Lục Hào hỏi công việc: chọn Quan Quỷ hay Phụ Mẫu làm dụng thần, đọc trọn một quẻ gieo thật

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc

Lục Hào hỏi công việc: chọn Quan Quỷ hay Phụ Mẫu làm dụng thần, đọc trọn một quẻ gieo thật

Hỏi công việc bằng Lục Hào, chuyện được tuyển, được thăng, được giữ chức lấy Quan Quỷ làm dụng thần; chuyện hồ sơ, hợp đồng, bằng cấp lấy Phụ Mẫu; chuyện doanh thu, cửa hàng lấy Thê Tài. Chọn đúng dụng thần rồi đọc theo thứ tự: dụng thần vượng hay suy, nguyên thần và kỵ thần, Thế Ứng, hào động, cuối cùng mới tới ứng kỳ.

Bảng dụng thần theo loại việc

Câu hỏi về công việc rất dễ chọn sai dụng thần, vì một việc thường dính tới nhiều thứ cùng lúc. Nguyên tắc: hỏi cái mình thật sự muốn biết, rồi chọn hào đại diện cho đúng cái đó.

Câu hỏiDụng thầnNguyên thầnKỵ thầnGhi chú
Có được nhận vào làm khôngQuan QuỷThê TàiTử TônQuan Quỷ là chức phận, cơ quan
Có được thăng chức, bổ nhiệm khôngQuan QuỷThê TàiTử Tôn
Hồ sơ, giấy tờ có suôn sẻ khôngPhụ MẫuQuan QuỷThê TàiPhụ Mẫu là văn thư, giấy tờ
Hợp đồng có ký được khôngPhụ Mẫu (văn bản) và Thế Ứng (hai bên)Quan QuỷThê Tàiđọc kèm Thế Ứng sinh hợp hay xung khắc
Mở cửa hàng có thuận không, doanh thu ra saoThê TàiTử TônHuynh ĐệTử Tôn là nguồn lợi, khách
Đồng nghiệp, đối thủ cùng ứng tuyểnHuynh ĐệPhụ MẫuQuan Quỷ
Muốn thôi một việc đang làmxem Quan Quỷ như sức ràng buộcQuan suy, gặp xung thì dễ thoát

Hai câu đầu bảng đi thẳng từ Tăng San Bốc Dịch: sách ghi việc hỏi công danh, quan phủ lấy hào Quan Quỷ làm dụng thần; chương tấu, văn thư, khế ước lấy hào Phụ Mẫu. Các dòng còn lại là cách áp nguyên tắc ấy vào việc hôm nay. Ba vai nguyên, kỵ có giải thích riêng ở bài nguyên thần, kỵ thần, cừu thần.

Một lỗi hay gặp: người xin việc ở một cửa hàng lại lấy Thê Tài vì "việc ấy là buôn bán". Không đúng. Người hỏi có được nhận hay không thì vẫn là chuyện chức phận, Quan Quỷ. Chỉ chủ cửa hàng hỏi về doanh thu mới lấy Thê Tài.

Một quẻ gieo thật, đọc từ đầu đến cuối

Ngày 21/10/2026, gieo bằng công cụ gieo quẻ của site cho câu hỏi giả định: "Hồ sơ xin việc tôi vừa nộp ở công ty X có được nhận không?" Kết quả sáu lần gieo (từ dưới lên): 8, 9, 7, 8, 8, 7. Ra quẻ Sơn Phong Cổ, hào 2 động, biến thành Thuần Cấn.

Can chi lấy từ bộ máy lịch của site: tháng Mậu Tuất, ngày Mậu Thìn, tuần không Tuất, Hợi. Quẻ Cổ thuộc cung Tốn (Mộc), là quẻ quy hồn, Thế ở hào 3, Ứng ở hào 6.

HàoCan chiLục thânVượng suy theo tháng TuấtVới ngày ThìnGhi chú
6 (Ứng)Dần MộcHuynh Đệtù
5Tý ThủyPhụ Mẫutửbị khắc
4Tuất ThổThê Tàivượng (trị tháng)bị xungtuần không
3 (Thế)Dậu KimQuan Quỷtướnghợp, sinh
2Hợi ThủyPhụ Mẫutửbị khắctuần không; động, biến Ngọ Hoả (Tử Tôn)
1Sửu ThổThê Tàivượngphù

Bước 1: dụng thần

Quan Quỷ là Dậu Kim ở hào 3, trì Thế. Dụng thần nằm ngay trên hào của chính người hỏi: việc gắn chặt với mình, không phải chuyện xa xôi. Tháng Tuất là Thổ sinh Kim, Dậu ở thế tướng; ngày Thìn vừa sinh Kim, vừa hợp Dậu (Thìn – Dậu lục hợp). Dụng thần có lực rõ.

Bước 2: nguyên thần và kỵ thần

Nguyên thần là Thê Tài (Thổ sinh Kim). Có hai hào Tài: Sửu ở hào 1, vượng; Tuất ở hào 4, trị tháng. Tuất rơi vào tuần không, nhưng sách nói "vượng bất vi không", hào vượng không tính là không. Hơn nữa Tuất đang vượng mà bị ngày Thìn xung, đó là ám động: hào tĩnh mà vẫn ngầm hoạt động, ngầm sinh cho dụng thần (bài ám động, nhật phá).

Kỵ thần là Tử Tôn (Hoả khắc Kim). Trên quẻ chủ không có hào Tử Tôn nào. Nó chỉ xuất hiện ở biến hào Ngọ, do hào 2 hoá ra. Mà biến hào chỉ tác động lên chính hào động sinh ra nó, không khắc được Dậu ở hào 3. Thêm nữa, Ngọ ở tháng Tuất là hưu, và Tuất là mộ của Hoả. Kỵ thần yếu và không chạm được dụng thần.

Bước 3: Thế và Ứng

Thế là mình (Dậu Kim), Ứng là phía bên kia (Dần Mộc, Huynh Đệ). Kim khắc Mộc: Thế khắc Ứng, người hỏi ở thế chủ động hơn. Ứng tù, tĩnh: phía công ty chưa có động tĩnh gì rõ. Ứng mang Huynh Đệ, hào của người ngang vai, nên có thể đọc là có người khác cùng cạnh tranh vị trí này.

Bước 4: hào động

Hào động duy nhất là Hợi Thủy, Phụ Mẫu, chính là hồ sơ, giấy tờ. Hợi ở thế tử trong tháng Tuất, bị ngày Thìn khắc, lại rơi vào tuần không. Sách nói "động bất vi không", nên hồ sơ vẫn đang "chạy", nhưng yếu. Hợi biến ra Ngọ Tử Tôn: giấy tờ chuyển thành việc phát sinh thêm, cần bổ sung.

Đọc gộp: dụng thần mạnh, nguồn nuôi đang ngầm hoạt động, kỵ thần không chạm tới; điểm nghẽn nằm ở hồ sơ. Theo lối đọc Lục Hào, đây là thế việc có khả năng thành, nhưng có thể phải bổ sung giấy tờ trước.

Bước 5: ứng kỳ

Tăng San Bốc Dịch cho các phép chính (bài ứng kỳ):

  • Dụng thần tĩnh thì chờ ngày trị hoặc ngày xung: Dậu tĩnh, nên ngày Dậu hoặc ngày Mão. Theo lịch, gần nhất là thứ Hai 26/10/2026 (Quý Dậu) và Chủ nhật 1/11/2026 (Kỷ Mão).
  • Hào tuần không thì chờ điền thực hoặc xung: hồ sơ Hợi chờ ngày Hợi (28/10/2026, Ất Hợi) hoặc ngày Tỵ (22/10, 3/11).

Có tới bốn, năm ngày ứng viên trong hai tuần. Đây chính là chỗ người đọc dễ tự lừa: ngày nào có tin cũng "khớp". Cách đúng là chọn trước một mốc gắn với dụng thần, ở đây là ngày Dậu hoặc Mão, ghi vào sổ, rồi mới đợi.

Đọc sai thường gặp với quẻ công việc

  • Thấy quẻ không có Quan Quỷ là kết luận "không có việc". Dụng thần không hiện thì phải tìm hào phục (bài tuần không, nguyệt phá, phi phục), chưa được kết luận.
  • Lẫn Quan Quỷ của người hỏi với Quan Quỷ của người khác. Hỏi cho con, cho người thân thì vẫn lấy Quan Quỷ làm dụng thần cho chuyện công danh, nhưng Thế không còn là chủ thể việc.
  • Quên tháng ngày. Cùng quẻ Cổ, gieo vào một ngày Mão giữa mùa xuân thì Dậu bị tháng khắc, ngày xung, kết luận khác hẳn.
  • Đọc lời hào Chu Dịch lẫn vào. Lời hào 2 quẻ Cổ trong Kinh Dịch là chuyện khác; Lục Hào đọc bằng ngũ hành của nạp giáp, không bằng lời kinh (bài mười lỗi người mới học Lục Hào).

Sách cổ nói gì

Chiêm công danh, quan phủ, lôi đình quỷ thần, thê chiêm phu, giai dĩ quan quỷ hào vi dụng thần.

Dịch: Xem công danh, quan phủ, sấm sét quỷ thần, vợ xem chồng, đều lấy hào Quan Quỷ làm dụng thần. — Tăng San Bốc Dịch, Dụng thần chương

Tĩnh hào vượng tướng nhật thần xung chi vi ám động.

Dịch: Hào tĩnh vượng tướng mà bị nhật thần xung là ám động. — Tăng San Bốc Dịch, Ám động chương

Bình: câu thứ nhất cho thấy Quan Quỷ trong sách cổ gom rất nhiều nghĩa khác nhau: công danh, cửa quan, cả thứ "quỷ thần", cả người chồng. Đời nay việc "công danh" phần lớn là việc làm công ăn lương, nên đọc Quan Quỷ là chức phận trong một tổ chức là hợp lẽ. Câu thứ hai giải thích vì sao hào Tài Tuất trong ví dụ, dù tuần không, vẫn được tính là đang làm việc cho dụng thần.

Đọc cho đúng mức

  • Quẻ trong bài là quẻ minh hoạ cho một câu hỏi giả định; không có ai thật nộp hồ sơ ở "công ty X".
  • Một quẻ cho thấy cách sách cân các lực trong một thời điểm; nó không thay việc chuẩn bị hồ sơ, phỏng vấn, và không nên là lý do để bỏ một cơ hội.
  • Các thầy Lục Hào có thể chọn dụng thần khác cho cùng một câu hỏi; ghi rõ lý do chọn là cách tránh tranh cãi vô ích.
  • Lục Hào là phép bói cổ dựa trên giả định thời điểm gieo phản ánh việc hỏi, chưa được kiểm chứng; nên dùng như một cách sắp xếp suy nghĩ.

Việc nên làm

  • Viết câu hỏi thành một câu cụ thể, có chủ thể và việc: "tôi có được công ty X nhận không", không phải "công việc thế nào".
  • Chọn dụng thần theo bảng trên trước khi nhìn quẻ.
  • Đọc theo năm bước: dụng thần, nguyên kỵ, Thế Ứng, hào động, ứng kỳ. Viết ra mỗi bước một câu.
  • Chọn một mốc ứng kỳ duy nhất, ghi vào sổ có ngày, rồi đối chiếu khi có tin.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Tăng San Bốc Dịch — Dã Hạc lão nhân, Lý Văn Huy tăng san: Dụng thần chương, Ám động chương, Tuần không chương, Các môn loại ứng kỳ tổng chú chương (nguyên văn đối chiếu bản số hoá Wikisource tiếng Hán).
  • Vương Hồng Tự — Bốc Phệ Chính Tông (đại ý, so sánh).
  • Quẻ ví dụ: gieo bằng công cụ gieo quẻ của aihuyenhoc.com ngày 21/10/2026; nạp giáp Kinh Phòng; can chi ngày tháng, tuần không và các ngày ứng kỳ tính bằng bộ máy lịch của site.

Câu hỏi thường gặp

Hỏi xin việc nên lấy hào nào làm dụng thần?

Lấy Quan Quỷ, vì Quan Quỷ đại diện chức phận, cơ quan, công danh; nguyên thần là Thê Tài và kỵ thần là Tử Tôn.

Khi nào hỏi công việc lại lấy Phụ Mẫu?

Khi điều muốn biết là hồ sơ, giấy tờ, hợp đồng, bằng cấp; Tăng San Bốc Dịch ghi văn thư, khế ước lấy Phụ Mẫu làm dụng thần.

Quan Quỷ trì Thế có ý nghĩa gì khi hỏi việc làm?

Là dụng thần nằm ngay trên hào của người hỏi, việc gắn chặt với bản thân; nếu Quan Quỷ ấy lại vượng, được ngày tháng sinh hợp, sách coi là thế thuận.

Quẻ không có hào Quan Quỷ thì sao?

Phải tìm Quan Quỷ ở hào phục, lấy từ quẻ thuần của cung, rồi xét phục thần có xuất được không; chưa thể kết luận là không có việc.

Bao giờ biết kết quả xin việc theo quẻ?

Sách cho các phép ứng kỳ như dụng thần tĩnh chờ ngày trị hoặc ngày xung; nên chọn trước một mốc gắn với dụng thần và ghi lại, đừng đợi rồi mới chọn mốc khớp.

Nguồn tham khảo: Tăng San Bốc Dịch — Dã Hạc lão nhân, Lý Văn Huy tăng san — Dụng thần chương; Ám động chương; Tuần không chương; Các môn loại ứng kỳ tổng chú chương · Bốc Phệ Chính Tông — Vương Hồng Tự · Công cụ gieo quẻ của aihuyenhoc.com (gieo máy ngày 21/10/2026); nạp giáp Kinh Phòng; bộ máy can chi của site

Nguyệt kiến, nhật thần trong Lục Hào: vì sao cùng một quẻ, gieo tháng khác ngày khác thì đoán khácNguyệt kiến là chi tháng tiết, nhật thần là chi ngày gieo; hai mốc định vượng suy của hào Lục Hào. Bảng tháng tiết 2027, một quẻ …
Trường sinh, mộ, tuyệt của hào: mười hai giai đoạn trong Lục Hào và chuyện hào nhập mộTrường sinh, mộ, tuyệt trong Lục Hào: bảng 12 giai đoạn năm hành (Thổ theo Thủy), vì sao Tăng San chỉ dùng bốn mốc, nhập mộ ở ngà…
Tuần không, nguyệt phá, hào phục, hào phi trong Lục Hào: bốn khái niệm giải bằng một quẻTuần không, nguyệt phá, hào phục, hào phi trong Lục Hào: tính tuần không theo ngày, nguyệt phá theo tháng tiết, lấy phục thần từ …
Ám động và nhật phá: khi hào tĩnh mà vẫn động, và cùng một quẻ cho hai kết luận ngượcÁm động, nhật phá trong Lục Hào: hào tĩnh vượng bị ngày xung là ám động, hào suy bị xung là nhật phá; cùng một quẻ gieo khác ngày…
Nạp giáp Lục Hào: gắn can chi vào sáu hào, bảng tám quẻ và câu khẩu quyết dễ nhớBảng nạp giáp Lục Hào cho tám quẻ đơn: can chi hào nội, hào ngoại, quy tắc dương thuận âm nghịch, câu khẩu quyết và gốc nạp giáp …
Hào động hoá tiến, hoá thoái, hồi đầu sinh, hồi đầu khắc: đọc chiều đi của một hàoHoá tiến, hoá thoái, hồi đầu sinh, hồi đầu khắc trong Lục Hào: bảng theo Tăng San Bốc Dịch, chỗ máy đếm thấy chỉ bốn cặp thật sự …