Tứ Trụ là gì: Tứ Trụ, Bát Tự, Tử Bình là ba tên của một môn, và vì sao lấy ngày sinh làm “ta”
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 12 phút đọc
Tứ Trụ, Bát Tự, Tử Bình là ba tên của một môn đoán mệnh bằng can chi năm, tháng, ngày, giờ sinh: bốn trụ, mỗi trụ hai chữ, thành tám chữ. "Tử Bình" là tên chữ của Từ Cư Dịch, người theo truyền thống đã đổi phép xưa sang lấy can ngày làm "ta". Môn này đọc cán cân ngũ hành trong tám chữ và cách nó đổi theo đại vận.
Ba cái tên, một môn
Tứ Trụ (bốn cột) nói về cấu trúc: năm, tháng, ngày, giờ sinh, mỗi thứ là một cột can chi. Bát Tự (tám chữ) nói về số chữ: mỗi cột một can trên, một chi dưới, bốn cột thành tám chữ. Người Trung Hoa nói "xem tám chữ" theo nghĩa xem mệnh nói chung, kể cả khi so tuổi cưới hỏi. Tử Bình là tên lấy theo người: Từ Cư Dịch, tên chữ Tử Bình, được coi là người đặt nền cho phép lấy can ngày làm chủ. Có cách giải dân gian rằng "tử bình" là "mặt nước phẳng", tức môn học về sự cân bằng; cách giải ấy hay, nhưng tên môn vốn đi ra từ tên người.
Ở Việt Nam, Tử Vi Đẩu Số phổ biến hơn hẳn, nên nhiều người nghe "Tứ Trụ" lần đầu tưởng là một nhánh của tử vi. Không phải. Hai môn cùng dùng ngày giờ sinh nhưng đi hai đường khác nhau từ bước đầu tiên: tử vi dùng âm lịch để an sao vào mười hai cung, Tứ Trụ dùng lịch tiết khí để viết tám chữ rồi cân ngũ hành.
Tám chữ trông như thế nào
Người sinh 9 giờ 30 sáng 5/2/1997 tại Hà Nội có tứ trụ dưới đây. Bốn trụ được lập bằng bộ máy âm lịch của site và đối chiếu với thư viện lịch mã nguồn mở lunar-javascript; cách tính từng bước ở bài cách lập tứ trụ.
| Trụ năm | Trụ tháng | Trụ ngày | Trụ giờ | |
|---|---|---|---|---|
| Can (thiên can) | Đinh | Nhâm | Mậu (nhật chủ) | Đinh |
| Chi (địa chi) | Sửu | Dần | Dần | Tỵ |
| Can ẩn trong chi | Kỷ, Quý, Tân | Giáp, Bính, Mậu | Giáp, Bính, Mậu | Bính, Mậu, Canh |
| Thập thần (với Mậu) | Chính Ấn / Kiếp Tài | Thiên Tài / Thất Sát | nhật chủ / Thất Sát | Chính Ấn / Thiên Ấn |
Ba điều đáng để ý ngay ở ví dụ này:
- Lịch âm ghi hôm ấy là 28 tháng Chạp năm Bính Tý. Tứ trụ lại là năm Đinh Sửu, tháng Nhâm Dần, vì Lập Xuân đã qua từ rạng sáng hôm trước. Tứ Trụ dùng lịch mặt trời.
- Chữ quan trọng nhất không phải can năm, mà là can ngày Mậu: đó là "ta". Mọi chữ khác được gọi tên theo quan hệ với nó.
- Mỗi địa chi chứa nhiều can ẩn. Tám chữ trên mặt thật ra mang mười mấy can, và đọc Bát Tự là đọc cả tầng ẩn ấy.
Từ Lý Hư Trung đến Từ Tử Bình
Lịch sử môn này có hai lớp phải tách: lớp truyền thống kể lại và lớp văn bản còn lại cho thấy.
Đời Đường: phép ba trụ. Văn bản đáng tin sớm nhất là bài văn bia mộ Hàn Dũ viết cho Lý Hư Trung, một viên quan đồng thời với ông, mất vào đầu thế kỷ IX. Hàn Dũ kể, đại ý, Lý Hư Trung tinh thông thuật ngũ hành, dựa vào can chi năm, tháng, ngày sinh, xét sinh khắc vượng suy mà đoán thọ yểu, sang hèn, và đoán trúng rất nhiều. Bài bia không nhắc tới giờ sinh, nên người đời sau gọi phép của Lý là "tam trụ". Có một sách mang tên Lý Hư Trung Mệnh Thư, ghi là Quỷ Cốc Tử soạn, Lý Hư Trung chú; nhiều nhà khảo cứu cho rằng đó là sách đời sau gán tên.
Cuối Ngũ Đại, đầu Tống: lấy ngày làm chủ. Theo truyền thống, Từ Cư Dịch (Tử Bình) thêm trụ giờ và chuyển trọng tâm từ năm sang can ngày. Chúng tôi không thấy văn bản nào do chính tay ông viết còn lại; những gì ta biết về "phép Tử Bình" đều qua sách của người sau.
Tống – Minh: sách nền. Uyên Hải Tử Bình thường được ghi là do Từ Thăng (Từ Đại Thăng) đời Nam Tống soạn, bản lưu hành nay qua tay người đời Minh hiệu đính. Đây là chỗ thấy rõ bộ khung của môn: nhật chủ, thập thần, tàng can, cách cục, đại vận. Đời Minh có Tam Mệnh Thông Hội của Vạn Dân Anh, một bộ gần như bách khoa thư, gom cả phép xưa lẫn phép Tử Bình; và Thần Phong Thông Khảo của Trương Nam, nổi tiếng với thuyết "bệnh dược".
Trích Thiên Tủy. Theo truyền thống, sách do Kinh Đồ soạn, Lưu Bá Ôn chú. Phần chú của Lưu Bá Ôn là lời truyền, chưa có bằng chứng văn bản đi kèm. Văn bản được dùng nhiều nhất là bản chú của Nhâm Thiết Tiều đời Thanh (Trích Thiên Tủy Xiển Vi), với hàng trăm lá số ví dụ.
Đời Thanh: ba trường phái đọc. Tử Bình Chân Thuyên của Thẩm Hiếu Chiêm (thời Càn Long) đặt nặng cách cục từ nguyệt lệnh. Cùng Thông Bảo Giám, gốc là bản Lan Giang Võng khuyết danh, Dư Xuân Đài biên tập lại, xếp dụng thần theo mười can và mười hai tháng, đặt nặng điều hậu nóng lạnh. Trích Thiên Tủy bản Nhâm Thiết Tiều đặt nặng suy vượng và dòng chảy giữa các hành.
Dân Quốc. Từ Lạc Ngô bình chú cả ba bộ trên; nhiều bản Hán văn của ba sách đang lưu hành là bản có lời bình của ông, nên khi đọc nên tách lời gốc với lời bình.
| Thời | Người, sách | Đóng góp chính | Lớp sử liệu |
|---|---|---|---|
| Đường | Lý Hư Trung | đoán theo năm, tháng, ngày | có văn bia Hàn Dũ |
| Ngũ Đại – Tống | Từ Cư Dịch (Tử Bình) | lấy can ngày làm chủ, thêm giờ | truyền thống, không còn văn bản riêng |
| Nam Tống, Minh hiệu đính | Uyên Hải Tử Bình | bộ khung thập thần, cách cục, đại vận | văn bản còn |
| Minh | Tam Mệnh Thông Hội, Thần Phong Thông Khảo | tổng hợp; thuyết bệnh dược | văn bản còn |
| Truyền Minh, chú đời Thanh | Trích Thiên Tủy | suy vượng, thông quan, trung hoà | phần Lưu Bá Ôn chú là lời truyền |
| Thanh | Tử Bình Chân Thuyên, Cùng Thông Bảo Giám | cách cục; điều hậu | văn bản còn |
Vì sao lấy ngày sinh làm "ta"
Đổi từ năm sang ngày là bước làm nên môn Tử Bình. Lý lẽ thường được nêu: năm sinh chung cho cả một lứa tuổi, tháng sinh chung cho một mùa, còn ngày là đơn vị nhỏ nhất có đủ can chi chạy liên tục, đủ để tách người này khỏi người sinh cách đó vài hôm. Năm và tháng lùi về vai môi trường: gốc gác và thời thế, mùa khí mà "ta" sinh ra trong đó. Chi ngày, ngồi ngay dưới can ngày, được coi là cung của người bạn đời.
Bài nhật chủ đi kỹ chuyện này và mười loại nhật chủ, từ Giáp mộc "vươn chạm trời" đến Quý thủy "yếu nhất mà lên tới bến trời".
Bát Tự đọc những gì
Có thể gói việc đọc một lá số Bát Tự vào ba tầng:
- Cán cân. Nhật chủ mạnh hay yếu so với phần còn lại (thân vượng thân nhược), từ đó tìm hành giúp lá số cân bằng nhất (dụng thần). Cân bằng ở đây gồm cả nóng lạnh, khô ẩm (điều hậu).
- Cấu trúc. Các chữ đứng với nhật chủ trong quan hệ gì (thập thần), chữ nào nắm lệnh tháng (nguyệt lệnh), chúng hợp xung ra sao (hợp xung hình hại), và lá số thuộc cách cục nào, kể cả những cách đặc biệt phải bỏ phép cân thường (ngoại cách).
- Thời gian. Đại vận mười năm một và lưu niên từng năm đi qua, đem đến hành nào, đứng vai gì với dụng thần (đại vận Bát Tự, lưu niên 2027).
Thứ tự này quan trọng. Nhảy thẳng tới tầng ba ("năm nay mình thế nào") mà chưa qua tầng một là đọc vận của một lá số chưa biết cần gì.
Lộ trình đọc chuyên mục Bát Tự
Chuyên mục chia ba nhóm. Người mới nên đi theo thứ tự trong nhóm nền tảng, rồi mới sang thập thần và nhật chủ.
Nhóm nền tảng
| Bài | Đọc để biết |
|---|---|
| Cách lập tứ trụ | lập bốn trụ bằng tay, mốc Lập Xuân, Ngũ Hổ Độn, Ngũ Thử Độn |
| Nhật chủ | vì sao can ngày là "ta", mười loại nhật chủ |
| Tàng can | can ẩn trong mười hai chi và số ngày nắm lệnh |
| Nguyệt lệnh | vì sao chữ ở tháng sinh nặng nhất |
| Thân vượng thân nhược | cân lực nhật chủ bằng lệnh, địa, thế |
| Dụng thần là gì | phù ức, điều hậu, thông quan, bệnh dược |
| Điều hậu | bảng mười can mười hai tháng theo Cùng Thông Bảo Giám |
| Ngũ hành khuyết | vì sao "mệnh khuyết Thủy" theo lối đếm thường sai |
| Hợp xung hình hại | bảng hợp, xung, hình, hại và mức nặng nhẹ |
| Ngoại cách | tòng cách, hoá khí cách, chuyên vượng cách |
| Đại vận Bát Tự | chiều thuận nghịch, tuổi khởi vận theo số ngày đến tiết |
| Lưu niên 2027 | năm Đinh Mùi với mười loại nhật chủ |
| Tam trụ khi không có giờ sinh | đọc được gì, mất gì |
| Thai Nguyên, Mệnh Cung | hai cột phụ ít người dùng |
| 60 nhật trụ | bảng tra sáu mươi ngày sinh Giáp Tý đến Quý Hợi |
| Bát Tự hợp hôn | so chi ngày, phu tinh, thê tinh thay vì chỉ so con giáp |
| Tử Vi và Bát Tự khác nhau | nên xem môn nào trước |
Nhóm thập thần
| Bài | Đọc để biết |
|---|---|
| Thập thần | bảng tra 10 × 10, mỗi thần một câu |
| Tỷ Kiên, Kiếp Tài | bạn đồng hành và đối thủ |
| Thực Thần, Thương Quan | tài năng phát ra ngoài và cái tôi |
| Chính Tài, Thiên Tài | tiền đều đặn và tiền theo dịp |
| Chính Quan, Thất Sát | kỷ luật và áp lực |
| Chính Ấn, Thiên Ấn | người che chở và học vấn |
Nhóm nhật chủ: Giáp Mộc · Ất Mộc · Bính Hoả · Đinh Hoả · Mậu Thổ · Kỷ Thổ · Canh Kim · Tân Kim · Nhâm Thủy · Quý Thủy.
Bát Tự và Tử Vi đặt cạnh nhau
| Bát Tự (Tử Bình) | Tử Vi Đẩu Số | |
|---|---|---|
| Lịch dùng | tiết khí (mặt trời) | âm lịch (mặt trăng) |
| Mốc đổi năm | Lập Xuân | mùng 1 Tết |
| Đơn vị đọc | tám chữ can chi, mười thần | mười bốn chính tinh và phụ tinh trên mười hai cung |
| "Ta" là | can ngày (nhật chủ) | cung Mệnh |
| Đại vận | khởi theo số ngày đến tiết, đi qua các trụ can chi | khởi theo số cục, đi qua các cung |
| Thế mạnh | cán cân, dụng thần, nhịp vận | chi tiết từng mặt đời sống theo cung |
Hai môn không thay nhau được và cũng không cần chọn một. Bài Tử Vi và Bát Tự khác nhau bàn kỹ nên bắt đầu từ đâu; phía tử vi có bài Tử Vi Đẩu Số là gì.
Bốn hiểu lầm hay gặp
- Lấy Tết làm mốc năm, mùng 1 làm mốc tháng. Người sinh từ khoảng 20/1 đến 20/2 dễ sai trụ năm; người sinh đầu mỗi tháng dương dễ sai trụ tháng. Sai hai trụ này là sai cả chiều đại vận.
- Đếm hành rồi "bổ khuyết". Tám chữ không nặng như nhau, địa chi chứa can ẩn, và hành vắng mặt có khi là hành lá số không nên thêm.
- Coi nhật chủ như cung hoàng đạo. Cứ mười người có một người cùng nhật chủ; đọc tính cách chỉ từ can ngày là đọc một phần mười dữ liệu.
- Lẫn "mệnh" nạp âm với Bát Tự. "Mệnh Kim, mệnh Mộc" theo năm sinh là tên nạp âm của cặp can chi năm, dùng trong xem tuổi. Bát Tự không lấy nó làm gốc.
Sách cổ nói gì
Dục thức tam nguyên vạn pháp tông, tiên quan đế tải dữ thần công.
Dịch: Muốn biết gốc của muôn phép trong ba nguyên (trời, đất, người), trước hết hãy xem cái chở che của trời và cái công hoá sinh của thần. — Trích Thiên Tủy, câu mở đầu
Bình: câu mở của Trích Thiên Tủy nói về vũ trụ trước khi nói về con người. Ý là tám chữ của một người chỉ có nghĩa khi đặt trong vòng khí của trời đất: mùa nào, khí nào đang vượng. Đó cũng là lý do môn này bám vào tiết khí chứ không bám vào lịch trăng. Ở đầu kia của lịch sử, văn bia Hàn Dũ viết cho Lý Hư Trung, đại ý, đã nói tới chuyện "xét sinh khắc, vượng suy" của can chi ngày sinh: ý cân lực có từ trước khi Tử Bình thành môn.
Đọc cho đúng mức
- Bát Tự không được kiểm chứng theo nghĩa khoa học. Không có nghiên cứu đối chứng nào cho thấy tám chữ dự báo được sự kiện đời người tốt hơn may rủi. Site coi đây là một hệ tri thức văn hoá có logic nội tại chặt chẽ, đáng học để hiểu, không phải công cụ quyết định thay người. Bài huyền học có phải khoa học không bàn kỹ hơn.
- Có khoảng nửa triệu tổ hợp tứ trụ (60 trụ năm × 12 trụ tháng × 60 trụ ngày × 12 trụ giờ = 518.400). Ở một nước cỡ trăm triệu dân, mỗi khung hai tiếng có hàng trăm trẻ chào đời cùng tám chữ. Bát Tự tự nó không phân biệt được những người ấy; giới tính (cho chiều đại vận), nơi sinh, gia đình, lựa chọn của mỗi người làm nên phần còn lại.
- Các phái bất đồng thật sự ở nhiều điểm: dụng thần theo cách cục hay theo cân bằng, Trường Sinh của can âm, giờ Tý đêm, giờ mặt trời thật. Một bài viết tự tin trình bày một cách duy nhất là đang giản lược.
- Sách cổ viết cho xã hội phụ hệ; nhiều câu về vợ chồng, con cái nên đọc như sử liệu, không như lời phán.
Việc nên làm
- Lấy giấy chứng sinh, ghi giờ phút, nơi sinh. Người sinh miền Nam 1960 – 1975 lưu ý múi giờ +8 thời đó.
- Lập tứ trụ theo bài cách lập, kiểm bằng hai nguồn, nhất là khi sinh gần Lập Xuân hoặc gần đầu một tháng tiết.
- Đọc theo thứ tự: nhật chủ, thập thần, thân vượng nhược, dụng thần, rồi mới đến đại vận và lưu niên.
- Ghi lại từng bước kèm lý do. Bát Tự đọc đúng là một chuỗi lập luận, không phải một câu phán.
Xem lá số tử vi của chính bạn
Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.
Lập lá số miễn phíNguồn tham khảo
- Hàn Dũ — văn bia mộ Điện trung thị ngự sử Lý quân (Lý Hư Trung), về phép đoán theo năm, tháng, ngày sinh (đại ý).
- Uyên Hải Tử Bình — bộ khung nhật chủ, thập thần, cách cục, đại vận (đại ý).
- Vạn Dân Anh — Tam Mệnh Thông Hội, đời Minh (đại ý).
- Trích Thiên Tủy — câu mở đầu (nguyên văn); bản chú Trích Thiên Tủy Xiển Vi của Nhâm Thiết Tiều.
- Thẩm Hiếu Chiêm — Tử Bình Chân Thuyên; bản bình chú của Từ Lạc Ngô.
- Cùng Thông Bảo Giám (gốc Lan Giang Võng, Dư Xuân Đài biên tập).
- Tứ trụ ví dụ lập bằng bộ máy âm lịch của aihuyenhoc.com (`app/Core/TuVi/AmLich.php`), đối chiếu với thư viện lịch lunar-javascript.
Câu hỏi thường gặp
Tứ Trụ và Bát Tự có khác nhau không?
Không. Tứ Trụ (bốn cột) và Bát Tự (tám chữ) là hai cách gọi cùng một thứ: bốn cặp can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh. Tử Bình là tên môn học đọc bốn trụ ấy.
Vì sao gọi là Tử Bình?
Vì Tử Bình là tên chữ của Từ Cư Dịch, người theo truyền thống đã đặt phép lấy can ngày làm chủ. Cách giải "tử bình là mặt nước phẳng, tức cân bằng" là cách giải dân gian về sau.
Không biết giờ sinh có xem Bát Tự được không?
Được một phần, gọi là tam trụ: còn năm, tháng, ngày, mất trụ giờ. Nhật chủ và nguyệt lệnh vẫn còn nên phần cân lực vẫn làm được, nhưng mất một phần tư dữ liệu và phần đọc về con cái, tuổi già.
Bát Tự hay Tử Vi chính xác hơn?
Hai môn đọc theo hai hệ khác nhau nên không so được bằng một thước đo. Bát Tự mạnh ở cán cân và nhịp vận; Tử Vi mạnh ở chi tiết từng mặt đời sống theo cung.
Học Bát Tự nên bắt đầu từ đâu?
Từ việc tự lập được tứ trụ của mình bằng tay và hiểu vì sao năm đổi ở Lập Xuân. Sau đó học thập thần, rồi cân thân vượng nhược; dụng thần và đại vận để sau cùng.
Nguồn tham khảo: Hàn Dũ — văn bia mộ Điện trung thị ngự sử Lý quân (Lý Hư Trung) · Uyên Hải Tử Bình · Tam Mệnh Thông Hội — Vạn Dân Anh · Trích Thiên Tủy — câu mở đầu · Tử Bình Chân Thuyên — Thẩm Hiếu Chiêm · Cùng Thông Bảo Giám (Lan Giang Võng), Dư Xuân Đài biên tập · Bộ máy âm lịch của aihuyenhoc.com và thư viện lunar-javascript — lập và đối chiếu tứ trụ ví dụ