Cách lập tứ trụ bằng tay: trụ năm theo Lập Xuân, trụ tháng theo tiết khí, Ngũ Hổ Độn và Ngũ Thử Độn

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 13 phút đọc

Cách lập tứ trụ bằng tay: trụ năm theo Lập Xuân, trụ tháng theo tiết khí, Ngũ Hổ Độn và Ngũ Thử Độn

Lập tứ trụ là viết ra bốn cặp can chi của năm, tháng, ngày và giờ sinh. Trụ năm đổi ở tiết Lập Xuân (khoảng 4/2), không đổi ở mùng 1 Tết. Trụ tháng đổi theo mười hai tiết, không theo mùng 1 âm lịch. Can tháng tra bằng Ngũ Hổ Độn, can giờ tra bằng Ngũ Thử Độn, còn trụ ngày phải đếm theo vòng sáu mươi.

Bát Tự dùng lịch mặt trời, không dùng lịch mặt trăng

Chỗ sai phổ biến nhất khi tự lập tứ trụ không nằm ở phép tính, mà ở chỗ lấy nhầm lịch. Người Việt quen âm lịch: năm đổi ở Tết, tháng đổi ở ngày mùng 1. Đó là lịch theo tuần trăng, dùng để biết Tết, ngày giỗ, ngày rằm. Tử Bình thì đọc khí của mùa, mà mùa đi theo mặt trời, nên nó dùng lịch tiết khí: một năm chia làm mười hai tháng tiết, mỗi tháng bắt đầu khi mặt trời đi tới một vị trí cố định trên hoàng đạo.

Hai lịch này dùng chung một bộ tên can chi, nên rất dễ lẫn. Lấy ngày 5/2/1997 làm ví dụ. Lịch vạn niên ghi: ngày 28 tháng Chạp năm Bính Tý, tháng Tân Sửu. Đó là tên của tháng âm lịch. Còn với Bát Tự, người sinh sáng hôm ấy thuộc năm Đinh Sửu, tháng Nhâm Dần, vì Lập Xuân đã qua từ rạng sáng hôm trước. Cùng một buổi sáng mà hai bộ can chi khác nhau ở cả năm lẫn tháng. Bộ máy âm lịch của site, khi in can chi tháng cho lịch, cũng đi theo tháng âm như mọi tờ lịch khác; ghép tứ trụ thì phải dùng mốc tiết khí.

Vì sao người xưa không dùng Tết? Vì Tết trôi. Mùng 1 Tết có thể rơi bất cứ ngày nào từ khoảng 21/1 đến 20/2 dương lịch, còn Lập Xuân năm nào cũng nằm quanh 3 – 5/2. Một môn đọc khí lạnh, khí ấm trong tám chữ mà để năm đổi trước hay sau đến gần một tháng tuỳ tuần trăng thì không còn đo được mùa nữa.

Mười hai tiết mở mười hai tháng

Hai mươi bốn tiết khí chia làm hai loại: mười hai tiết (tiết lệnh) và mười hai khí (trung khí). Chỉ tiết mới mở tháng. Vũ Thủy, Xuân Phân, Hạ Chí, Đông Chí… là trung khí, nằm giữa tháng, không làm đổi trụ tháng.

Chi thángTiết mở thángNgày dương thường gặp (1950 – 2030, giờ Việt Nam)Mùa
DầnLập Xuân3 – 5/2đầu xuân
MãoKinh Trập5 – 6/3giữa xuân
ThìnThanh Minh4 – 5/4cuối xuân
TỵLập Hạ5 – 6/5đầu hạ
NgọMang Chủng5 – 6/6giữa hạ
MùiTiểu Thử6 – 8/7cuối hạ
ThânLập Thu7 – 8/8đầu thu
DậuBạch Lộ7 – 8/9giữa thu
TuấtHàn Lộ8 – 9/10cuối thu
HợiLập Đông7 – 8/11đầu đông
TýĐại Tuyết6 – 8/12giữa đông
SửuTiểu Hàn5 – 6/1cuối đông

Khoảng ngày trong bảng được lấy bằng máy cho 81 năm, không chép theo trí nhớ. Hệ quả thực tế: người sinh trong ba ngày đầu của một tháng dương nào đó (đầu tháng 2, đầu tháng 3, đầu tháng 7…) phải tra giờ vào tiết của đúng năm ấy, không đoán theo ngày. Tháng nhuận âm lịch không có chỗ nào trong Bát Tự: tháng tiết không bao giờ nhuận, khác hẳn chuyện tháng nhuận bên tử vi.

Bước 1: trụ năm, đổi ở giờ Lập Xuân

Tính can chi năm dương lịch Y:

  • Can: lấy số cuối của năm. 0 Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý, 4 Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ.
  • Chi: lấy (Y + 8) chia 12, số dư 0 là Tý, 1 Sửu, 2 Dần… 11 Hợi.

Năm 1997: số cuối 7 là Đinh; 1997 + 8 = 2005, chia 12 dư 1 là Sửu. Năm Đinh Sửu.

Rồi xét mốc: sinh trước giờ Lập Xuân của năm Y thì lấy năm Y − 1. Không phải trước Tết, cũng không phải trước ngày 4/2 nói chung, mà trước đúng giờ vào tiết. Năm 2027 là ví dụ gần: Lập Xuân rơi vào 8 giờ 46 sáng 4/2/2027 (giờ Việt Nam), còn Tết Đinh Mùi là 6/2/2027. Em bé chào đời chiều 4/2 hay ngày 5/2/2027 vẫn ở năm Bính Ngọ theo lịch âm, nhưng tứ trụ đã là năm Đinh Mùi.

Bước 2: trụ tháng, chi theo tiết, can theo Ngũ Hổ Độn

Chi tháng tra ở bảng trên. Can tháng không cần nhớ sáu mươi tháng, chỉ cần biết tháng Dần (tháng mở năm tiết) của năm đó mang can gì, rồi đếm tiếp.

Can nămTháng Dần làTháng Mão…Tháng Sửu (cuối năm tiết)
Giáp hoặc KỷBính DầnĐinh Mão…Đinh Sửu
Ất hoặc CanhMậu DầnKỷ Mão…Kỷ Sửu
Bính hoặc TânCanh DầnTân Mão…Tân Sửu
Đinh hoặc NhâmNhâm DầnQuý Mão…Quý Sửu
Mậu hoặc QuýGiáp DầnẤt Mão…Ất Sửu

Cái tên "Ngũ Hổ Độn" nghĩa là năm cách khởi tháng Dần (Dần là hổ). Bảng có một lý lẽ dễ nhớ: hai can năm đi cặp với nhau là hai can ngũ hợp (Giáp hợp Kỷ hoá Thổ, Ất hợp Canh hoá Kim, Bính hợp Tân hoá Thủy, Đinh hợp Nhâm hoá Mộc, Mậu hợp Quý hoá Hoả), và can của tháng Dần là hành sinh ra hành hoá khí, lấy can dương. Giáp Kỷ hoá Thổ, Hoả sinh Thổ, nên tháng Dần là Bính. Ất Canh hoá Kim, Thổ sinh Kim, nên là Mậu. Cứ thế cho cả năm dòng. Về số học, mười can ghép mười hai chi thì sau năm năm (sáu mươi tháng) vòng lặp lại, nên chỉ có đúng năm dòng.

Chú ý cột cuối: tháng Sửu (khoảng 6/1 đến 4/2) thuộc năm tiết cũ. Người sinh ngày 20/1/1998 lấy can năm Đinh Sửu (1997) để tra, ra tháng Quý Sửu, chứ không lấy can năm Mậu Dần.

Bước 3: trụ ngày, phải đếm chứ không suy được

Ngày can chi chạy liên tục sáu mươi ngày một vòng từ thời Thương đến nay, không ngắt ở đầu tháng hay đầu năm, nên không có công thức "năm này tháng này thì ngày mùng 1 là gì" đơn giản. Có ba cách đáng tin:

  1. Tra lịch vạn niên in sẵn can chi ngày. Nhanh nhất, nhưng nên tra hai nguồn.
  2. Số ngày Julius (JD). Với JD của ngày dương lịch (tính lúc giữa trưa), can = (JD + 9) chia 10 lấy dư, chi = (JD + 1) chia 12 lấy dư; số dư 0 là Giáp hay Tý. Đây là phép bộ máy của site dùng; cách tính JD có ở bài can chi ngày.
  3. Đếm từ một mốc đã biết. Ngày 1/1/2000 là ngày Mậu Ngọ, đứng thứ 55 trong vòng (số thứ tự 54 nếu Giáp Tý là 0). Lấy số ngày chênh, chia 60 lấy dư, rồi đếm tới hoặc lùi.

Một điểm phải định trước: ngày đổi lúc mấy giờ. Tử Bình truyền thống đổi ngày ở đầu giờ Tý, tức 23 giờ. Có phe giữ ngày cũ cho người sinh 23 – 24 giờ nhưng lấy can giờ theo ngày mới. Lý lẽ hai bên ở bài giờ Tý đêm, giờ Tý sớm; ở đây chỉ cần biết sinh khung giờ ấy thì lập cả hai cách.

Bước 4: trụ giờ, chi theo giờ địa phương, can theo Ngũ Thử Độn

Mười hai giờ, mỗi giờ hai tiếng: Tý 23 – 1 giờ, Sửu 1 – 3, Dần 3 – 5, Mão 5 – 7, Thìn 7 – 9, Tỵ 9 – 11, Ngọ 11 – 13, Mùi 13 – 15, Thân 15 – 17, Dậu 17 – 19, Tuất 19 – 21, Hợi 21 – 23.

Can ngàyGiờ Tý làGiờ SửuGiờ Dần…
Giáp hoặc KỷGiáp TýẤt SửuBính Dần…
Ất hoặc CanhBính TýĐinh SửuMậu Dần…
Bính hoặc TânMậu TýKỷ SửuCanh Dần…
Đinh hoặc NhâmCanh TýTân SửuNhâm Dần…
Mậu hoặc QuýNhâm TýQuý SửuGiáp Dần…

"Thử" là chuột, tức giờ Tý. Lý lẽ đối xứng với Ngũ Hổ Độn: can giờ Tý là hành khắc hành hoá khí, lấy can dương. Giáp Kỷ hoá Thổ, Mộc khắc Thổ, nên giờ Tý là Giáp. Mậu Quý hoá Hoả, Thủy khắc Hoả, nên là Nhâm. Một bên "sinh", một bên "khắc": nhớ được lý lẽ thì không cần học thuộc bảng.

Giờ trên giấy khai sinh là giờ đồng hồ. Người sinh ở miền Nam giai đoạn 1960 – 1975 phải trừ một giờ vì khi đó dùng múi +8 (chi tiết ở bài giờ sinh và múi giờ Việt Nam). Một số thầy còn chỉnh tiếp sang giờ mặt trời thật theo kinh độ nơi sinh; phần này các phái không thống nhất, nên với người sinh sát ranh giới giờ, cách cẩn thận là ghi cả hai trụ giờ.

Ví dụ tính tay: 9 giờ 30 sáng 5/2/1997, sinh tại Hà Nội

  1. Năm. 1997 là Đinh Sửu. Lập Xuân 1997 vào 2 giờ 02 phút sáng 4/2/1997 giờ Việt Nam. Người này sinh sau mốc đó hơn 31 tiếng, nên giữ năm Đinh Sửu.
  2. Tháng. Đã qua Lập Xuân, chưa tới Kinh Trập (20 giờ 04 ngày 5/3/1997), nên chi tháng là Dần. Năm Đinh, tra Ngũ Hổ Độn: Nhâm Dần.
  3. Ngày. JD của 5/2/1997 là 2450485. (2450485 + 9) chia 10 dư 4: Mậu. (2450485 + 1) chia 12 dư 2: Dần. Ngày Mậu Dần. Kiểm lại bằng mốc: từ 5/2/1997 đến 1/1/2000 là 1060 ngày; 1060 chia 60 dư 40; lùi 40 bậc từ Mậu Ngọ (54) được 14, đúng là Mậu Dần.
  4. Giờ. 9 giờ 30 là giờ Tỵ. Ngày Mậu, tra Ngũ Thử Độn: giờ Tý là Nhâm Tý, đếm tới giờ Tỵ là Đinh Tỵ.
Trụ nămTrụ thángTrụ ngàyTrụ giờ
Lập đúng (theo tiết)Đinh SửuNhâm DầnMậu DầnĐinh Tỵ
Lập sai (theo Tết, tháng âm)Bính TýTân SửuMậu DầnĐinh Tỵ

Bản sai chỉ khác hai trụ đầu, nhưng hai trụ ấy kéo theo gần hết phần luận. Nhật chủ vẫn là Mậu Thổ. Ở bản đúng, Mậu sinh tháng Dần: đầu xuân, Mộc đang lên, chữ nắm lệnh là Thất Sát khắc thân. Ở bản sai, Mậu sinh tháng Sửu: cuối đông, Thổ ẩm lạnh, chữ nắm lệnh lại là đồng loại Kiếp Tài. Một bên nhật chủ thất lệnh (dù theo bảng nhân nguyên tư lệnh thường dẫn, bảy ngày đầu tháng Dần còn dư khí Mậu thổ nắm việc), một bên đắc lệnh, nên phép cân thân vượng hay nhược (bài thân vượng thân nhược) cho hai kết luận khác nhau. Chưa hết: can năm Đinh là âm, Bính là dương, nên với một bé trai, chiều đại vận cũng lật ngược (bài đại vận Bát Tự).

Ca ngược lại: Tết tới trước Lập Xuân

Có năm Tết đến sớm, như Tết Giáp Thân rơi vào 22/1/2004, còn Lập Xuân 2004 vào 18 giờ 56 ngày 4/2. Người sinh 9 giờ 30 ngày 30/1/2004 đã "ăn Tết xong", lịch âm ghi mùng 9 tháng Giêng năm Giáp Thân, tháng Bính Dần. Nhưng mặt trời chưa tới Lập Xuân, và đã qua Tiểu Hàn (7 giờ 18 ngày 6/1), nên tứ trụ là:

Trụ nămTrụ thángTrụ ngàyTrụ giờ
Quý MùiẤt SửuMậu ThânĐinh Tỵ

Năm Quý Mùi chứ không phải Giáp Thân; tháng Ất Sửu (tháng cuối của năm tiết Quý Mùi) chứ không phải Bính Dần. Lấy Tết làm mốc thì sai cả hai, theo chiều ngược với ví dụ năm 1997. Ai sinh trong khoảng từ 21/1 đến 20/2 dương lịch nên tự hỏi hai câu: đã qua Tết chưa (cho tuổi con giáp đời thường), và đã qua giờ Lập Xuân chưa (cho tứ trụ).

Cách chúng tôi kiểm các con số trong bài

Bài này không ghi con số nào theo trí nhớ:

  • Can chi ngày tính bằng bộ máy âm lịch của site (số ngày Julius), rồi kiểm tay bằng cách đếm từ mốc 1/1/2000 như trên.
  • Giờ vào tiết lấy từ hai nguồn: công thức kinh độ mặt trời trong bộ máy của site, và thư viện lịch mã nguồn mở lunar-javascript (thư viện này cho giờ Bắc Kinh, trừ một giờ ra giờ Việt Nam). Lập Xuân 1997: thư viện cho 3 giờ 01 phút 57 giây giờ Bắc Kinh, tức 2 giờ 02 giờ Việt Nam; công thức của bộ máy cho 2 giờ 03. Qua nhiều năm, công thức gọn của bộ máy lệch thư viện tối đa chừng mười phút, nên giờ trong bài lấy theo thư viện.
  • Tứ trụ trọn vẹn: lập 4.000 thời điểm ngẫu nhiên từ 1930 đến 2030 theo cả hai đường, bốn trụ khớp nhau ở tất cả. Chỗ hai đường còn lệch chỉ nằm trong khoảng chừng mười phút quanh giờ vào tiết.

Bài học cho người tự lập: sinh cách giờ vào tiết vài tiếng thì tra hai nguồn; sinh cách chừng mười lăm phút thì nên ghi cả hai khả năng, vì chính giờ sinh trên giấy cũng hay bị làm tròn.

Sách cổ nói gì

Hai khẩu quyết dưới đây lưu truyền trong sách Tử Bình, các bản chép chữ có khác nhau đôi chút; chúng tôi theo bản phổ biến.

Giáp Kỷ chi niên Bính tác thủ, Ất Canh chi tuế Mậu vi đầu, Bính Tân tất định tầm Canh khởi, Đinh Nhâm Nhâm vị thuận hành lưu, nhược vấn Mậu Quý hà phương phát, Giáp Dần chi thượng hảo truy cầu.

Dịch: Năm Giáp, Kỷ thì Bính đứng đầu; năm Ất, Canh thì Mậu mở đầu; năm Bính, Tân tìm Canh mà khởi; năm Đinh, Nhâm thì từ Nhâm đi thuận; hỏi năm Mậu, Quý khởi từ đâu, cứ tìm ở Giáp Dần. — khẩu quyết Ngũ Hổ Độn

Giáp Kỷ hoàn gia Giáp, Ất Canh Bính tác sơ, Bính Tân tòng Mậu khởi, Đinh Nhâm Canh Tý cư, Mậu Quý hà phương phát, Nhâm Tý thị chân đồ.

Dịch: Ngày Giáp, Kỷ giờ Tý lại là Giáp; ngày Ất, Canh lấy Bính làm đầu; ngày Bính, Tân khởi từ Mậu; ngày Đinh, Nhâm giờ Tý là Canh Tý; ngày Mậu, Quý khởi từ đâu, Nhâm Tý là đường đúng. — khẩu quyết Ngũ Thử Độn

Bình: hai bài vè chỉ là bảng tra viết thành vần cho dễ thuộc. Điều đáng để ý là cả hai đều khởi từ tháng Dần và giờ Tý, tức đã ngầm coi tháng Dần là tháng đầu năm. Uyên Hải Tử Bình, đại ý, cũng lấy tiết làm ranh giới tháng: chưa qua tiết thì vẫn tính tháng trước, dù lịch âm đã sang tháng mới. Người lập tứ trụ theo mùng 1 âm lịch là đã đi ngược với chính khẩu quyết mình đang dùng.

Đọc cho đúng mức

  • Mốc năm có tranh luận nhỏ. Tuyệt đại đa số sách và thầy Tử Bình đổi năm ở Lập Xuân. Có một số ít người lý luận rằng năm nên đổi ở Đông Chí (lúc "nhất dương sinh"); cách này không phổ biến và bài này không theo.
  • Giờ mặt trời thật hay giờ đồng hồ là chuyện các phái còn bàn. Tiết khí thì không bàn được: đó là thiên văn, tính ra từng phút.
  • Giờ sinh trên giấy không chính xác tuyệt đối. Giờ do người đỡ đẻ ghi, có nơi làm tròn tới mười lăm, ba mươi phút. Ai sinh sát ranh giới giờ âm hay sát giờ vào tiết nên coi trụ giờ, trụ tháng của mình là "một trong hai".
  • Lập đúng tứ trụ mới là bước một. Tám chữ đúng mà đọc theo kiểu đếm hành thì vẫn ra kết luận sai; bài về "ngũ hành khuyết" nói kỹ chuyện đó.

Việc nên làm

  • Tìm giấy chứng sinh, ghi giờ phút chính xác, nơi sinh, và với người sinh miền Nam 1960 – 1975 thì trừ một giờ trước khi tính.
  • Nếu sinh trong khoảng 20/1 – 20/2 dương lịch, tra giờ Lập Xuân của đúng năm sinh trước khi viết trụ năm.
  • Nếu sinh trong ba ngày đầu một tháng dương, tra giờ vào tiết tháng đó.
  • Viết tứ trụ của mình ra giấy theo bốn bước trong bài, rồi so với một lịch vạn niên in sẵn can chi ngày. Khớp cả bốn trụ thì mới đọc tiếp nhật chủ (bài nhật chủ) và thập thần.

Xem lá số tử vi của chính bạn

Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.

Lập lá số miễn phí

Nguồn tham khảo

  • Uyên Hải Tử Bình — phép lấy năm, tháng, ngày, giờ; tháng phân theo tiết (đại ý).
  • Khẩu quyết Ngũ Hổ Độn, Ngũ Thử Độn — bản lưu truyền phổ biến trong sách Tử Bình (nguyên văn).
  • Thư viện lịch lunar-javascript (mã nguồn mở) — giờ vào tiết 1930 – 2030, giờ Bắc Kinh, quy về giờ Việt Nam.
  • Bộ máy âm lịch của aihuyenhoc.com (`app/Core/TuVi/AmLich.php`) — can chi ngày theo số ngày Julius, kinh độ mặt trời; đối chiếu 4.000 thời điểm với thư viện trên.

Câu hỏi thường gặp

Sinh sau Tết nhưng trước Lập Xuân thì tứ trụ tính năm nào?

Tính năm cũ. Tứ trụ chỉ sang năm mới khi qua giờ Lập Xuân, nên người sinh 30/1/2004 dù đã qua Tết Giáp Thân vẫn có trụ năm Quý Mùi.

Sinh trước Tết nhưng sau Lập Xuân thì sao?

Tứ trụ đã sang năm mới. Người sinh sáng 5/2/1997, lúc lịch âm còn là 28 tháng Chạp Bính Tý, có trụ năm Đinh Sửu và trụ tháng Nhâm Dần.

Can tháng trên lịch vạn niên có dùng cho Bát Tự được không?

Phần lớn lịch vạn niên in can chi tháng theo tháng âm lịch, dùng được cho lịch nhưng không dùng thẳng cho Bát Tự. Tháng âm và tháng tiết lệch nhau từ vài ngày đến gần một tháng, nên người sinh trong quãng lệch ấy sẽ thấy hai can chi khác nhau.

Vì sao không có công thức tính nhanh trụ ngày như trụ năm?

Vì ngày can chi chạy liên tục sáu mươi ngày một vòng, không khớp với độ dài tháng hay năm. Phải đếm từ một mốc, hoặc dùng số ngày Julius, hoặc tra lịch.

Sinh tháng nhuận âm lịch thì trụ tháng có gì đặc biệt?

Không có. Trụ tháng Bát Tự theo tiết khí, mà tháng tiết thì không bao giờ nhuận; chỉ cần biết ngày sinh đã qua tiết nào.

Nguồn tham khảo: Uyên Hải Tử Bình — phép lấy năm, tháng, ngày, giờ · Khẩu quyết Ngũ Hổ Độn và Ngũ Thử Độn lưu truyền trong sách Tử Bình · Thư viện lịch lunar-javascript (mã nguồn mở) — giờ vào tiết theo giờ Bắc Kinh · Bộ máy âm lịch của aihuyenhoc.com (app/Core/TuVi/AmLich.php) — can chi ngày theo số ngày Julius, kinh độ mặt trời

Nhật chủ Giáp Mộc: cây lớn cần đất dày, cần ánh mặt trờiNhật chủ Giáp Mộc trong Bát Tự: tám câu Trích Thiên Tủy từ Giáp mộc tham thiên, Giáp qua bốn mùa theo điều hậu, sáu ngày Giáp, tí…
Điều hậu: sinh mùa đông cần lửa, sinh mùa hạ cần nước theo Cùng Thông Bảo GiámĐiều hậu trong bát tự: bảng 10 can × 12 tháng theo Cùng Thông Bảo Giám, cách dùng cùng phép phù ức, và vì sao người sinh ở miền N…
Nhật chủ Ất Mộc: dây leo, cỏ hoa, tài nương tựa và cái hợp với CanhNhật chủ Ất Mộc trong Bát Tự: đọc từng câu Trích Thiên Tủy, Ất qua bốn mùa, sáu ngày Ất, vì sao Ất hợp Canh mà ít khi hoá Kim, kè…
Thực Thần, Thương Quan: tài năng phát ra ngoài, cái tôi và câu "Thương Quan kiến Quan"Thực Thần, Thương Quan trong Bát Tự: ta sinh ra gì, vì sao Thương Quan khắc Quan mạnh nhất, đọc lại câu Thương Quan kiến Quan cho…
Thai Nguyên, Mệnh Cung trong Tử Bình: hai cột phụ ít người dùng, cách tính và vì sao chúng có mặtThai Nguyên, Mệnh Cung trong Tử Bình: cách tính bằng tay, vì sao Thai Nguyên là tháng lùi chín tháng, Mệnh Cung khác cung Mệnh tử…
Nhật chủ Nhâm Thủy: sông lớn, biển cả, tính phóng khoáng và vì sao cần Mậu làm đêNhật chủ Nhâm Thủy trong Bát Tự: đọc tám câu Trích Thiên Tủy, vì sao sông lớn cần Mậu làm đê, khi nào nước thành lũ, Đinh Nhâm hợ…