Cân xương đoán số của Viên Thiên Cương: tính "mấy lượng mấy chỉ" và vì sao không nên tin con số

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc

Cân xương đoán số của Viên Thiên Cương: tính "mấy lượng mấy chỉ" và vì sao không nên tin con số

Cân xương là phép cộng bốn con số tra theo năm can chi, tháng âm, ngày âm và giờ sinh, ra tổng "mấy lượng mấy chỉ", rồi đọc một trong 52 bài thơ từ 2,1 tới 7,2 lượng. Phép này được gán cho Viên Thiên Cương đời Đường, nhưng là phép bình dân, khác hẳn Bát Tự Tử Bình. Đếm đủ mọi tổ hợp sẽ thấy con số ấy không đáng để tin.

Cách tính: bốn bảng và một phép cộng

Mỗi phần của giờ sinh âm lịch có một "trọng lượng" tính bằng lượng và chỉ (một lượng bằng mười chỉ). Bảng dưới viết dạng số thập phân: 1,2 nghĩa là 1 lượng 2 chỉ.

Bảng năm (theo can chi năm âm lịch):

Tuần
Giáp TýGiáp Tý 1,2Ất Sửu 0,9Bính Dần 0,6Đinh Mão 0,7Mậu Thìn 1,2Kỷ Tỵ 0,5Canh Ngọ 0,9Tân Mùi 0,8Nhâm Thân 0,7Quý Dậu 0,8
Giáp TuấtGiáp Tuất 1,5Ất Hợi 0,9Bính Tý 1,6Đinh Sửu 0,8Mậu Dần 0,8Kỷ Mão 1,9Canh Thìn 1,2Tân Tỵ 0,6Nhâm Ngọ 0,8Quý Mùi 0,7
Giáp ThânGiáp Thân 0,5Ất Dậu 1,5Bính Tuất 0,6Đinh Hợi 1,6Mậu Tý 1,5Kỷ Sửu 0,7Canh Dần 0,9Tân Mão 1,2Nhâm Thìn 1,0Quý Tỵ 0,7
Giáp NgọGiáp Ngọ 1,5Ất Mùi 0,6Bính Thân 0,5Đinh Dậu 1,4Mậu Tuất 1,4Kỷ Hợi 0,9Canh Tý 0,7Tân Sửu 0,7Nhâm Dần 0,9Quý Mão 1,2
Giáp ThìnGiáp Thìn 0,8Ất Tỵ 0,7Bính Ngọ 1,3Đinh Mùi 0,5Mậu Thân 1,4Kỷ Dậu 0,5Canh Tuất 0,9Tân Hợi 1,7Nhâm Tý 0,5Quý Sửu 0,7
Giáp DầnGiáp Dần 1,2Ất Mão 0,8Bính Thìn 0,8Đinh Tỵ 0,6Mậu Ngọ 1,9Kỷ Mùi 0,6Canh Thân 0,8Tân Dậu 1,6Nhâm Tuất 1,0Quý Hợi 0,6

Bảng tháng âm: Giêng 0,6 · Hai 0,7 · Ba 1,8 · Tư 0,9 · Năm 0,5 · Sáu 1,6 · Bảy 0,9 · Tám 1,5 · Chín 1,8 · Mười 0,8 · Một 0,9 · Chạp 0,5.

Bảng ngày âm:

Ngày12345678910
Mùng0,51,00,81,51,61,50,81,60,81,6
Mười0,91,70,81,71,00,80,91,80,51,5
Hai mươi1,00,90,80,91,51,80,70,81,60,6

(Hàng "Mười" là ngày 11 tới 20, hàng "Hai mươi" là ngày 21 tới 30.)

Bảng giờ: Tý 1,6 · Sửu 0,6 · Dần 0,7 · Mão 1,0 · Thìn 0,9 · Tỵ 1,6 · Ngọ 1,0 · Mùi 0,8 · Thân 0,8 · Dậu 0,9 · Tuất 0,6 · Hợi 0,6.

Bốn bảng này là bản phổ biến nhất trong sách lịch và các trang tra cứu; chúng tôi đối chiếu hai nguồn độc lập và thấy trùng từng số. Vẫn có những bản chép lệch vài ô.

Ví dụ tính tay

Người sinh 8 giờ sáng 2/9/1985. Đổi bằng bộ máy âm lịch của site: ngày 18 tháng Bảy năm Ất Sửu, giờ Thìn.

PhầnTraTrọng lượng
Năm Ất Sửubảng năm0,9
Tháng Bảybảng tháng0,9
Ngày 18bảng ngày1,8
Giờ Thìnbảng giờ0,9
Cộng4,5, tức 4 lượng 5 chỉ

Người sinh 10 giờ sáng 5/2/2027. Hôm ấy là 29 tháng Chạp năm Bính Ngọ (năm 2027 không có ngày 30 Tết), giờ Tỵ, nhưng đã qua Lập Xuân (08:46 ngày 4/2/2027).

  • Cân xương đổi năm theo Tết: năm Bính Ngọ 1,3 + tháng Chạp 0,5 + ngày 29 1,6 + giờ Tỵ 1,6 = 5,0.
  • Nếu ai lấy năm theo Lập Xuân như Bát Tự (năm Đinh Mùi 0,5): 0,5 + 0,5 + 1,6 + 1,6 = 4,2.

Cùng một đứa trẻ, chênh 8 chỉ chỉ vì quy ước đổi năm. Bài thơ 5,0 và bài thơ 4,2 nói hai chuyện khác nhau.

Đếm đủ mọi tổ hợp: con số nói gì

Bốn bảng có 60 × 12 × 30 × 12 = 259.200 tổ hợp năm, tháng, ngày, giờ. Chúng tôi cộng thử tất cả bằng máy:

Kết quảSố liệu
Nhẹ nhất2,1 lượng
Nặng nhất7,1 lượng
Hay gặp nhất3,9 lượng, khoảng 5,4% tổ hợp
Trung vị4,0 lượng
Từ 3,0 tới 4,9 lượng77,4%
Từ 6,0 lượng trở lên1,3%
Đúng 7,1 lượng16 tổ hợp trên 259.200

Ba điều rút ra:

  1. Bài thơ 7,2 lượng không bao giờ được dùng. Cộng bốn ô nặng nhất (năm 1,9, tháng 1,8, ngày 1,8, giờ 1,6) chỉ được 7,1. Bài thơ "mười đời tích thiện mới sinh người này" là bài thơ cho một con số không tồn tại trong chính phép tính của nó.
  2. Kết quả hay gặp nhất lại gắn với bài thơ u ám. Bài 3,9 lượng mở đầu, đại ý: suốt đời vận chẳng hanh thông, làm lụng nhiều mà như công cốc. Tức là phép này gán một lời buồn cho đúng nhóm đông người nhất.
  3. Các bài "đỗ đạt, làm quan" (từ 5,8 lượng trở lên) chỉ dành cho khoảng 2,5% tổ hợp, và lời thơ nói chuyện bảng vàng, áo tía đai vàng của xã hội khoa cử, không còn nghĩa đen hôm nay.

Đến đây cũng thấy bảng trọng lượng không theo quy luật nào giải thích được: Giáp Tý 1,2 mà Ất Sửu 0,9, tháng Ba và tháng Chín cùng 1,8 còn tháng Năm 0,5. Không có ngũ hành, không có âm dương, không có lý do nào được sách nêu. Con số chỉ có giá trị vì nó được chép lại.

Gán cho Viên Thiên Cương: truyền thống và văn bản

Viên Thiên Cương là nhà tướng số nổi tiếng đời Đường, có truyện trong Tân Đường Thư, gắn với nhiều giai thoại xem tướng (xem Viên Thiên Cương, Lý Thuần Phong). Theo truyền thống, ông là người đặt ra phép cân xương.

Văn bản hiện còn cho thấy khác: các bảng và bài ca cân xương lưu hành trong sách lịch, sách bói phổ thông đời sau, không thấy trong sử liệu hay trước tác đời Đường. Lối thơ bảy chữ dễ thuộc, lời lẽ về khoa cử, "xuất gia làm tăng đạo", "đổi họ dời nơi" phản ánh xã hội nhiều thế kỷ sau. Gán phép bói cho một danh nhân để nâng uy tín là chuyện rất thường gặp.

Khác Tử Bình ở đâu

Cân xươngBát Tự Tử Bình
Đầu vàosố thứ tự năm can chi, tháng âm, ngày âm, giờbốn trụ can chi năm, tháng, ngày, giờ (tháng theo tiết khí)
Đổi nămtheo Tếttheo Lập Xuân
Phép tínhcộng bốn số cố địnhxét ngũ hành, thập thần, vượng nhược, dụng thần
Kết quảmột trong 52 bài thơmột hệ quan hệ để đọc, không có "điểm" chung
Cơ sở lý luậnkhông cócó hệ thống, dù vẫn là niềm tin

Nói gọn: Tử Bình là một hệ thống (xem tứ trụ là gì), còn cân xương là một bảng tra.

Sách cổ nói gì

Bình sinh y lộc thị miên trường, kiện kiện tâm trung tự chủ trương.

Dịch: Một đời cơm áo dài lâu, việc gì cũng tự mình quyết định. — bài ca cân xương, bài 4,0 lượng, theo bản phổ biến

Bình: 4,0 lượng là trung vị của mọi tổ hợp, và bài thơ của nó, như phần lớn các bài ở giữa thang, nói những điều chung chung mà ai đọc cũng thấy "giống mình": từng vất vả, về sau yên ổn, tự lo liệu. Đó đúng là kiểu câu mà tâm lý học gọi là hiệu ứng Barnum (xem hiệu ứng Barnum).

Tử Bình Chân Thuyên của Thẩm Hiếu Chiêm đời Thanh dựng phép đọc mệnh trên nguyệt lệnh, thập thần và cách cục; ngay cả các sao thần sát, thứ vẫn còn tính từ can chi, sách cũng có thiên nói rằng chúng không liên quan tới cách cục. — Tử Bình Chân Thuyên, thiên Luận tinh thần vô quan cách cục, đại ý

Bình: cân xương không dùng ngũ hành chút nào. Đứng từ Tử Bình mà nhìn, nó không phải "một cách xem Bát Tự", mà là một trò khác dùng chung đầu vào.

Đọc cho đúng mức

  • Cân xương không có lý luận: bảng số không giải thích được, bài thơ không gắn với ngũ hành hay can chi.
  • Kết quả phụ thuộc quy ước (đổi năm theo Tết hay Lập Xuân, xử lý tháng nhuận) và phụ thuộc bản bảng đang dùng.
  • Bài thơ có nhiều dị bản, và bản dịch tiếng Việt trên mạng thường được sửa cho êm tai hoặc cho dữ hơn.
  • Nếu đọc cân xương cho vui, hãy coi nó như một bài thơ cổ; đừng dựa vào nó để quyết định chuyện học, việc làm, hôn nhân.

Việc nên làm

  • Muốn thử, tự tính bằng bốn bảng ở trên, đổi ngày dương sang âm cho đúng.
  • Muốn tìm hiểu lá số theo một hệ thống có lý luận, lập tứ trụ và đọc theo Tử Bình (xem cách lập tứ trụ).
  • Gặp ai dùng "mấy lượng mấy chỉ" để phán chuyện lớn của đời bạn, nhớ rằng con số ấy chỉ là tổng của bốn ô trong bảng.
🀄Lá số Bát Tự (Tứ Trụ)
Bốn trụ năm tháng ngày giờ theo tiết khí, Thập Thần, ngũ hành vượng suy.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Bài ca cân xương và bốn bảng trọng lượng, bản phổ biến trong sách lịch, sách bói phổ thông (đối chiếu hai nguồn độc lập).
  • Tân Đường Thư — truyện Viên Thiên Cương (đại ý).
  • Tử Bình Chân Thuyên — nền tảng phép đọc Tử Bình (đại ý).
  • Đếm 259.200 tổ hợp và đổi ngày âm lịch bằng máy, ngày 21/10/2026.

Câu hỏi thường gặp

Cân xương tính số là gì?

Là phép cộng trọng lượng của năm can chi, tháng âm, ngày âm và giờ sinh theo bốn bảng cố định, ra tổng từ 2,1 tới 7,1 lượng, rồi đọc bài thơ ứng với con số đó.

Cách tính cân xương thế nào?

Đổi ngày sinh sang âm lịch, tra trọng lượng năm, tháng, ngày, giờ trong bốn bảng rồi cộng lại. Ví dụ người sinh giờ Thìn ngày 18 tháng Bảy năm Ất Sửu được 4,5 lượng.

Cân xương có phải là Bát Tự không?

Không. Bát Tự Tử Bình xét ngũ hành, thập thần, vượng nhược; cân xương chỉ cộng bốn con số không có lý luận. Hai phép còn đổi năm theo hai mốc khác nhau.

Bao nhiêu lượng là tốt?

Phép này coi càng nặng càng tốt, nhưng đếm đủ 259.200 tổ hợp thì 77% rơi vào 3,0 – 4,9 lượng và chỉ 1,3% từ 6,0 trở lên. Con số không nói gì về giá trị một con người.

Cân xương có thật của Viên Thiên Cương không?

Đó là lời gán theo truyền thống. Bảng và bài ca cân xương chỉ thấy trong sách phổ thông đời sau, không có trong văn bản đời Đường.

Nguồn tham khảo: Bài ca cân xương (xưng cốt ca) lưu hành trong sách lịch, sách bói phổ thông — bốn bảng trọng lượng và 52 bài thơ từ 2,1 tới 7,2 lượng · Tân Đường Thư — truyện Viên Thiên Cương · Tử Bình Chân Thuyên

Nhật chủ Nhâm Thủy: sông lớn, biển cả, tính phóng khoáng và vì sao cần Mậu làm đêNhật chủ Nhâm Thủy trong Bát Tự: đọc tám câu Trích Thiên Tủy, vì sao sông lớn cần Mậu làm đê, khi nào nước thành lũ, Đinh Nhâm hợ…
Chính Quan, Thất Sát: kỷ luật, áp lực, và bốn cách sách cổ "chế" SátChính Quan, Thất Sát trong Bát Tự: khắc ta là Quan Sát, vì sao gọi là Thất, Thực Thần chế Sát, Ấn hoá Sát, Nhận hợp Sát, Quan Sát…
Sáu mươi nhật trụ: người sinh ngày Giáp Tý đến Quý Hợi, bảng traBảng tra 60 nhật trụ từ Giáp Tý đến Quý Hợi: nạp âm, tàng can của chi ngày và Thập Thần, vòng Tràng Sinh, các ngày Khôi Cương, Nh…
Điều hậu: sinh mùa đông cần lửa, sinh mùa hạ cần nước theo Cùng Thông Bảo GiámĐiều hậu trong bát tự: bảng 10 can × 12 tháng theo Cùng Thông Bảo Giám, cách dùng cùng phép phù ức, và vì sao người sinh ở miền N…
Nhật chủ Kỷ Thổ: ruộng vườn, đất ẩm, người nuôi dưỡng và vì sao Kim nhiều lại sángNhật chủ Kỷ Thổ trong Bát Tự: đọc tám câu Trích Thiên Tủy, Kỷ khác Mậu ở đâu, vì sao Kỷ không sợ Mộc và Thủy, Giáp Kỷ hợp, sáu ng…
Nhật chủ Tân Kim: châu ngọc, sự cầu toàn, vì sao thích Nhâm rửa mà sợ đất chồngNhật chủ Tân Kim trong Bát Tự: đọc tám câu Trích Thiên Tủy, vì sao Tân thích Nhâm thủy rửa mà sợ Thổ chồng chất, Bính Tân hợp, sá…