Vì sao Tết Việt và Tết Trung Quốc có năm lệch nhau: múi giờ 105° và 120°

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc

Vì sao Tết Việt và Tết Trung Quốc có năm lệch nhau: múi giờ 105° và 120°

Tết Việt và Tết Trung Quốc thỉnh thoảng lệch nhau vì lịch Việt tính ngày sóc, ngày tiết khí theo giờ Hà Nội (kinh tuyến 105° Đông, múi +7), còn lịch Trung Quốc theo giờ Bắc Kinh (120° Đông, múi +8). Khi điểm sóc hay Đông Chí rơi vào khoảng 23 giờ đến nửa đêm giờ Việt Nam, bên Trung Quốc nó đã sang ngày hôm sau, và Tết có thể lệch một ngày, hiếm hơn là gần một tháng như năm 1985.

Bài này tính lại các năm lệch từ 1968 đến 2053 bằng bộ máy lịch của site ở cả hai múi giờ, giải chi tiết cơ chế của năm 1985, và nói hệ quả thực tế cho những người sinh trong các khoảng lệch ấy. Bảng ngày Tết đầy đủ ở bài ngày Tết các năm.

Một giờ chênh lệch, một ngày mùng Một

Quy tắc đầu tiên của âm lịch là ngày chứa điểm sóc là mùng Một (xem bốn quy tắc lập âm lịch). Điểm sóc là một khoảnh khắc thiên văn, xảy ra cùng lúc cho cả thế giới. Nhưng "ngày" thì phụ thuộc múi giờ.

Giả sử điểm sóc xảy ra lúc 16 giờ 30 giờ quốc tế. Ở Hà Nội lúc đó là 23 giờ 30, vẫn còn trong ngày; ở Bắc Kinh là 0 giờ 30 ngày hôm sau. Hà Nội lấy ngày hôm trước làm mùng Một, Bắc Kinh lấy ngày hôm sau. Cùng một tuần trăng, hai lịch đánh số lệch nhau một ngày.

Điều này chỉ xảy ra khi điểm sóc rơi vào khoảng một giờ ấy: từ 16 giờ đến 17 giờ giờ quốc tế, tức 23 giờ đến nửa đêm giờ Việt Nam. Mỗi tháng có một điểm sóc, nên mỗi năm có khoảng mười hai lần "gieo" vào ô hẹp đó; phần lớn các lần rơi ra ngoài.

Các năm Tết lệch từ 1968 đến 2053

Chúng tôi tính ngày mùng Một Tết từ 1968 (năm miền Bắc chuyển sang múi +7) đến 2053 ở cả hai múi giờ, dùng cùng một thuật toán, chỉ đổi múi. Sáu năm lệch:

NămTết Việt Nam (+7)Tính theo +8Điểm sóc (giờ VN)Lệch
1968 Mậu Thân29/130/123:31 ngày 29/1một ngày
1969 Kỷ Dậu16/217/223:28 ngày 16/2một ngày
1985 Ất Sửu21/120/29:30 ngày 21/1gần một tháng
2007 Đinh Hợi17/218/223:15 ngày 17/2một ngày
2030 Canh Tuất2/23/223:09 ngày 2/2một ngày
2053 Quý Dậu18/219/223:32 ngày 18/2một ngày

Năm trường hợp lệch một ngày đều có cùng một dấu hiệu: điểm sóc đầu năm rơi vào khoảng 23 giờ đêm giờ Việt Nam. Riêng năm 1985 thì điểm sóc rơi lúc 9 giờ rưỡi sáng, không gần nửa đêm chút nào, mà Tết vẫn lệch gần một tháng. Cơ chế của năm ấy khác hẳn.

Giờ sóc trong bảng tính bằng công thức thiên văn rút gọn của thuật toán Hồ Ngọc Đức, sai số cỡ vài phút; với các ca trên, khoảng cách tới nửa đêm đều đủ lớn để sai số ấy không đổi kết quả. Hai năm 2007 và 1985 cũng là hai ca được nhiều tài liệu lịch ghi nhận.

Năm 1985: Đông Chí rơi đúng chỗ nửa đêm

Năm 1985 lệch vì quy tắc thứ hai: tháng chứa Đông Chí là tháng Mười Một. Bộ máy cho các mốc sau:

MốcGiờ Việt Nam (+7)Giờ Bắc Kinh (+8)
Điểm sóc18:48 ngày 22/12/198419:48 ngày 22/12/1984
Đông Chí 198423:18 ngày 21/12/19840:18 ngày 22/12/1984
Điểm sóc kế tiếp9:30 ngày 21/1/198510:30 ngày 21/1/1985

Đông Chí 1984 rơi vào khoảng một giờ "nguy hiểm": theo giờ Việt Nam là gần nửa đêm ngày 21/12, theo giờ Bắc Kinh đã sang 22/12. Mà ngày 22/12 lại là ngày sóc.

  • Theo +7, Đông Chí thuộc ngày 21/12, tức thuộc tháng âm bắt đầu từ 23/11/1984. Tháng ấy là tháng Mười Một. Tháng bắt đầu 22/12 là tháng Chạp, tháng bắt đầu 21/1/1985 là tháng Giêng: Tết ngày 21/1/1985.
  • Theo +8, Đông Chí thuộc ngày 22/12, trùng ngày sóc, nên tháng bắt đầu từ 22/12 mới là tháng Mười Một. Tháng bắt đầu 21/1/1985 thành tháng Chạp, và Tết phải chờ đến lần trăng mới sau: 20/2/1985.

Mọi thứ lệch đi đúng một tháng. Để khép lại, mỗi bên đặt tháng nhuận ở một chỗ khác: theo +8, năm 1984 có tháng Mười nhuận (bắt đầu 23/11/1984); theo +7, năm 1985 có tháng Hai nhuận (bắt đầu 21/3/1985). Từ 21/3/1985 trở đi, hai lịch đánh số tháng trùng lại.

Bốn tháng lệch số và hệ quả cho người sinh năm ấy

Tính từ 23/11/1984 đến 20/3/1985, hai lịch gọi cùng một tháng trăng bằng hai tên khác nhau:

Tháng trăng bắt đầuLịch Việt (+7)Lịch theo +8
23/11/1984tháng Mười Một Giáp Týtháng Mười nhuận Giáp Tý
22/12/1984tháng Chạp Giáp Týtháng Mười Một Giáp Tý
21/1/1985tháng Giêng Ất Sửutháng Chạp Giáp Tý
20/2/1985tháng Hai Ất Sửutháng Giêng Ất Sửu
21/3/1985tháng Hai nhuận Ất Sửutháng Hai Ất Sửu

Hàng thứ ba là hàng đáng chú ý nhất: người sinh từ 21/1 đến 19/2/1985 là tuổi Ất Sửu theo lịch Việt, nhưng tuổi Giáp Tý theo lịch tính bằng giờ Bắc Kinh. Một người sinh ngày 10/2/1985 là 21 tháng Giêng Ất Sửu theo lịch Việt, nhưng là 21 tháng Chạp Giáp Tý theo lịch kia.

Với các phép dựa trên năm và tháng âm, như lá số Tử Vi, con giáp, sao hạn, đây không phải chuyện nhỏ: khác năm là khác cả lá số. Bài vì sao lá số tử vi mỗi trang một khác kể đây là nguyên nhân số một khi hai trang cho hai lá số khác hẳn nhau. Riêng Bát Tự không bị ảnh hưởng ở chỗ này, vì Bát Tự đổi năm ở Lập Xuân (4/2/1985), không ở Tết.

Còn các năm lệch một ngày thì sao

Lệch một ngày ít gây hệ quả hơn, nhưng vẫn có:

  • Ngày mùng Một và ngày Ba mươi: người sinh ngày 17/2/2007 là mùng Một Tết Đinh Hợi theo lịch Việt, nhưng là ngày cuối năm Bính Tuất theo lịch +8. Năm sinh âm lịch khác nhau.
  • Năm 1968 và 1969 ở Việt Nam có hai lịch cùng lưu hành: miền Bắc đã theo +7, miền Nam vẫn theo lịch cũ (+8) cho đến năm 1975. Tết Mậu Thân miền Bắc ăn ngày 29/1, miền Nam ngày 30/1. Người tra ngày sinh của người miền Nam hai năm ấy cần biết lịch gia đình dùng là lịch nào. Bối cảnh đổi lịch năm 1967 có ở bài Khâm Thiên Giám và Hoàng Xuân Hãn và lịch Việt.
  • Năm 2030: theo tính toán, Tết Canh Tuất ở Việt Nam là 2/2/2030, sớm hơn bên Trung Quốc một ngày. Đây là năm lệch gần nhất sắp tới.

Ngoài ngày Tết, trong năm còn nhiều tháng khác có mùng Một lệch một ngày giữa hai lịch vì cùng lý do, chỉ ít ai để ý vì không phải ngày lễ lớn.

Không bên nào "đúng" hơn

Mỗi nước tính lịch theo giờ của mình là chuyện tự nhiên. Lịch là để dùng ở một nơi; ngày ở Hà Nội bắt đầu lúc nửa đêm giờ Hà Nội. Tính theo giờ Bắc Kinh cho người sống ở Hà Nội mới là chuyện lạ.

Câu hỏi "Tết Việt đúng hay Tết Trung Quốc đúng" vì vậy không có nghĩa. Cả hai đúng với nơi mình. Điều duy nhất có thể sai là dùng nhầm lịch: dùng một công cụ tính theo giờ Bắc Kinh để tra ngày âm của người sinh ở Việt Nam sau năm 1968.

Sách cổ nói gì

Nãi mệnh Hy Hoà, khâm nhược hạo thiên, lịch tượng nhật nguyệt tinh thần, kính thụ nhân thời.

Bèn sai họ Hy, họ Hoà kính theo trời cả, tính theo hình tượng mặt trời, mặt trăng, các sao, cẩn trọng trao thời tiết cho dân. — Kinh Thư, thiên Nghiêu Điển

Bình: "trao thời tiết cho dân" là trao cho dân ở nơi ấy. Ngay đoạn tiếp theo, Nghiêu Điển kể vua sai các quan đi bốn phương đông, nam, tây, bắc để quan sát trời ở từng nơi. Tinh thần của việc làm lịch từ đầu đã là quan sát tại chỗ. Lịch Việt tính theo kinh tuyến 105° Đông là làm đúng tinh thần ấy.

Đọc cho đúng mức

  • Kết quả trong bài tính bằng một thuật toán, công thức thiên văn rút gọn. Với những năm điểm sóc hay trung khí rơi chỉ cách nửa đêm vài phút, cần kiểm lại bằng phương pháp chính xác hơn; các ca trong bảng không thuộc loại ấy.
  • Lịch Trung Quốc thật do cơ quan nhà nước của họ ban hành, theo tiêu chuẩn riêng; bài này tính "theo múi +8" bằng cùng thuật toán để so, kết quả khớp với ngày Tết Trung Quốc các năm đã biết như 1985 và 2007.
  • Trước năm 1968, lịch dùng ở Việt Nam tính theo +8, nên không có chuyện lệch với lịch Trung Hoa trong giai đoạn ấy theo quy ước tính hiện nay.

Việc nên làm

  • Người sinh từ 23/11/1984 đến 20/3/1985, hoặc sát các ngày Tết lệch trong bảng, nên tra lại ngày âm bằng công cụ ghi rõ dùng lịch Việt Nam múi +7.
  • Khi hai trang lịch cho hai ngày âm khác nhau, hỏi ngay: trang nào tính theo múi giờ nào.
  • Nếu gia đình ở miền Nam và có người sinh năm 1968, 1969, hỏi lại người lớn xem ngày âm ghi trong giấy tờ cũ theo lịch nào.
🔄Đổi ngày âm – dương
Đổi qua lại âm lịch – dương lịch Việt Nam, kèm can chi.
Mở

Nguồn tham khảo

  • Hồ Ngọc Đức — thuật toán tính âm lịch Việt Nam (công thức điểm sóc, kinh độ Mặt Trời, quy tắc tháng Mười Một và tháng nhuận).
  • Hoàng Xuân Hãn — Lịch và Lịch Việt Nam.
  • Bảng ngày Tết, điểm sóc và Đông Chí 1984 – 1985, 1968 – 2053: tính bằng bộ máy âm lịch của aihuyenhoc ở hai múi +7 và +8.
  • Kinh Thư — thiên Nghiêu Điển.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao Tết Việt Nam và Trung Quốc có năm khác nhau?

Vì lịch Việt tính theo giờ Hà Nội (múi +7), lịch Trung Quốc theo giờ Bắc Kinh (múi +8). Khi điểm sóc hoặc Đông Chí rơi vào khoảng 23 giờ đến nửa đêm giờ Việt Nam, bên Trung Quốc đã sang ngày hôm sau, làm ngày mùng Một lệch nhau.

Năm 1985 Tết lệch bao nhiêu?

Gần một tháng: Tết Ất Sửu ở Việt Nam là 21/1/1985, ở Trung Quốc là 20/2/1985. Nguyên nhân là Đông Chí 1984 rơi lúc 23 giờ 18 giờ Việt Nam, sang 0 giờ 18 giờ Bắc Kinh, làm hai bên xếp tháng Mười Một khác nhau.

Năm nào Tết Việt Nam sắp tới lại lệch Trung Quốc?

Theo tính toán, năm 2030: Tết Canh Tuất ở Việt Nam là 2/2/2030, ở Trung Quốc là 3/2/2030. Sau đó là năm 2053.

Người sinh đầu năm 1985 tuổi Giáp Tý hay Ất Sửu?

Người sinh ở Việt Nam từ 21/1 đến 19/2/1985 là tuổi Ất Sửu theo lịch Việt. Nếu dùng công cụ tính theo giờ Bắc Kinh, sẽ ra tuổi Giáp Tý; nên dùng lịch Việt Nam.

Lịch Việt hay lịch Trung Quốc đúng hơn?

Không bên nào đúng hơn. Mỗi lịch đúng với nơi nó được tính. Người sống ở Việt Nam dùng lịch tính theo giờ Việt Nam là hợp lý.

Nguồn tham khảo: Hồ Ngọc Đức — Thuật toán tính âm lịch Việt Nam · Hoàng Xuân Hãn — Lịch và Lịch Việt Nam · Bảng sóc và tiết khí 1968 – 2053 tính bằng bộ máy âm lịch của aihuyenhoc.com ở hai múi giờ +7 và +8 · Kinh Thư — thiên Nghiêu Điển

Lập Xuân: mốc đổi năm của Tử Bình và Huyền Không, giờ Lập Xuân 2027 và chuyện "năm không có Lập Xuân"Lập Xuân là gì, vì sao Bát Tự và Huyền Không đổi năm ở Lập Xuân chứ không ở Tết; Lập Xuân 2027 lúc 8 giờ 46 ngày 4/2 và năm Đinh …
Bình khí và định khí: cải cách lịch Thời Hiến 1645 làm các tiết khí dài ngắn khác nhauBình khí chia đều năm thành 24 đoạn thời gian, định khí chia đều 360° hoàng đạo; lịch Thời Hiến 1645 đổi sang định khí, sinh tiết…
Đông Chí: ngày "nhất dương sinh", quẻ Phục, mốc khởi dương độn và Tết Đông Chí của người HoaĐông Chí là gì: ngày ngắn nhất năm, nhất dương sinh, quẻ Phục, neo tháng Mười Một âm lịch, khởi dương độn Kỳ Môn; Đông Chí 2026, …
Tiết lệnh và trung khí: mười hai cặp trong 24 tiết khí và vai trò của từng loạiTiết lệnh và trung khí: bảng 12 cặp năm 2027 kèm ngày âm; vì sao Bát Tự đổi tháng ở tiết lệnh còn âm lịch đặt tên tháng theo trun…
Đổi ngày âm lịch sang dương lịch và ngược lại: cách lịch Việt Nam tính theo kinh tuyến 105° Đông và năm cái bẫy hay gặpĐổi ngày âm sang dương và ngược lại theo lịch Việt Nam (kinh tuyến 105° Đông): ví dụ năm 2027, tháng nhuận, ngày sinh trước 1968,…
Ngày Tết âm lịch từ 1900 đến 2100: bảng tra mùng Một Tết theo lịch Việt Nam và những năm Tết Việt lệch Tết Trung HoaBảng tra ngày mùng Một Tết từ 1900 đến 2100 theo lịch Việt Nam, kèm can chi, thứ trong tuần, quy tắc múi giờ trước 1968 và các nă…