốn khoá ra ba truyền
Bốn khoá là bức ảnh tĩnh của tình thế lúc hỏi; tam truyền là đoạn phim. Lấy sơ truyền theo một trong chín phép gọi là cửu tông môn (xem cửu tông môn). Khi đã có sơ truyền, phần lớn các phép lấy hai truyền sau theo cùng một quy tắc:
- Trung truyền: chi thiên bàn nằm trên chỗ của sơ truyền ở địa bàn.
- Mạt truyền: chi thiên bàn nằm trên chỗ của trung truyền ở địa bàn.
Nói gọn: lấy chi vừa có, nhìn lên trời xem trên đầu nó là chi nào. Vài phép riêng như Bát Chuyên, Phục Ngâm, Phản Ngâm có cách lấy khác.
Ví dụ: một khoá Tặc Khắc ngày 13/3/2027
Thời điểm: thứ Bảy 13/3/2027, giờ Thìn, ngày Tân Mão, mùng 6 tháng Hai âm lịch. Can chi ngày tính bằng bộ máy lịch của site. Mặt Trời ở khoảng 352°, giữa Vũ Thuỷ và Xuân Phân, nên nguyệt tướng là Hợi (xem nguyệt tướng và chiếm thời).
Thiên bàn. Đặt Hợi lên Thìn. Mỗi chi thiên bàn đứng tiến bảy bậc so với chi địa bàn bên dưới: trên Tý là Mùi, trên Mão là Tuất, trên Tỵ là Tý, trên Tuất là Tỵ.
Bốn khoá. Can Tân ký ở Tuất.
| Khoá một | Khoá hai | Khoá ba | Khoá bốn | |
|---|---|---|---|---|
| Trên | Tỵ (Hoả) | Tý (Thuỷ) | Tuất (Thổ) | Tỵ (Hoả) |
| Dưới | Tân (Kim) | Tỵ (Hoả) | Mão (Mộc) | Tuất (Thổ) |
| Quan hệ | trên khắc dưới | trên khắc dưới | dưới khắc trên | trên sinh dưới |
Chỉ khoá ba có "tặc" (dưới khắc trên: Mão Mộc khắc Tuất Thổ). Theo phép Tặc Khắc, một tặc duy nhất thì lấy chi trên của khoá ấy làm sơ truyền; dạng này gọi là Trùng Thẩm.
Ba truyền.
- Sơ truyền: Tuất.
- Trung truyền: trên Tuất là Tỵ.
- Mạt truyền: trên Tỵ là Tý.
Bàn được lập bằng một chương trình nhỏ theo đúng các bước trên, và chúng tôi đếm tay lại từng bước. Chương trình này cho ra đúng các ví dụ đã đăng ở các bài lập khoá và cửu tông môn của chuyên mục.
Gắn thiên tướng cho ba truyền
Ngày Tân, giờ Thìn là giờ ban ngày, Quý Nhân ở Ngọ theo bảng thông dụng. Ngọ thiên bàn đang nằm trên Hợi địa bàn, thuộc nửa Hợi đến Thìn, nên mười hai tướng đi thuận (cách an ở bài mười hai thiên tướng).
| Truyền | Chi | Hành | Thiên tướng | Lục thân với can Tân (Kim) |
|---|---|---|---|---|
| Sơ | Tuất | Thổ | Câu Trần | Phụ mẫu (Thổ sinh Kim) |
| Trung | Tỵ | Hoả | Thiên Hậu | Quan quỷ (Hoả khắc Kim) |
| Mạt | Tý | Thuỷ | Thiên Không | Tử tôn (Kim sinh Thuỷ) |
Thêm hai dữ kiện phụ của ngày: ngày Tân Mão thuộc tuần Giáp Thân, tuần không là Ngọ, Mùi, không truyền nào rơi vào; Dịch mã theo chi ngày Mão là Tỵ, tức trung truyền là mã.
Đọc sơ – trung – mạt
Một cách đọc theo lối các sách phổ thông, chỉ để minh hoạ cách nghĩ:
- Sơ truyền Tuất, Phụ mẫu, Câu Trần. Việc khởi từ giấy tờ, văn thư, người trên (Phụ mẫu là cái sinh ra mình), mà mang tướng Câu Trần, tướng của sự vướng víu, trì trệ, chuyện đất đai. Đầu việc là thủ tục rườm rà.
- Trung truyền Tỵ, Quan quỷ, Thiên Hậu, Dịch mã. Đoạn giữa có áp lực từ phía quy định, cấp trên, hoặc chính sức ép công việc (Quan quỷ là cái khắc mình), lại có mã, tức có di chuyển, có thay đổi. Thiên Hậu mang sắc thái ân huệ, phụ nữ lớn tuổi, người che chở.
- Mạt truyền Tý, Tử tôn, Thiên Không. Kết cục là Tử tôn, cái mình sinh ra, mà trong lý ngũ hành Tử tôn khắc Quan quỷ: áp lực ở đoạn giữa được giải. Tướng Thiên Không ở cuối làm kết cục "nhẹ", có khi là chuyện lo hoá ra không có gì, có khi là kết quả không nhiều như mong.
Thấy được mạch ấy là thấy tinh thần của tam truyền: không đọc từng chi riêng lẻ, mà đọc quan hệ giữa chúng. Ở đây sơ sinh can, trung khắc can, mạt chế trung; tức là: bắt đầu có nền, giữa có sức ép, cuối sức ép được hoá giải.
Hình của ba truyền: một quy luật ít ai nói
Vì trung truyền và mạt truyền được lấy bằng cách "nhìn lên thiên bàn", mà thiên bàn chỉ là địa bàn xoay đi một khoảng cố định, nên trong các phép dùng quy tắc chung, ba truyền luôn cách đều nhau đúng bằng độ lệch của thiên bàn. Độ lệch ấy là khoảng cách từ chi giờ tới chi nguyệt tướng. Từ đó suy ra:
| Độ lệch thiên bàn | Hình ba truyền | Ví dụ |
|---|---|---|
| 0 | Phục Ngâm, có phép riêng | |
| 1 hoặc 11 | ba chi liền nhau, tiến hoặc lùi | Dần → Mão → Thìn |
| 2 hoặc 10 | cách một chi | Dần → Thìn → Ngọ |
| 3 hoặc 9 | ba chi trong bộ bốn chi cách đều | Tý → Mão → Ngọ |
| 4 hoặc 8 | bộ tam hợp | Thân → Tý → Thìn |
| 5 hoặc 7 | nhảy năm, bảy bậc | Tuất → Tỵ → Tý (ví dụ trên) |
| 6 | Phản Ngâm, có phép riêng |
Hệ quả thực tế: khi giờ hỏi cách nguyệt tướng bốn hoặc tám chi, ba truyền gần như luôn kết thành một cục tam hợp (Thuỷ cục, Mộc cục…). Sách Lục Nhâm coi tam truyền thành cục là dấu hiệu việc kết dính, nhiều người cùng một hướng. Biết quy luật này, người lập bàn tay tự kiểm được ngay: ba truyền mà không cách đều nhau theo đúng độ lệch, thì hoặc là phép riêng, hoặc là đã đếm sai.
Sách cổ nói gì
Các sách Lục Nhâm cổ, như Lục Nhâm Đại Toàn, giảng tam truyền theo đại ý: sơ truyền là "phát dụng", chỗ việc bắt đầu động; trung truyền là chỗ việc chuyển; mạt truyền là chỗ việc quy về, kết cục. — Lục Nhâm Đại Toàn, đại ý
Bình: chữ "phát dụng" đáng chú ý. Sơ truyền không chỉ là "đầu", mà là chỗ sinh ra động lực của việc, thường gắn với cái khắc trong bốn khoá, tức chỗ có xung đột. Người xưa cho rằng việc chỉ khởi khi có mâu thuẫn; không khắc thì không động.
Đại Lục Nhâm Tất Pháp Phú, bộ phú tóm các phép đọc, có nhiều câu bàn quan hệ giữa ba truyền với can chi ngày, đại ý: truyền sinh can là có người giúp, truyền khắc can là có sức ép, mạt truyền giải được sơ truyền thì việc trước khó sau dễ. — Đại Lục Nhâm Tất Pháp Phú, đại ý
Bình: chúng tôi chỉ dẫn đại ý vì các câu phú ngắn, dị bản nhiều, và nghĩa phụ thuộc nặng vào lời chú. Điều cần giữ là phương pháp: đọc ba truyền như một mạch, đặt trong quan hệ với can ngày.
Đọc cho đúng mức
- Lấy tam truyền là phần kỹ thuật, tính được, kiểm được. Đọc ý nghĩa là phần diễn giải, mỗi thầy một giọng.
- Cùng một giờ, mọi người cùng một bàn; muốn bàn "của mình", người hỏi phải đặt câu hỏi và chọn loại thần cho đúng việc (xem loại thần trong Lục Nhâm).
- Cách đọc ở ví dụ chỉ là một cách. Có thầy coi trọng thiên tướng hơn lục thân, có thầy đọc theo thần sát; kết luận có thể khác.
- Lục Nhâm không thay được việc tìm hiểu thông tin thật về việc mình đang làm.
Việc nên làm
- Tự lập lại khoá ngày 13/3/2027 giờ Thìn trên giấy, đối chiếu với từng bước trong bài.
- Khi lập bàn tay, dùng bảng "độ lệch thiên bàn" để tự kiểm ba truyền.
- Sau khi quen, xem một khoá được đọc trọn từ đầu đến cuối ở bài ví dụ Đại Lục Nhâm.
Lịch tháng âm dương, can chi, tiết khí, ngày hoàng đạo.Mở
Nguồn tham khảo
- Lục Nhâm Đại Toàn — phép lấy tam truyền, nghĩa sơ trung mạt (đại ý).
- Đại Lục Nhâm Tất Pháp Phú — quan hệ tam truyền với can chi ngày (đại ý).
- Khoá ngày Tân Mão 13/3/2027 giờ Thìn lập bằng chương trình theo các bước trong bài, đếm tay lại; can chi ngày theo bộ máy lịch của aihuyenhoc.com.
Câu hỏi thường gặp
Tam truyền trong Lục Nhâm là gì?
Là ba chi sơ truyền, trung truyền, mạt truyền rút ra từ bốn khoá, đọc như ba chặng khởi, chuyển, kết của việc đang hỏi.
Lấy trung truyền và mạt truyền thế nào?
Với phần lớn các phép: trung truyền là chi thiên bàn nằm trên chỗ của sơ truyền ở địa bàn, mạt truyền là chi thiên bàn nằm trên chỗ của trung truyền.
Trùng Thẩm là gì?
Là dạng khoá có đúng một khoá "dưới khắc trên". Lấy chi trên của khoá ấy làm sơ truyền.
Lục thân trong tam truyền tính thế nào?
So hành của chi với hành của can ngày: sinh can là Phụ mẫu, khắc can là Quan quỷ, can sinh là Tử tôn, can khắc là Thê tài, cùng hành là Huynh đệ.
Vì sao có khoá ba truyền kết thành tam hợp?
Vì ba truyền cách đều nhau đúng bằng độ lệch thiên bàn. Khi giờ hỏi cách nguyệt tướng bốn hoặc tám chi, ba truyền rơi vào một bộ tam hợp như Thân, Tý, Thìn.
Nguồn tham khảo: Lục Nhâm Đại Toàn — phép lấy tam truyền, nghĩa sơ trung mạt · Đại Lục Nhâm Tất Pháp Phú