📅 Lịch âm – lịch vạn niên
Lịch tháng âm dương, can chi, tiết khí, ngày hoàng đạo.
tháng Chín âm lịch
Năm Bính Ngọ · ngày hoàng đạo (Minh Đường)Tiết khí: Sương giáng
Giờ hoàng đạo: Sửu (1–3h), Thìn (7–9h), Ngọ (11–13h), Mùi (13–15h), Tuất (19–21h), Hợi (21–23h)
Âm lịch: từ 24 tháng Một đến 24 tháng Chạp năm Bính Ngọ. Bấm vào một ngày để xem giờ tốt, việc nên làm.
Tiết khí trong tháng
- 5/1Tiểu hàn
- 20/1Đại hàn
Lễ, Tết trong tháng
- 1/1Tết Dương lịch (âm 24/11)
- 30/1Ông Công ông Táo (âm 23/12)
Cách đọc tờ lịch này
Mỗi ô là một ngày. Số to là ngày dương lịch, số nhỏ bên dưới là ngày âm lịch tương ứng. Ngày mùng 1 âm được ghi kèm tháng (ví dụ 1/9 là mùng 1 tháng Chín) để bạn biết chỗ chuyển tháng âm; nếu có chữ N là tháng nhuận. Âm lịch không trùng nhịp với dương lịch: một tháng dương thường vắt qua hai tháng âm, và năm nào có tháng nhuận thì năm âm dài mười ba tháng.
Chấm vàng ở góc ô đánh dấu ngày hoàng đạo. Theo phép trực nhật cổ, mười hai vị thần thay nhau trực ngày theo vòng: Thanh Long, Minh Đường, Kim Quỹ, Kim Đường, Ngọc Đường, Tư Mệnh là sáu thần tốt (hoàng đạo); Thiên Hình, Chu Tước, Bạch Hổ, Thiên Lao, Huyền Vũ, Câu Trần là sáu thần xấu (hắc đạo). Hoàng đạo chỉ là một lớp trong việc chọn ngày — muốn làm việc lớn, bạn bấm vào ngày đó để xem thêm trực, sao, tuổi xung và giờ tốt.
Tiết khí là hai mươi bốn mốc trên đường đi của mặt trời, mỗi mốc cách nhau 15 độ, nên rơi vào ngày dương gần như cố định hằng năm (Lập xuân quanh 4/2, Hạ chí quanh 21/6). Nhà nông xưa làm mùa theo tiết khí chứ không theo ngày âm; trong mệnh lý, tiết khí còn là ranh giới tháng của Bát Tự. Ô có chữ xanh là ngày giao tiết — thời khắc mặt trời bước qua mốc rơi vào ngày đó.
Công cụ tính thế nào
Ngày âm được tính bằng thiên văn theo thuật toán của Hồ Ngọc Đức: tìm thời điểm trăng mới (sóc) làm mùng 1, lấy tháng chứa Đông chí làm tháng Một, tháng không chứa trung khí làm tháng nhuận. Lịch Việt Nam tính theo giờ Hà Nội (múi +7) từ năm 1968; trước đó theo múi +8 như lịch Trung Hoa, nên công cụ tự đổi múi theo năm — vì thế Tết năm 1968, 1985 hay 2007 của ta lệch một ngày, có năm lệch cả tháng so với lịch Tàu. Can chi ngày đếm liên tục theo vòng sáu mươi, can chi tháng theo phép Ngũ Hổ Độn từ can năm.
Thần trực ngày xoay theo tháng âm: tháng Giêng và tháng Bảy thần Thanh Long khởi ở ngày Tý, tháng Hai và tháng Tám khởi ở ngày Dần, cứ thế lùi hai chi mỗi tháng. Giờ hoàng đạo ở khung hôm nay dùng chính vòng thần ấy, khởi theo chi của ngày. Lễ âm lịch chỉ ghi ở tháng thường, không lặp lại ở tháng nhuận. Lịch tính được từ năm 1900 đến 2100.