Vòng Bác Sĩ theo Lộc Tồn: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long… và nên dùng tới đâu

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 11 phút đọc

Vòng Bác Sĩ theo Lộc Tồn: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long… và nên dùng tới đâu

Vòng Bác Sĩ là mười hai sao khởi từ chính cung Lộc Tồn: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Đây là sao tầng thấp, tả những việc thường ngày xoay quanh lộc. Phái Đài Loan dùng rất ít; đáng giữ lại nhất là Thanh Long, Hỷ Thần và Bệnh Phù.

Mười hai sao và cách an

Bác Sĩ luôn ngồi cùng Lộc Tồn. Từ đó, Dương Nam, Âm Nữ đếm thuận, Âm Nam, Dương Nữ đếm nghịch, mỗi cung một sao. Chiều đi giống vòng Tràng Sinh và đại vận; khác vòng Thái Tuế vốn luôn đi thuận.

BướcSaoBộ máy xếpNghĩa thường gặp
0Bác Sĩcáthọc hỏi, hiểu biết, tư cách đứng đắn
1Lực Sĩtrungsức lực, quyền thế, sự gắng sức
2Thanh Longcátviệc vui, cơ hội, sự thông suốt
3Tiểu Haosáthao nhỏ, tiêu vặt
4Tướng Quâncátuy, dám đứng mũi chịu sào
5Tấu Thưcátvăn thư, lời nói khéo, giấy tờ trình lên
6Phi Liêmsátnhanh, tin bay, việc đến bất ngờ
7Hỷ Thầncáttin mừng, cỗ bàn, cưới hỏi
8Bệnh Phùsátmệt mỏi, sức khoẻ cần giữ
9Đại Haosáthao lớn, tiêu nhiều
10Phục Binhsátđiều khuất, người giấu ý
11Quan Phủsátgiấy tờ, thủ tục, chuyện phải phân xử

Vì Lộc Tồn an theo can năm, mọi người cùng can năm và cùng chiều đi có cùng một vòng Bác Sĩ. Cái riêng là các ô ấy mang tên cung gì.

Ba quy luật cố định mà bảng an không nói

Cho bộ máy lập 20.000 lá số và đếm, có mấy điều đúng trên mọi lá số, không ngoại lệ.

Một: Lực Sĩ luôn ngồi với Kình Dương hoặc Đà La, Quan Phủ ngồi với sao còn lại. Kình Dương đứng ngay trước Lộc Tồn, Đà La ngay sau (xem Kình Dương, Đà La). Người đi thuận thì Lực Sĩ trùng Kình, Quan Phủ trùng Đà; người đi nghịch thì ngược lại. Hệ quả: sách gọi Lực Sĩ là sao quyền thế, nhưng quyền ấy luôn đi kèm một sát tinh — với nửa số người là cái va chạm của Kình, với nửa kia là cái dây dưa của Đà. Và Quan Phủ — sao của thủ tục, phân xử — cũng luôn có một sát tinh ngồi cùng. Đọc riêng Lực Sĩ hay Quan Phủ mà quên ô ấy có Kình Đà là đọc thiếu.

Hai: các cặp đối nhau là cố định. Bác Sĩ đối Phi Liêm, Lực Sĩ đối Hỷ Thần, Thanh Long đối Bệnh Phù, Tiểu Hao đối Đại Hao, Tướng Quân đối Phục Binh, Tấu Thư đối Quan Phủ. Cặp Tiểu Hao – Đại Hao vì thế luôn xung chiếu nhau (bài Đại Hao, Tiểu Hao bàn riêng), và khoảng một nửa số lá số có một trong hai sao Hao ở tam phương tứ chính của Mệnh — phổ biến tới mức không thể đọc thành dấu hiệu riêng của ai.

Ba: Quốc Ấn và Đường Phù đổi bạn theo chiều đi. Hai sao quan tước này cũng an từ Lộc Tồn: Quốc Ấn cách Lộc Tồn tám cung đếm thuận, Đường Phù cách bảy cung đếm nghịch, không phân nam nữ. Người đi thuận có Quốc Ấn ngồi với Bệnh Phù, Đường Phù ngồi với Tấu Thư. Người đi nghịch có Quốc Ấn ngồi với Tướng Quân, Đường Phù ngồi với Hỷ Thần. Thế "Tướng Quân gặp Quốc Ấn" mà sách Việt hay nhắc như tướng cầm ấn, có chức có quyền, vì vậy chỉ có ở Âm Nam và Dương Nữ — và có ở mọi người trong nhóm ấy, nên chỉ đáng đọc khi ô ấy rơi vào Mệnh, Quan Lộc.

Thêm một điều: người tuổi Bính và tuổi Quý luôn có Lộc Tồn bị Triệt, nên Bác Sĩ của họ cũng luôn bị Triệt (máy đếm 20% lá số). Đây là đặc điểm của cả một can năm, không phải chuyện riêng.

Vì sao phái Đài Loan dùng ít

Toàn Thư có ghi mười hai thần Bác Sĩ và nghĩa từng sao, nhưng ghi gọn trong vài dòng. Các thầy Đài Loan hiện đại phần lớn xếp vòng này vào hạng sao rất nhẹ: không dùng để luận tính cách, chỉ liếc qua khi xem việc cụ thể của một năm. Phái Phi Tinh gần như bỏ hẳn.

Lý do không khó thấy khi nhìn ba quy luật trên. Vòng Bác Sĩ gắn chặt vào Lộc Tồn và Kình Đà: phần lớn những gì nó nói đã được Lộc Tồn, Kình, Đà nói rồi, và nói mạnh hơn. Lực Sĩ thêm vào Kình Dương rất ít điều Kình chưa nói. Lại thêm sáu trong mười hai sao mang tên xấu (Hao, Bệnh, Phục Binh, Quan Phủ, Phi Liêm), nên người mới học dễ đọc vòng này thành một danh sách điềm, trong khi mỗi lá số đều có đủ cả mười hai.

Tử vi Việt dùng vòng này nhiều hơn, theo hai cách: đọc vài sao có sắc riêng trên lá số gốc, và đọc khi xem việc theo năm. Bài này đề nghị một mức ở giữa: giữ ba sao, đọc nhẹ chín sao.

Thanh Long: rồng gặp mây

Thanh Long là sao của sự thông suốt, việc vui, cơ hội mở. Một mình nó nhẹ; nó đáng đọc nhất khi gặp Hoá Kỵ. Nhiều thầy Việt có câu đại ý: Kỵ gặp Thanh Long như rồng gặp mây — chỗ vướng của Hoá Kỵ có đường thoát, có khi thành chỗ để vẫy vùng. Có người đòi thêm điều kiện ô ấy phải ở Thìn hoặc Tuất mới đủ cách.

Máy đếm: Thanh Long ngồi cùng Hoá Kỵ gốc ở khoảng 8,6% lá số; ngay ở Mệnh khoảng 0,7%; ở Thìn, Tuất khoảng 2,3%. Thanh Long ngồi với Hoá Lộc khoảng 7%.

Đọc tỉnh: Hoá Kỵ là chỗ người ta bám, lo, vướng. Thanh Long ngồi đó không xoá cái vướng; nó gợi rằng cái vướng ấy có lúc được gỡ, và người ấy thường tìm ra cách gỡ nhờ một cơ hội đến đúng lúc. Vì vậy cung có Kỵ gặp Thanh Long nên đọc là "việc khó mà có cửa", không phải "việc khó tự hết".

Hỷ Thần: tin mừng

Hỷ Thần là sao của tin vui: cỗ bàn, cưới hỏi, thêm người, việc thành. Sao rõ nghĩa nhất khi ngồi cùng Hồng Loan hoặc Thiên Hỷ — máy đếm khoảng 13% lá số có Hỷ Thần cùng một trong hai sao ấy (không bao giờ cả hai, vì Hồng Loan và Thiên Hỷ luôn đối nhau; xem Đào Hoa, Hồng Loan). Ô ấy là Phu Thê, Tử Tức, Điền Trạch thì sách đọc là lĩnh vực ấy hay có chuyện vui.

Hỷ Thần cũng là lý do người ta muốn lưu vòng Bác Sĩ theo năm: lưu Lộc Tồn năm nào ở đâu thì lưu Bác Sĩ ở đó, rồi đếm đến Hỷ Thần để xem tin vui năm ấy rơi vào lĩnh vực nào. Năm 2027 Đinh Mùi, lưu Lộc Tồn ở Ngọ (xem các sao lưu theo năm). Nhưng chiều đếm lưu vòng Bác Sĩ — theo người xem hay theo năm — các thầy không thống nhất, nên bộ máy của site chỉ an lưu Lộc Tồn, Kình, Đà, chưa an lưu cả vòng.

Bệnh Phù: lời nhắc giữ sức

Bệnh Phù luôn đối diện Thanh Long và đứng ngay sau Hỷ Thần. Sao nhắc tới mệt mỏi, sức khoẻ cần giữ. Ở cung Tật Ách (khoảng 8,4% lá số) hoặc khi lưu niên chạm vào, sách đọc là năm hay thấy mệt, dễ ốm vặt.

Đọc cho đúng mức: Bệnh Phù không báo bệnh, càng không cho biết bệnh gì. Nó là lời nhắc ngủ đủ, khám định kỳ, đừng gồng. Khi có triệu chứng thật, thứ cần tin là bác sĩ chứ không phải lá số. Bài cung Tật Ách nói kỹ giới hạn này.

Ba sao Thanh Long, Hỷ Thần, Bệnh Phù đứng ở hai phía đối nhau của vòng, nên máy đếm được khoảng 84% lá số có ít nhất một trong ba sao ở tam phương tứ chính của Mệnh. Đó là lý do chúng hữu dụng: gần ai cũng có, và mỗi sao gợi một câu hỏi cụ thể — cửa mở ở đâu, tin vui ở đâu, sức khoẻ cần giữ ở đâu.

Chín sao còn lại: đọc nhẹ

  • Bác Sĩ: chỉ là dấu của Lộc Tồn; đọc Lộc Tồn là đủ, Bác Sĩ thêm chút nghĩa người có học, đứng đắn.
  • Lực Sĩ, Quan Phủ: đọc cùng Kình hoặc Đà đang ngồi chung, như quy luật một.
  • Tướng Quân: đáng đọc khi gặp Quốc Ấn ở Mệnh, Quan Lộc (chỉ người đi nghịch).
  • Tấu Thư: hợp nghề giấy tờ, lời nói; gặp Văn Xương, Văn Khúc thì rõ hơn.
  • Tiểu Hao, Đại Hao: thói quen tiêu tiền, không phải mất của.
  • Phi Liêm, Phục Binh: việc đến nhanh, điều chưa nói ra; nhắc kiểm tra thông tin, không phải nghi người.

Một ví dụ về sức nặng: Quan Phủ của vòng này ngồi trùng Quan Phù của vòng Thái Tuế ở khoảng 11% lá số. Hai sao "quan" chồng nhau nghe có vẻ nặng, nhưng cả hai đều là sao tầng thấp; chỉ đáng để ý khi ô ấy còn có Hoá Kỵ, Thiên Hình hãm, và đúng là việc giấy tờ đang dở.

Một lá số lập bằng máy

Nữ, sinh 21 giờ ngày 17/3/1988 (30 tháng Giêng năm Mậu Thìn), Dương Nữ, nên vòng Bác Sĩ đi nghịch. Bộ máy cho:

  • Phúc Đức ở Tỵ: Lộc Tồn, Bác Sĩ; Thiên Lương hãm.
  • Phụ Mẫu ở Thìn: Tử Vi, Thiên Tướng vượng, Lực Sĩ cùng Đà La. Điền Trạch ở Ngọ: Thất Sát miếu, Quan Phủ cùng Kình Dương — đúng quy luật một.
  • Mệnh ở Mão: Thiên Cơ miếu hoá Kỵ, Cự Môn miếu, Văn Khúc, Hoả Tinh, cùng Thanh Long.
  • Phu Thê ở Sửu (Thân cư): Thái Dương, Thái Âm hoá Quyền, Tướng Quân cùng Quốc Ấn, bị Triệt.
  • Thiên Di ở Dậu: vô chính diệu, Bệnh Phù. Tật Ách ở Tuất: Phá Quân, Hỷ Thần cùng Đường Phù.

Đọc theo thứ tự tầng: Cự Môn và Thiên Cơ miếu ở Mão là người nhanh trí, giỏi phân tích, lời nói có sức; Thiên Cơ hoá Kỵ làm đầu óc ấy hay nghĩ nhiều, lo xa. Chỉ sau đó mới thêm Thanh Long: cái lo của Cơ Kỵ có cửa, nghĩ nhiều nhưng thường nghĩ ra lối. Năm 2027 Mệnh còn nhận thêm lưu Hoá Kỵ ở Cự Môn và lưu Hoá Khoa ở Thiên Cơ — năm hay phải nói, phải giải thích; Thanh Long nhắc rằng nói rõ thì việc thông. Tướng Quân với Quốc Ấn rơi vào Phu Thê bị Triệt: người phối ngẫu có uy, có chỗ đứng; Triệt thường được đọc là những điều ấy hiện rõ muộn, sau những năm đầu chung sống. Bệnh Phù ở Thiên Di: những đợt đi xa, làm việc bên ngoài là lúc nên giữ sức.

Sách cổ nói gì

Toàn Thư trong phần an sao ghi mười hai thần Bác Sĩ khởi từ Lộc Tồn, thuận nghịch theo âm dương nam nữ, và tóm nghĩa từng sao trong mấy chữ. Đại ý: Bác Sĩ chủ thông minh, Lực Sĩ chủ quyền thế, Thanh Long chủ việc vui, Tiểu Hao và Đại Hao chủ hao tài, Tướng Quân chủ uy mãnh, Tấu Thư chủ phúc lộc, Phi Liêm chủ cô khắc, Hỷ Thần chủ cát khánh, Bệnh Phù chủ tật bệnh, Phục Binh và Quan Phủ chủ chuyện thị phi, giấy tờ.

Sách Việt của Thái Thứ Lang ghi đủ mười hai sao và đọc từng sao ở các cung, đặc biệt Thanh Long, Tướng Quân, Bệnh Phù.

Bình: chỗ Toàn Thư dành cho vòng này chỉ vài dòng, so với nhiều trang cho chính tinh và Tứ Hoá — tỷ lệ ấy tự nó đã là lời dặn về sức nặng. Người đọc hôm nay mà luận cả đời một người dựa trên "Mệnh có Phục Binh" là làm ngược ý người soạn sách.

Đọc cho đúng mức

Vòng Bác Sĩ là sao tầng 3 (xem phụ tinh): đọc sau chính tinh, Tứ Hoá, Lục Cát Lục Sát. Không sao nào trong vòng đổi được nghĩa của chính tinh.

Cả lứa tuổi có chung một vòng. Mọi người cùng can năm và cùng chiều đi có vòng Bác Sĩ ở đúng những chi như nhau.

Phái khác nhau về sức nặng. Phái Đài Loan dùng rất ít, phái Phi Tinh bỏ, tử vi Việt dùng nhiều nhất. Cách lưu vòng theo năm chưa thống nhất.

Tên sao không phải nghĩa đen. Bệnh Phù không phải bệnh, Phục Binh không phải kẻ thù, Đại Hao không phải mất của.

Việc nên làm

  • Đọc lá số theo tầng; chỉ tìm vòng Bác Sĩ khi đã đọc xong chính tinh và Tứ Hoá của cung.
  • Thấy Lực Sĩ hay Quan Phủ thì nhìn ngay Kình hoặc Đà ngồi cùng; đọc cặp, đừng đọc lẻ.
  • Cung có Hoá Kỵ gặp Thanh Long: kiên nhẫn với việc khó ở lĩnh vực ấy, để mắt tới cơ hội gỡ.
  • Bệnh Phù ở Tật Ách hay Thiên Di: giữ lịch khám định kỳ và nhịp nghỉ, nhất là những năm bận đi lại.

Xem lá số tử vi của chính bạn

Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.

Lập lá số miễn phí

Nguồn tham khảo

  • Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — phần an sao, đoạn bàn mười hai thần Bác Sĩ (trích đại ý)
  • Vân Đằng Thái Thứ Lang — Tử Vi Đẩu Số Tân Biên (mười hai sao vòng Bác Sĩ ở các cung; đại ý)
  • Bộ máy lá số aihuyenhoc.com — quan hệ vòng Bác Sĩ với Kình Đà, Quốc Ấn, Đường Phù; tần suất trên 20.000 lá số và lá số ví dụ, lập ngày 21/10/2026

Câu hỏi thường gặp

Vòng Bác Sĩ gồm những sao nào?

Mười hai sao: Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phủ. Bác Sĩ đặt ở cung Lộc Tồn, Dương Nam và Âm Nữ đếm thuận, Âm Nam và Dương Nữ đếm nghịch.

Vì sao Lực Sĩ luôn đi cùng Kình Dương hoặc Đà La?

Vì Kình Dương luôn ở cung ngay trước Lộc Tồn, Đà La ngay sau, còn Lực Sĩ là sao thứ hai của vòng. Đi thuận thì Lực Sĩ trùng Kình, đi nghịch thì trùng Đà; Quan Phủ, sao cuối vòng, ngồi với sát tinh còn lại.

Phái Đài Loan có dùng vòng Bác Sĩ không?

Có ghi nhưng dùng rất ít, chủ yếu khi xem việc cụ thể theo năm, không dùng để luận tính cách. Phái Phi Tinh gần như bỏ hẳn. Tử vi Việt dùng vòng này nhiều nhất trong các phái.

Sao Thanh Long gặp Hoá Kỵ có ý nghĩa gì?

Nhiều thầy Việt đọc là rồng gặp mây: chỗ vướng của Hoá Kỵ có đường gỡ, có khi thành cơ hội. Máy đếm khoảng 8,6% lá số có Thanh Long cùng Hoá Kỵ gốc. Sao không xoá cái khó, chỉ gợi rằng việc khó ấy có cửa.

Sao Bệnh Phù ở Tật Ách có phải sắp ốm?

Không. Bệnh Phù là sao tầng thấp, chỉ nhắc giữ sức, ngủ đủ, khám định kỳ. Nó không cho biết bệnh gì hay lúc nào. Khi có triệu chứng thật, việc cần làm là đi khám, không phải xem lá số.

Nguồn tham khảo: Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — phần an sao; đoạn bàn mười hai thần Bác Sĩ · Tử Vi Đẩu Số Tân Biên — Vân Đằng Thái Thứ Lang

Sao Thiên Mã: đi xa, đổi chỗ và các thế "Mã gặp Lộc", "Mã gặp Tuần Triệt"Sao Thiên Mã trong tử vi: chỉ đóng ở Dần Thân Tỵ Hợi, các thế Mã gặp Lộc, gặp Đà La, gặp Tuần Triệt, và cách đọc cho người đi làm…
Sao Thiên Diêu (Thiên Riêu): sắc dục hay óc thẩm mỹSao Thiên Diêu (Thiên Riêu): an theo tháng, luôn đi cùng Thiên Y, tam hợp Thiên Hình; đắc là óc thẩm mỹ, hãm là đam mê quá đà; th…
Ân Quang, Thiên Quý: được nhờ và biết ơn, và chỗ tử vi Việt an khác sách Trung HoaSao Ân Quang, Thiên Quý: an theo ngày sinh từ Văn Xương, Văn Khúc; phái Việt đếm Thiên Quý nghịch nên khác sách Trung Hoa. Nghĩa:…
Thiên La, Địa Võng: hai cung Thìn Tuất và những sao "bị lưới", đọc lại bằng sáu thế chính tinhThiên La, Địa Võng là vị trí cố định ở Thìn và Tuất. Sáu thế chính tinh trên trục Thìn Tuất, vì sao Tử Vi ở đây luôn gặp Phá Quân…
Giải Thần, Thiên Giải, Địa Giải: ba sao 'gỡ' và chỗ không nên kỳ vọng vào chúngSao Giải Thần, Thiên Giải, Địa Giải trong tử vi: bảng an theo năm, tháng; đo trên hai lá số có Kình Dương xem sao giải gỡ được đế…
Lưu Hà, Kiếp Sát, Thiên Không: nhóm sát tinh nhỏ và vì sao không nên đọc thành chuyện tai nạnSao Lưu Hà, Kiếp Sát, Thiên Không trong tử vi: bảng an theo can, chi năm; so sức nặng với lục sát tinh bằng máy, và vì sao không …