Nhật chủ Nhâm Thủy: sông lớn, biển cả, tính phóng khoáng và vì sao cần Mậu làm đê
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 11 phút đọc
Nhật chủ Nhâm Thủy là người sinh ngày can Nhâm, dương Thủy, hình tượng sông lớn, biển cả, dòng chảy không ngừng. Trích Thiên Tủy tả Nhâm "thông với sông trời, rút được khí Kim", cứng ở trong, chảy khắp không đọng. Sông lớn cần bờ: Mậu thổ là đê, tuy là Thất Sát của Nhâm. Có gốc dày lại lộ Quý thì nước dâng thành lũ.
Tám câu về Nhâm, đọc từng cặp
Nhâm thủy thông hà, năng tiết kim khí. Cương trung chi đức, chu lưu bất trệ. Thông căn thấu Quý, xung thiên bôn địa. Hoá tắc hữu tình, tòng tắc tương tế.
"Nhâm thủy thông hà, năng tiết kim khí": nước Nhâm thông với sông Ngân, rút được khí Kim. "Hà" ở đây là Thiên Hà. Lời chú của Nhâm Thiết Tiều, đại ý, giải rằng Nhâm trường sinh tại Thân, Thân ở phương Khôn (Tây Nam), coi như cửa sông trời. Câu sau là chỉ dẫn kỹ thuật: Kim sinh Thủy, nên Nhâm là lối thoát cho Kim quá mạnh. Lá số Kim vượng mà có Nhâm thì Kim không còn cứng đọng.
"Cương trung chi đức, chu lưu bất trệ": có đức cứng ở giữa, chảy khắp không đọng. "Cương trung" gợi quẻ Khảm (☵): một hào dương nằm giữa hai hào âm, ngoài mềm trong cứng. Thoán truyện quẻ Khảm, đại ý, khen nước "chảy mà không đầy, đi qua chỗ hiểm mà không mất lòng tin" (xem quẻ Thuần Khảm). Nhâm là nước có hướng, có sức, không phải vũng đọng.
"Thông căn thấu Quý, xung thiên bôn địa": có gốc ở dưới lại lộ Quý lên trên, thì ngập trời tràn đất. Gốc của Nhâm là Hợi, Tý, Thân (và Thìn, Sửu là kho nước). Nhâm đã có gốc mà Quý (Kiếp Tài) còn lộ ra cùng, nước thành lũ. Đây là lời cảnh báo về thái quá, cùng kiểu với câu "Giáp đến thì cháy rụi" ở đoạn Bính.
"Hoá tắc hữu tình, tòng tắc tương tế": hoá thì có tình, tòng thì giúp nhau. "Hoá" là Đinh Nhâm hợp hoá Mộc: Đinh là Chính Tài của Nhâm, cặp hợp này sách gọi là có tình. "Tòng" là khi Nhâm yếu, không gốc, đành theo thế Tài, Quan mạnh trong lá số: nước theo dòng của đất, của lửa, mà vẫn tương trợ. Hai câu này mở sang ngoại cách, bàn ở bài ngoại cách Bát Tự.
Vì sao sông cần đê: Mậu là Sát mà là chữ quý
Mậu là dương Thổ, khắc dương Thủy Nhâm: theo thập thần là Thất Sát, thần áp lực mạnh nhất. Vậy mà Cùng Thông Bảo Giám, đại ý, đặt Mậu lên đầu cho Nhâm ở những tháng nước vượng, nhất là mùa đông, đi kèm Bính sưởi. Hình ảnh rất đời: sông lớn không đê thì tràn bờ; có đê thì thành dòng chảy có ích, tưới được ruộng, chạy được thuyền.
Ba điểm để đọc cho đúng:
- Chỉ Nhâm mạnh mới cần đê. Nhâm sinh mùa đông, có gốc, đó là lúc Mậu quý. Nhâm sinh mùa hạ, nước đang cạn, lại gặp Mậu dày, thì là Sát công thân: lúc ấy cần Canh, Tân (Ấn) làm nguồn nước, hoặc Giáp (Thực Thần) chế Mậu. Bàn kỹ ở bài Chính Quan, Thất Sát.
- Đê phải là Mậu, không phải Kỷ. Kỷ là đất ẩm, gặp nước lớn thì thành bùn, sách gọi là "Kỷ thổ trọc Nhâm", làm đục nước mà không chặn được. Đây là chi tiết người trong nghề hay dùng để tách Mậu và Kỷ khi đọc lá số Nhâm.
- Mùa đông đê đi với nắng. Nước đông lạnh, có đê mà không có Bính thì là nước tù, lạnh. Cặp Mậu – Bính là cặp quen thuộc nhất của Nhâm mùa đông.
Nhâm qua bốn mùa
| Mùa sinh | Lệnh của Thủy | Thế của Nhâm | Đại ý điều hậu (Cùng Thông Bảo Giám) |
|---|---|---|---|
| Xuân (Dần, Mão, Thìn) | hưu | nước tiết sang Mộc | Canh, Tân làm nguồn; Mậu khi có gốc; tháng Thìn Giáp |
| Hạ (Tỵ, Ngọ, Mùi) | tù | nước cạn dưới nắng | Quý, Canh, Tân: cần nguồn trước hết |
| Thu (Thân, Dậu, Tuất) | tướng | Kim sinh, nước đầy | Mậu, Đinh; tháng Tuất Giáp |
| Đông (Hợi, Tý, Sửu) | vượng | nước lớn, lạnh | Mậu làm đê, Bính sưởi |
Đọc bảng sẽ thấy câu "cần Mậu làm đê" thật ra thuộc về nửa năm thu đông. Nửa năm xuân hạ, Nhâm cần nguồn (Kim) hơn cần đê. Chi tiết theo tháng ở bài điều hậu.
Sáu ngày Nhâm
Bảng tính bằng bộ máy của site. Nhâm là dương can, vòng trường sinh đi thuận, trường sinh tại Thân.
| Nhật trụ | Tàng can và thần của nó với Nhâm | Vòng trường sinh | Nạp âm |
|---|---|---|---|
| Nhâm Tý | Quý Kiếp Tài | Đế Vượng (Dương Nhận) | Tang Đố Mộc |
| Nhâm Dần | Giáp Thực Thần, Bính Thiên Tài, Mậu Thất Sát | Bệnh | Kim Bạch Kim |
| Nhâm Thìn | Mậu Thất Sát, Ất Thương Quan, Quý Kiếp Tài | Mộ | Trường Lưu Thủy |
| Nhâm Ngọ | Đinh Chính Tài, Kỷ Chính Quan | Thai | Dương Liễu Mộc |
| Nhâm Thân | Canh Thiên Ấn, Nhâm Tỷ Kiên, Mậu Thất Sát | Trường Sinh | Kiếm Phong Kim |
| Nhâm Tuất | Mậu Thất Sát, Tân Chính Ấn, Đinh Chính Tài | Quan Đới | Đại Hải Thủy |
- Nhâm Tý ngồi trên Dương Nhận (Tý là Nhận của Nhâm): gốc mạnh nhất, nước dồn về một chỗ. Tử Bình Chân Thuyên, đại ý, cho Dương Nhận cần Quan Sát chế; với Nhâm Tý, Mậu là chữ được tìm đầu tiên.
- Nhâm Ngọ ngồi trên Chính Tài và Chính Quan (Đinh, Kỷ). Sách cũ gọi ngày này là "lộc mã đồng hương", Tài và Quan cùng một quê. Nước ngồi trên lửa, Nhâm cần gốc ở trụ khác mới gánh được.
- Nhâm Thân ngồi trên Trường Sinh, có Ấn Canh, Tỷ Nhâm, Sát Mậu: nguồn, sức, đê đều đủ trong một chi.
- Nhâm Thìn là ngày Khôi Cương (cùng Canh Thìn, Canh Tuất, Mậu Tuất theo Tam Mệnh Thông Hội). Thìn là kho nước, có Mậu Sát làm bản khí: nước nằm trong đê của chính mình.
- Nhâm Dần ngồi trên Thực Thần Giáp: nước nuôi cây, khí tiết ra. Có cả Bính Tài và Mậu Sát trong chi, một chỗ ngồi nhiều việc.
- Nhâm Tuất ngồi trên đất khô có Mậu Sát, Đinh Tài, Tân Ấn: Sát, Tài, Ấn cùng chỗ. Nạp âm Đại Hải Thủy, nhưng tàng can lại toàn Thổ, Hỏa, Kim, không có Thủy; hai lớp đọc rất khác nhau.
Ví dụ: sông mùa đông có đê, có nắng, và cái xung ở chỗ ngồi
Người nam sinh 16 giờ ngày 11/12/1996. Tứ trụ tính bằng bộ máy của site:
| Năm | Tháng | Ngày | Giờ | |
|---|---|---|---|---|
| Can | Bính (Thiên Tài) | Canh (Thiên Ấn) | Nhâm | Mậu (Thất Sát) |
| Chi | Tý | Tý | Ngọ | Thân |
| Tàng can | Quý | Quý | Đinh, Kỷ | Canh, Nhâm, Mậu |
- Mùa và gốc: tháng Tý, Thủy đắc lệnh; Tý năm, Tý tháng đều là Dương Nhận của Nhâm; Thân giờ với Tý bán hợp Thủy. Máy cân Thủy 48%. Nước lớn, đúng thế "thông căn". Chỉ còn thiếu Quý lộ là đủ câu "xung thiên bôn địa".
- Đê: Mậu lộ ở giờ, đúng chữ Cùng Thông Bảo Giám gọi cho Nhâm mùa đông.
- Nắng: Bính lộ ở năm. Cặp Mậu – Bính có đủ trên can.
- Chỗ vướng: Bính năm xung Nhâm ngày (can xung), Tý năm và Tý tháng cùng xung Ngọ ngày. Ngọ là chỗ ngồi, chứa Đinh Tài, Kỷ Quan, cũng là nơi duy nhất có Hỏa có gốc. Hai lần xung dồn vào cung phu thê.
Máy chấm sơ bộ "thân vượng". Lá số Nhâm vượng mùa đông, có đủ đê và nắng trên can: hướng đọc là Mậu (Sát chế Nhận) và Bính, Đinh (Tài) cùng làm dụng, đúng mẫu "Dương Nhận gặp Sát". Đại vận thuận (dương nam). Giai đoạn 2025 – 2035 là vận Quý Mão: Quý lộ lên ở vận, gặp Nhâm có gốc dày, thành thế "thông căn thấu Quý" mà đoạn thơ cảnh báo, nhưng Mão là Thương Quan, có lối tiết. Năm 2026 Bính Ngọ xung cả Tý năm, Tý tháng và xung nhật can. Năm 2027 Đinh Mùi: Đinh hợp Nhâm nhật chủ ("hoá tắc hữu tình"), Mùi lục hợp Ngọ ngày, Mùi là Chính Quan, thêm một lớp đê; cùng lúc Mùi hại hai chữ Tý ở năm và tháng, nên chỗ hợp ở cung phu thê đi kèm chút kéo co với gốc nước. Sau một năm xung là một năm hợp nhiều hơn xung: kiểu nhịp mà người đọc lá số nên ghi lại để sắp việc.
Đinh Nhâm hợp, Nhâm gặp Bính
- Đinh Nhâm hợp, theo lý hoá Mộc. Đinh là Chính Tài của Nhâm. "Hoá tắc hữu tình": cặp này được coi là hợp có tình nhất trong năm cặp, nhiều sách gắn với chuyện duyên, với tài sản đến qua quan hệ. Hoá Mộc thật cần sinh tháng Mộc, Nhâm không gốc, không có Canh Tân phá; phần nhiều chỉ là ràng buộc. Có hai Nhâm cùng hợp một Đinh là tranh hợp.
- Nhâm gặp Bính là can xung (dương Thủy, dương Hỏa đối đầu). Bính là Thiên Tài của Nhâm. Nhâm vượng gặp Bính là "mặt trời trên sông", đẹp; Nhâm yếu gặp Bính dày là nước cạn. Bài nhật chủ Bính Hỏa nhìn cùng cặp này từ phía Bính.
Tính nết và nghề: đọc như xu hướng
Từ hình tượng sông lớn, các thầy hay gán cho Nhâm: phóng khoáng, thông minh, linh hoạt, thích đi, thích mở rộng, giỏi kết nối, có sức chứa, ứng biến nhanh. Điểm cần giữ: khó dừng, dễ dàn trải, thiếu kiên nhẫn với việc lặp đi lặp lại, và với Nhâm quá vượng thì là sự bốc đồng, cuốn người khác theo mình.
Hình ảnh "cần đê" dùng được cho đời thường: nhiều người Nhâm làm tốt nhất khi có khuôn khổ rõ, có kỷ luật, có hạn chót, tức có Mậu. Nhưng chọn nghề vẫn theo dụng thần: Nhâm vượng cần Mậu thì môi trường có quy phạm, có trách nhiệm lớn; Nhâm cần Tài Hỏa thì việc kinh doanh, giao thương; Nhâm mùa hạ cần Kim thì môi trường học thuật, chuyên môn sâu. Bảng hành và ngành ở bài Bát Tự và nghề nghiệp.
Năm Đinh Mùi 2027 với nhật chủ Nhâm
Nhật chủ hợp can năm: Đinh là Chính Tài, đến gắn với Nhâm. Mùi là Chính Quan, Thổ khô chặn nước. Tài và Quan cùng đến: Nhâm vượng thì là năm có việc, có trách nhiệm xứng sức, thêm đê cho sông; Nhâm nhược thì là năm nặng vai, nên bớt nhận việc mới. Chi ngày Tý gặp Mùi là lục hại, chi ngày Ngọ gặp Mùi là lục hợp. Bảng đủ mười nhật chủ ở bài lưu niên Bát Tự 2027.
Sách cổ nói gì
Nhâm thủy thông hà, năng tiết kim khí. Cương trung chi đức, chu lưu bất trệ.
Dịch: Nước Nhâm thông với sông trời, rút được khí Kim. Có đức cứng ở giữa, chảy khắp không đọng. — Trích Thiên Tủy, thiên Thiên can
Thông căn thấu Quý, xung thiên bôn địa. Hoá tắc hữu tình, tòng tắc tương tế.
Dịch: Có gốc lại lộ Quý thì ngập trời tràn đất. Hoá thì có tình, tòng thì giúp nhau. — Trích Thiên Tủy, thiên Thiên can
Bình: đoạn Nhâm cho cả hai đầu của một dòng nước: bốn câu đầu là nước lành (tiết Kim, chảy không đọng), hai câu giữa là nước dữ (lũ), hai câu cuối là nước biết nhường (hoá, tòng). Bài học cho người đọc lá số: cùng một Nhâm, có thể là dòng sông, là lũ, hay là nước theo dòng, tuỳ gốc và tuỳ chữ đứng cạnh. Văn bản Trích Thiên Tủy theo truyền thống gắn với Kinh Đồ, lời chú tương truyền của Lưu Bá Ôn; bản dùng rộng rãi nhất là bản Nhâm Thiết Tiều chú đời Thanh. Cách giải "hà là Thiên Hà, cửa ở Thân" theo lời chú ấy.
Đọc cho đúng mức
- "Nhâm cần Mậu" chỉ đúng với Nhâm mạnh, chủ yếu mùa thu đông. Nhâm mùa hạ, nước cạn, cần nguồn Kim trước.
- Mậu là Thất Sát; gọi Sát là "chữ quý" chỉ khi thân đủ sức gánh. Đọc sai chiều này là lỗi lớn.
- "Lộc mã đồng hương", Khôi Cương là những tên gọi cũ cho một số ngày, mang tính thần sát; nên đọc sau khi đã cân lực.
- Nạp âm và tàng can có thể nói hai chuyện khác nhau (Nhâm Tuất là Đại Hải Thủy mà không tàng Thủy). Bát Tự hiện đại cân lực theo tàng can.
- Hình tượng "sông lớn" là ẩn dụ chung cho một phần mười dân số.
Việc nên làm
- Xác định Nhâm của mình sinh mùa nào, có gốc ở Hợi, Tý, Thân, Thìn không, có Quý lộ cùng không.
- Mùa thu đông tìm Mậu và Bính; mùa xuân hạ tìm Canh, Tân, Quý.
- Thấy Đinh thì xem có hợp nhật chủ không, có Nhâm khác tranh không; thấy Bính thì xem Nhâm đủ sức chưa.
- Cân lực ở bài thân vượng thân nhược, rồi mới đọc năm 2027.
Bốn trụ năm tháng ngày giờ theo tiết khí, Thập Thần, ngũ hành vượng suy.✨ Dùng thử
Nguồn tham khảo
- Trích Thiên Tủy — thiên Thiên can, đoạn Nhâm thủy (tám câu, nguyên văn); bản chú Trích Thiên Tủy Xiển Vi của Nhâm Thiết Tiều (đại ý: hà là Thiên Hà, Nhâm sinh ở Thân).
- Cùng Thông Bảo Giám — phần Nhâm thủy theo mười hai tháng (đại ý, gộp theo mùa); bản lưu hành do Dư Xuân Đài chỉnh lý đời Thanh.
- Chu Dịch — quẻ Khảm, Thoán truyện (đại ý).
- Thẩm Hiếu Chiêm — Tử Bình Chân Thuyên, phần bàn Thất Sát và Dương Nhận (đại ý).
- Vạn Dân Anh — Tam Mệnh Thông Hội, mục Khôi Cương (đại ý).
- Tứ trụ, ngũ hành và đại vận của lá số ví dụ: bộ máy Bát Tự của aihuyenhoc.com (`app/Core/CongCu/BatTu.php`).
Câu hỏi thường gặp
Nhật chủ Nhâm Thủy là gì?
Là người sinh ngày can Nhâm, dương Thủy, hình tượng sông lớn, biển cả. Với Nhâm, Mậu là Thất Sát, Kỷ là Chính Quan, Đinh là Chính Tài, Bính là Thiên Tài, Canh Tân là Ấn.
Vì sao Nhâm thủy cần Mậu thổ làm đê?
Nước lớn không bờ thì tràn; có đê mới thành dòng có ích. Cùng Thông Bảo Giám đặt Mậu lên đầu cho Nhâm mùa đông, kèm Bính sưởi. Điều này chỉ đúng khi Nhâm đủ mạnh.
"Thông căn thấu Quý" là gì?
Là Nhâm có gốc ở các chi nước (Hợi, Tý, Thân) lại có Quý lộ trên can. Nước khi ấy quá mạnh, Trích Thiên Tủy tả là ngập trời tràn đất; lá số cần Mậu chặn hoặc Mộc tiết.
Ngày Nhâm Ngọ có gì đặc biệt?
Nhâm Ngọ ngồi trên Đinh Chính Tài và Kỷ Chính Quan, sách cũ gọi là lộc mã đồng hương. Nước ngồi trên lửa, nên Nhâm cần gốc ở trụ khác mới gánh được Tài Quan ấy.
Năm 2027 người Nhâm Thủy cần lưu ý gì?
Đinh hợp nhật chủ, là Chính Tài; Mùi là Chính Quan. Nhâm vượng thì là năm có việc xứng sức, Nhâm nhược thì nên bớt nhận thêm. Chi ngày Tý gặp Mùi là hại, chi ngày Ngọ gặp Mùi là hợp.
Nguồn tham khảo: Trích Thiên Tủy — thiên Thiên can, đoạn Nhâm thủy · Trích Thiên Tủy Xiển Vi — Nhâm Thiết Tiều chú · Cùng Thông Bảo Giám (Lan Giang Võng, Dư Xuân Đài chỉnh lý) — Nhâm thủy theo mười hai tháng · Chu Dịch — quẻ Khảm, Thoán truyện · Tử Bình Chân Thuyên — Thẩm Hiếu Chiêm — Luận Thiên Quan (Thất Sát), Luận Dương Nhận · Bộ máy Bát Tự của aihuyenhoc.com (app/Core/CongCu/BatTu.php)