24 sơn hướng: bốn quẻ, tám can (bỏ Mậu Kỷ), mười hai chi và độ số từng sơn
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 6 phút đọc
24 sơn hướng là cách chia vòng tròn 360 độ của la kinh thành 24 phần, mỗi phần 15 độ, gọi là một "sơn". Hai mươi bốn sơn gồm 12 địa chi, 8 thiên can (bỏ Mậu, Kỷ) và 4 quẻ Càn, Khôn, Cấn, Tốn. Nhà tọa ở sơn nào thì hướng ở sơn đối diện, cách đúng 180 độ.
🧭Hướng nhà Bát TrạchCung phi chủ nhà, tám phương cát hung, đặt cửa – bếp – giường.✨ Dùng thử
Vì sao là 12 + 8 + 4, không phải 8 + 10 + 12
Nhiều tài liệu viết "24 sơn gồm bát quái, thập can, thập nhị chi". Cộng lại thì ra 30, không phải 24. Con số đúng là:
- 12 địa chi đủ cả: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
- 8 thiên can: bỏ Mậu và Kỷ. Hai can này thuộc Thổ, mà Thổ ở trung cung, không có phương nào ngoài vòng tròn.
- 4 quẻ: chỉ dùng bốn quẻ ở bốn góc là Càn, Khôn, Cấn, Tốn. Bốn quẻ chính là Khảm, Ly, Chấn, Đoài nằm đúng Bắc, Nam, Đông, Tây — nhưng chỗ đó đã có Tý, Ngọ, Mão, Dậu chiếm, nên không xuất hiện bằng tên quẻ.
Bố cục có quy luật dễ nhớ. Ở bốn phương chính, chi đứng giữa, hai can cùng hành đứng hai bên: phương Bắc là Nhâm – Tý – Quý (đều Thủy), phương Đông là Giáp – Mão – Ất (đều Mộc), phương Nam là Bính – Ngọ – Đinh (đều Hỏa), phương Tây là Canh – Dậu – Tân (đều Kim). Ở bốn góc, quẻ đứng giữa, hai chi đứng hai bên: Sửu – Cấn – Dần, Thìn – Tốn – Tỵ, Mùi – Khôn – Thân, Tuất – Càn – Hợi. Mỗi quẻ hậu thiên chiếm 45 độ, chứa đúng 3 sơn.
Bảng độ số 24 sơn
Độ tính theo vòng chính châm (địa bàn), 0 độ là chính Bắc, tăng theo chiều kim đồng hồ. Bảng tính bằng máy (mỗi sơn 15 độ, Tý lấy 0 độ làm giữa), rồi đối chiếu lại tay theo quy luật trên.
| Sơn | Thuộc quẻ | Từ | Giữa | Đến | Hướng đối khi tọa sơn này |
|---|---|---|---|---|---|
| Nhâm | Khảm (Bắc) | 337,5 | 345 | 352,5 | Bính |
| Tý | Khảm (Bắc) | 352,5 | 0 | 7,5 | Ngọ |
| Quý | Khảm (Bắc) | 7,5 | 15 | 22,5 | Đinh |
| Sửu | Cấn (Đông Bắc) | 22,5 | 30 | 37,5 | Mùi |
| Cấn | Cấn (Đông Bắc) | 37,5 | 45 | 52,5 | Khôn |
| Dần | Cấn (Đông Bắc) | 52,5 | 60 | 67,5 | Thân |
| Giáp | Chấn (Đông) | 67,5 | 75 | 82,5 | Canh |
| Mão | Chấn (Đông) | 82,5 | 90 | 97,5 | Dậu |
| Ất | Chấn (Đông) | 97,5 | 105 | 112,5 | Tân |
| Thìn | Tốn (Đông Nam) | 112,5 | 120 | 127,5 | Tuất |
| Tốn | Tốn (Đông Nam) | 127,5 | 135 | 142,5 | Càn |
| Tỵ | Tốn (Đông Nam) | 142,5 | 150 | 157,5 | Hợi |
| Bính | Ly (Nam) | 157,5 | 165 | 172,5 | Nhâm |
| Ngọ | Ly (Nam) | 172,5 | 180 | 187,5 | Tý |
| Đinh | Ly (Nam) | 187,5 | 195 | 202,5 | Quý |
| Mùi | Khôn (Tây Nam) | 202,5 | 210 | 217,5 | Sửu |
| Khôn | Khôn (Tây Nam) | 217,5 | 225 | 232,5 | Cấn |
| Thân | Khôn (Tây Nam) | 232,5 | 240 | 247,5 | Dần |
| Canh | Đoài (Tây) | 247,5 | 255 | 262,5 | Giáp |
| Dậu | Đoài (Tây) | 262,5 | 270 | 277,5 | Mão |
| Tân | Đoài (Tây) | 277,5 | 285 | 292,5 | Ất |
| Tuất | Càn (Tây Bắc) | 292,5 | 300 | 307,5 | Thìn |
| Càn | Càn (Tây Bắc) | 307,5 | 315 | 322,5 | Tốn |
| Hợi | Càn (Tây Bắc) | 322,5 | 330 | 337,5 | Tỵ |
Bảng thuộc tính: ngũ hành, tam nguyên long, âm dương
Mỗi quẻ có 3 sơn, xếp theo thứ tự chiều kim đồng hồ là địa nguyên long, thiên nguyên long, nhân nguyên long. Cột âm dương là cách phân của phái Huyền Không (Tam Nguyên): ở bốn quẻ chính, sơn địa nguyên là dương, hai sơn kia là âm; ở bốn quẻ góc thì ngược lại, sơn địa nguyên là âm, hai sơn kia là dương. Cột tiết khí là cách phối thường gặp trên tầng tiết khí của la kinh.
| Sơn | Ngũ hành | Nguyên long | Âm dương (Huyền Không) | Tiết khí phối |
|---|---|---|---|---|
| Nhâm | Thủy | Địa | Dương | Đại Tuyết |
| Tý | Thủy | Thiên | Âm | Đông Chí |
| Quý | Thủy | Nhân | Âm | Tiểu Hàn |
| Sửu | Thổ | Địa | Âm | Đại Hàn |
| Cấn | Thổ | Thiên | Dương | Lập Xuân |
| Dần | Mộc | Nhân | Dương | Vũ Thủy |
| Giáp | Mộc | Địa | Dương | Kinh Trập |
| Mão | Mộc | Thiên | Âm | Xuân Phân |
| Ất | Mộc | Nhân | Âm | Thanh Minh |
| Thìn | Thổ | Địa | Âm | Cốc Vũ |
| Tốn | Mộc | Thiên | Dương | Lập Hạ |
| Tỵ | Hỏa | Nhân | Dương | Tiểu Mãn |
| Bính | Hỏa | Địa | Dương | Mang Chủng |
| Ngọ | Hỏa | Thiên | Âm | Hạ Chí |
| Đinh | Hỏa | Nhân | Âm | Tiểu Thử |
| Mùi | Thổ | Địa | Âm | Đại Thử |
| Khôn | Thổ | Thiên | Dương | Lập Thu |
| Thân | Kim | Nhân | Dương | Xử Thử |
| Canh | Kim | Địa | Dương | Bạch Lộ |
| Dậu | Kim | Thiên | Âm | Thu Phân |
| Tân | Kim | Nhân | Âm | Hàn Lộ |
| Tuất | Thổ | Địa | Âm | Sương Giáng |
| Càn | Kim | Thiên | Dương | Lập Đông |
| Hợi | Thủy | Nhân | Dương | Tiểu Tuyết |
Một sơn và sơn đối diện luôn cùng nguyên long và cùng âm dương (Tý – Ngọ đều thiên nguyên, đều âm; Cấn – Khôn đều thiên nguyên, đều dương). Đây là lý do phái Huyền Không coi một cặp tọa – hướng là một đơn vị khi lập tinh bàn.
Cách tra cho một căn nhà
- Đo hướng mặt tiền (hướng nhìn ra) bằng la kinh, hoặc điện thoại đã hiệu chỉnh; đo ba lần ở ba điểm, lấy số giữa. Cách đo kỹ có ở bài đo hướng nhà bằng điện thoại.
- Dò bảng độ số: số đo rơi vào khoảng nào thì đó là sơn của hướng.
- Sơn đối diện là sơn tọa. Gọi tên theo lối "tọa … hướng …".
Ví dụ: mặt tiền đo được 200 độ. Số này nằm trong khoảng 187,5 – 202,5, là sơn Đinh. Nhà này tọa Quý hướng Đinh.
Ví dụ thứ hai: đo được 171 độ, trong khoảng của Bính (157,5 – 172,5), nhưng chỉ cách ranh giới với Ngọ 1,5 độ. Nhà gần ranh giới hai sơn như vậy, phái Huyền Không gọi là kiêm hướng và tính bằng phép thế quái, không tính như nhà chính hướng; các phái đặt ngưỡng khác nhau. Xem bài Thế quái (kiêm hướng) và đại không vong, tiểu không vong trước khi kết luận về nhà nằm sát ranh giới.
Sách cổ nói gì
Khôn Nhâm Ất, Cự Môn tòng đầu xuất; Cấn Bính Tân, vị vị thị Phá Quân; Tốn Thìn Hợi, tận thị Vũ Khúc vị; Giáp Quý Thân, Tham Lang nhất lộ hành.
Khôn, Nhâm, Ất: Cự Môn từ đầu mà ra; Cấn, Bính, Tân: chỗ nào cũng là Phá Quân; Tốn, Thìn, Hợi: thảy là ngôi Vũ Khúc; Giáp, Quý, Thân: Tham Lang một đường mà đi. — Thanh Nang Áo Ngữ, câu mở đầu
Bình: đây là câu nổi tiếng nhất và cũng bị giải khác nhau nhiều nhất của phái Tam Nguyên. Điều đọc ra được ngay từ mặt chữ: 24 sơn được đối xử như một hệ đồng đều — mỗi nhóm ba sơn trộn lẫn quẻ, can và chi ở ba phương khác nhau. Quẻ không "cao" hơn can, can không "cao" hơn chi; đó chính là ý nghĩa của việc gộp tất cả vào một vòng 24. Các cách giải nhóm sao trong câu này thuộc bài Thanh Nang Kinh và Thanh Nang Áo Ngữ.
Đọc cho đúng mức
Bảng âm dương ở trên là của phái Huyền Không. Các sách thuộc dòng Tam Hợp thường dùng cách phân âm dương khác (Tịnh Âm Tịnh Dương theo nạp giáp) và ghép sơn thành 12 cặp "song sơn" như Nhâm Tý, Quý Sửu, Cấn Dần. Phái Bát Trạch chỉ dùng tám quẻ, không cần phân 24 sơn. Đừng lấy cột âm dương của bảng này để tính theo sách Tam Hợp. So sánh hai dòng ở bài Phái Tam Hợp.
Trên la kinh còn có hai vòng 24 sơn nữa, lệch nửa sơn (7,5 độ) về hai phía so với vòng chính châm, do phái Tam Hợp dùng để xét sa và xét thủy. Bảng ở đây là vòng chính châm, vòng mà Huyền Không và việc xác định tọa hướng nhà dùng. Xem bài ba vòng 24 sơn trên la kinh.
Sai số đo mới là chỗ dễ hỏng nhất. Mỗi sơn chỉ rộng 15 độ; đo lệch 5 độ do đứng sát xe máy, khung thép là đổi sang sơn khác, kéo theo cả tinh bàn khác.
Việc nên làm
- Ghi số độ đo được, đừng chỉ ghi "hướng Nam" — "Nam" trải ba sơn Bính, Ngọ, Đinh.
- Nhà cách ranh giới hai sơn dưới vài độ thì đo lại ở nhiều điểm, và nói rõ điều đó khi hỏi thầy.
- Muốn đọc tiếp theo thời gian (vận 9, năm 2027) thì đi sang bài Lập tinh bàn.
Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?
Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.
Xem lịch các thầyNguồn tham khảo
- Thanh Nang Áo Ngữ, gắn tên Dương Quân Tùng — câu mở đầu.
- Thẩm Trúc Nhưng — Thẩm Thị Huyền Không Học (đầu thế kỷ hai mươi), phần tam nguyên long và âm dương 24 sơn.
- Kinh Dịch — Thuyết Quái truyện, phương vị tám quẻ hậu thiên.
Câu hỏi thường gặp
24 sơn gồm những gì?
Mười hai địa chi, tám thiên can (không có Mậu, Kỷ) và bốn quẻ Càn, Khôn, Cấn, Tốn; mỗi sơn rộng 15 độ.
Vì sao không có Mậu và Kỷ?
Mậu, Kỷ thuộc Thổ, mà Thổ ở trung cung, không ứng với phương nào trên vòng tròn tám hướng.
Hướng Nam là sơn nào?
Phương Nam gồm ba sơn: Bính (157,5 – 172,5 độ), Ngọ (172,5 – 187,5 độ), Đinh (187,5 – 202,5 độ).
Tọa và hướng khác nhau thế nào?
Hướng là phía mặt nhà nhìn ra, tọa là phía lưng nhà; hai sơn này luôn đối nhau, cách 180 độ.
Nhà nằm sát ranh giới hai sơn thì tính thế nào?
Phái Huyền Không gọi là kiêm hướng và tính bằng phép thế quái; các phái đặt ngưỡng khác nhau, nên đo lại nhiều lần trước khi kết luận.
Nguồn tham khảo: Thanh Nang Áo Ngữ — gắn tên Dương Quân Tùng — câu mở đầu · Thẩm Thị Huyền Không Học — Thẩm Trúc Nhưng · Kinh Dịch — Thuyết Quái truyện (phương vị hậu thiên)