Quẻ lục xung và quẻ lục hợp: mười quẻ xung, tám quẻ hợp trong Lục Hào và vì sao nạp giáp sinh ra chúng

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc

Quẻ lục xung và quẻ lục hợp: mười quẻ xung, tám quẻ hợp trong Lục Hào và vì sao nạp giáp sinh ra chúng

Quẻ lục xung là quẻ mà ba cặp hào 1 – 4, 2 – 5, 3 – 6 đều mang hai chi xung nhau; có mười quẻ: tám quẻ thuần cộng Thiên Lôi Vô Vọng và Lôi Thiên Đại Tráng. Quẻ lục hợp là quẻ ba cặp ấy đều hợp nhau; có tám quẻ: Bĩ, Thái, Phục, Dự, Tiết, Khốn, Bí, Lữ. Xung thường đọc là tan, hợp là tụ.

Xung, hợp là chuyện của địa chi

Sáu cặp lục xung là các chi đứng đối diện nhau trên vòng mười hai: Tý – Ngọ, Sửu – Mùi, Dần – Thân, Mão – Dậu, Thìn – Tuất, Tỵ – Hợi. Sáu cặp lục hợp là Tý – Sửu, Dần – Hợi, Mão – Tuất, Thìn – Dậu, Tỵ – Thân, Ngọ – Mùi (bài lục hợp, lục hại, tam hình).

Trong Lục Hào, mỗi hào mang một chi theo nạp giáp. Hào 1 và hào 4, hào 2 và hào 5, hào 3 và hào 6 là ba cặp "đối" giữa quẻ dưới và quẻ trên. Khi cả ba cặp cùng xung, quẻ là lục xung; khi cả ba cặp cùng hợp, quẻ là lục hợp.

Bảng đủ mười quẻ lục xung và tám quẻ lục hợp

Chúng tôi cho máy lọc cả 64 quẻ theo bảng nạp giáp Kinh Phòng; kết quả khớp đúng danh sách sách cổ.

Mười quẻ lục xung

QuẻQuẻ dưới (hào 1, 2, 3)Quẻ trên (hào 4, 5, 6)
Thuần CànTý, Dần, ThìnNgọ, Thân, Tuất
Thuần KhônMùi, Tỵ, MãoSửu, Hợi, Dậu
Thuần ChấnTý, Dần, ThìnNgọ, Thân, Tuất
Thuần TốnSửu, Hợi, DậuMùi, Tỵ, Mão
Thuần KhảmDần, Thìn, NgọThân, Tuất, Tý
Thuần LyMão, Sửu, HợiDậu, Mùi, Tỵ
Thuần CấnThìn, Ngọ, ThânTuất, Tý, Dần
Thuần ĐoàiTỵ, Mão, SửuHợi, Dậu, Mùi
Thiên Lôi Vô VọngChấn: Tý, Dần, ThìnCàn: Ngọ, Thân, Tuất
Lôi Thiên Đại TrángCàn: Tý, Dần, ThìnChấn: Ngọ, Thân, Tuất

Tám quẻ lục hợp

QuẻQuẻ dướiQuẻ trênBa cặp hợp
Thiên Địa BĩKhôn: Mùi, Tỵ, MãoCàn: Ngọ, Thân, TuấtMùi – Ngọ, Tỵ – Thân, Mão – Tuất
Địa Thiên TháiCàn: Tý, Dần, ThìnKhôn: Sửu, Hợi, DậuTý – Sửu, Dần – Hợi, Thìn – Dậu
Địa Lôi PhụcChấn: Tý, Dần, ThìnKhôn: Sửu, Hợi, DậuTý – Sửu, Dần – Hợi, Thìn – Dậu
Lôi Địa DựKhôn: Mùi, Tỵ, MãoChấn: Ngọ, Thân, TuấtMùi – Ngọ, Tỵ – Thân, Mão – Tuất
Thủy Trạch TiếtĐoài: Tỵ, Mão, SửuKhảm: Thân, Tuất, TýTỵ – Thân, Mão – Tuất, Sửu – Tý
Trạch Thủy KhốnKhảm: Dần, Thìn, NgọĐoài: Hợi, Dậu, MùiDần – Hợi, Thìn – Dậu, Ngọ – Mùi
Sơn Hỏa BíLy: Mão, Sửu, HợiCấn: Tuất, Tý, DầnMão – Tuất, Sửu – Tý, Hợi – Dần
Hỏa Sơn LữCấn: Thìn, Ngọ, ThânLy: Dậu, Mùi, TỵThìn – Dậu, Ngọ – Mùi, Thân – Tỵ

Vì sao đúng mười và tám: lời giải nằm ở nạp giáp

Người học thường thuộc lòng hai danh sách mà không biết vì sao. Thật ra chỉ cần nhìn bảng nạp giáp.

Tám quẻ thuần xung vì cách nạp chi. Mỗi quẻ đơn nạp ba chi cho quẻ dưới và ba chi cho quẻ trên, cách nhau đúng nửa vòng: Càn dưới là Tý, Dần, Thìn, Càn trên là Ngọ, Thân, Tuất. Chồng một quẻ đơn lên chính nó, ba cặp đối luôn là ba cặp xung.

Vô Vọng và Đại Tráng là hai quẻ "lai". Càn và Chấn được nạp cùng một dãy chi (Tý, Dần, Thìn ở dưới; Ngọ, Thân, Tuất ở trên), chỉ khác can (Càn nạp Giáp, Nhâm; Chấn nạp Canh). Vì vậy Chấn chồng lên Càn hay Càn chồng lên Chấn thì về mặt chi vẫn giống như quẻ thuần. Không có cặp quẻ đơn nào khác chung dãy chi như vậy, nên chỉ có thêm đúng hai quẻ.

Tám quẻ hợp đi thành bốn cặp quẻ đơn. Khôn hợp với Càn, và vì Chấn chung chi với Càn nên Khôn cũng hợp với Chấn: được Bĩ, Thái, Dự, Phục. Khảm hợp với Đoài: Tiết, Khốn. Cấn hợp với Ly: Bí, Lữ. Mỗi cặp đảo trên dưới cho hai quẻ, tổng là tám. Tốn không hợp với quẻ đơn nào, vì dãy chi của nó (Sửu, Hợi, Dậu / Mùi, Tỵ, Mão) không có dãy đối ứng ở vị trí cần thiết.

Hiểu được chỗ này, bạn không cần học thuộc: nhìn hai quẻ đơn là biết quẻ kép có xung, có hợp hay không.

Sách đọc xung, hợp thế nào

Tăng San Bốc Dịch có hai chương riêng. Đại ý:

  • Xung chủ tán. Xung có thể đến từ ngày, tháng, từ quẻ lục xung, từ hào động, hoặc hai hào xung nhau. Nói chung, xung lợi cho việc muốn dứt (bỏ một việc xấu, thoát một rắc rối), bất lợi cho việc muốn thành (cầu một việc tốt đang theo đuổi).
  • Hợp chủ tụ. Hợp lợi cho việc cần bền, cần hoà. Nhưng hợp cũng có thể trói một hào: hào bị hợp có khi không làm gì được cho tới khi gặp xung mở ra.

Hai câu ấy chỉ là hướng chung. Sách luôn đặt nó dưới dụng thần: một quẻ lục xung mà dụng thần vượng, được ngày tháng giúp, vẫn có thể đọc là việc thành, chỉ là thành theo kiểu nhanh, gọn, không kéo dài.

Quẻ xung biến hợp, quẻ hợp biến xung

Khi quẻ chủ là lục xung mà quẻ biến là lục hợp, hay ngược lại, người đọc có thêm một lớp nghĩa về chiều đi của việc.

  • Lục hợp biến lục xung: sách nói rõ, dụng thần vượng thì đầu tốt cuối xấu, mưu việc khó thành, có đầu không đuôi.
  • Lục xung biến lục hợp: thường được đọc ngược lại: lúc đầu rời rạc, trắc trở, về sau tụ lại.

Máy đếm cho thấy những cặp biến chỉ cần một hào động khá ít, và đều nằm ở hào 1 hoặc hào 4:

Quẻ chủHào độngQuẻ biếnChiều
Thuần Khôn1Địa Lôi Phụcxung → hợp
Thuần Khôn4Lôi Địa Dựxung → hợp
Thuần Chấn1Lôi Địa Dựxung → hợp
Lôi Thiên Đại Tráng4Địa Thiên Tháixung → hợp
Thiên Lôi Vô Vọng1Thiên Địa Bĩxung → hợp
Thuần Khảm1 hoặc 4Tiết, Khốnxung → hợp
Thuần Cấn1 hoặc 4Bí, Lữxung → hợp
Thuần Ly, Thuần Đoài1 hoặc 4Lữ, Bí; Khốn, Tiếtxung → hợp
Thiên Địa Bĩ1Thiên Lôi Vô Vọnghợp → xung
Địa Thiên Thái4Lôi Thiên Đại Tránghợp → xung

(Mỗi cặp xung → hợp đều có cặp hợp → xung ngược lại khi đổi chiều hào ấy.)

Một ví dụ

Gieo ngày 21/10/2026 (tháng Mậu Tuất, ngày Mậu Thìn, tuần không Tuất Hợi), được Thuần Khôn, hào 1 động, biến thành Địa Lôi Phục. Quẻ chủ lục xung, quẻ biến lục hợp.

Hào 1 là Mùi Thổ (Huynh Đệ), vượng ở tháng Tuất, biến ra Tý Thủy (Thê Tài). Nếu người hỏi về một khoản tiền cần thu về (Thê Tài làm dụng thần), thì Thê Tài trên quẻ chủ là Hợi ở hào 5: tuần không, lại ở thế tử trong tháng Tuất. Quẻ chủ nói việc đang tan, chưa có gì nắm được; biến hào là Tài Tý mới xuất hiện, quẻ biến chuyển sang hợp. Theo lối đọc của sách, đây là thế ban đầu rời rạc, về sau có chiều tụ lại, và thời điểm đáng chờ là khi Hợi ra khỏi tuần không. Bài ứng kỳ nói cách tính thời điểm ấy.

Sách cổ nói gì

Lục hợp quái biến lục xung quái giả, dụng thần vượng giả thuỷ cát chung hung, đồ sự nan thành, hữu thuỷ vô chung dã.

Dịch: Quẻ lục hợp biến thành quẻ lục xung, dụng thần vượng thì đầu tốt cuối xấu, mưu việc khó thành, có đầu không có cuối. — Tăng San Bốc Dịch, Lục xung chương

Bình: chú ý điều kiện "dụng thần vượng". Ngay cả khi dụng thần có lực, chiều hợp biến xung vẫn kéo việc về phía rã. Câu này không nói gì về dụng thần suy; người đọc không nên tự suy rộng thành "hợp biến xung là luôn hỏng". Sách cổ hay viết câu có điều kiện kiểu này, và lỗi thường gặp nhất là bỏ điều kiện đi khi dẫn.

Đọc cho đúng mức

  • Xung, hợp của cả quẻ chỉ là lớp ngoài; dụng thần vượng suy và các hào động vẫn là chính.
  • Danh sách mười quẻ xung, tám quẻ hợp đúng với nạp giáp Kinh Phòng chuẩn; sách hay phần mềm dùng nạp giáp khác sẽ cho danh sách khác.
  • "Tán" không có nghĩa là xấu, "tụ" không có nghĩa là tốt: hỏi chuyện muốn thoát ra thì xung là thuận.
  • Lục Hào là phép bói cổ; xung hợp là ngôn ngữ của sách để mô tả xu hướng, không phải lời tiên đoán chắc.

Việc nên làm

  • Thuộc hai điều thay vì học thuộc mười tám quẻ: tám quẻ thuần và hai quẻ lai Càn – Chấn là xung; bốn cặp Khôn – Càn, Khôn – Chấn, Khảm – Đoài, Cấn – Ly là hợp.
  • Khi gieo ra quẻ xung hay hợp, ghi luôn vào sổ, rồi vẫn đọc dụng thần như thường.
  • Nếu quẻ chủ và quẻ biến khác loại (xung sang hợp, hợp sang xung), viết một câu về chiều đi của việc trước khi đọc chi tiết.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Tăng San Bốc Dịch — Dã Hạc lão nhân, Lý Văn Huy tăng san: Lục hợp chương, Lục xung chương (câu hợp biến xung nguyên văn, phần còn lại đại ý); đối chiếu bản số hoá Wikisource tiếng Hán.
  • Kinh Phòng — hệ nạp giáp và bát cung (đại ý).
  • Danh sách 10 quẻ xung, 8 quẻ hợp và bảng biến một hào: lọc bằng máy trên bảng nạp giáp Kinh Phòng; quẻ ví dụ tính can chi bằng bộ máy lịch của aihuyenhoc.com.

Câu hỏi thường gặp

Có bao nhiêu quẻ lục xung?

Mười quẻ: tám quẻ thuần (Càn, Khôn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài) cùng Thiên Lôi Vô Vọng và Lôi Thiên Đại Tráng.

Có bao nhiêu quẻ lục hợp?

Tám quẻ: Thiên Địa Bĩ, Địa Thiên Thái, Địa Lôi Phục, Lôi Địa Dự, Thủy Trạch Tiết, Trạch Thủy Khốn, Sơn Hỏa Bí và Hỏa Sơn Lữ.

Vì sao Vô Vọng và Đại Tráng cũng là lục xung?

Vì Càn và Chấn được nạp cùng một dãy chi (Tý, Dần, Thìn ở dưới; Ngọ, Thân, Tuất ở trên), nên ghép hai quẻ này với nhau cho ra ba cặp xung như quẻ thuần.

Quẻ lục xung có phải là quẻ xấu?

Không hẳn. Xung chủ tán, lợi cho việc muốn dứt, bất lợi cho việc muốn thành; còn tốt xấu cụ thể vẫn tuỳ dụng thần vượng hay suy.

Lục hợp biến lục xung nghĩa là gì?

Theo Tăng San Bốc Dịch, dụng thần vượng mà gặp quẻ hợp biến xung thì đầu tốt cuối xấu, việc có đầu không có đuôi.

Nguồn tham khảo: Tăng San Bốc Dịch — Dã Hạc lão nhân, Lý Văn Huy tăng san — Lục hợp chương; Lục xung chương · Kinh Thị Dịch Truyện — Kinh Phòng (hệ nạp giáp, bát cung) · Bản số hoá Tăng San Bốc Dịch trên Wikisource tiếng Hán — đối chiếu câu chữ · Bảng nạp giáp Kinh Phòng và bộ máy can chi của aihuyenhoc.com — lọc 64 quẻ, lập quẻ ví dụ

Nguyên thần, Kỵ thần, Cừu thần: ba vai quanh dụng thần trong Lục Hào, đọc qua một quẻ hỏi thiNguyên thần, kỵ thần, cừu thần trong Lục Hào: cách xác định từ dụng thần, quẻ hỏi thi đọc ở ba ngày gieo, sáu cách nguyên thần vô…
Tuần không, nguyệt phá, hào phục, hào phi trong Lục Hào: bốn khái niệm giải bằng một quẻTuần không, nguyệt phá, hào phục, hào phi trong Lục Hào: tính tuần không theo ngày, nguyệt phá theo tháng tiết, lấy phục thần từ …
Lục Hào hỏi công việc: chọn Quan Quỷ hay Phụ Mẫu làm dụng thần, đọc trọn một quẻ gieo thậtLục Hào hỏi công việc: bảng dụng thần theo việc xin việc, thăng chức, hợp đồng, mở cửa hàng; đọc trọn một quẻ gieo bằng công cụ c…
Lục Hào là gì: phép bói Văn Vương quái, Hỏa Châu Lâm với nạp giáp, thế ứng, lục thânLục Hào là phép bói gieo ba đồng xu sáu lần, gắn can chi vào từng hào rồi đọc sinh khắc theo ngày tháng gieo. Lịch sử từ Kinh Phò…
Hào Thế, hào Ứng: "ta" và "người" trong quẻ Lục Hào, cách an và cách đọcHào Thế là người hỏi, hào Ứng là đối phương hay việc bên ngoài. Cách an Thế theo bát cung, khẩu quyết tìm Thế không cần bảng, và …
Lục thú trong Lục Hào: Thanh Long, Chu Tước, Câu Trần, Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ an theo can ngàyLục thú (lục thần) Lục Hào an theo can ngày gieo, từ hào 1 lên: bảng an đủ mười can, nghĩa từng thú, và vì sao lục thú chỉ tô màu…