Hà Đồ, Lạc Thư: hai đồ số và cuộc tranh luận của Tống Nho về cái nào mới là Hà Đồ
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc
Hà Đồ và Lạc Thư là hai đồ số gắn với truyền thuyết long mã hiện ở sông Hoàng Hà và rùa thần hiện ở sông Lạc. Bản phổ biến ngày nay: Hà Đồ có mười số xếp theo năm phương, Lạc Thư có chín số xếp thành ô vuông 3 × 3. Nhưng đời Tống từng có người gọi ngược lại, và văn bản trước đời Tống không vẽ hình nào cả.
Hai đồ trong một bảng
Cả hai đều vẽ bằng chấm: chấm trắng là số lẻ (dương), chấm đen là số chẵn (âm). Theo lối sách cổ và la kinh, phương Nam đặt ở trên, nên bên trái là Đông.
Hà Đồ (mười số, năm cặp):
| Phương | Số trong (sinh số) | Số ngoài (thành số) | Hành |
|---|---|---|---|
| Bắc (dưới) | 1 | 6 | Thuỷ |
| Nam (trên) | 2 | 7 | Hoả |
| Đông (trái) | 3 | 8 | Mộc |
| Tây (phải) | 4 | 9 | Kim |
| Giữa | 5 | 10 | Thổ |
Lạc Thư (chín số, ô vuông):
| Đông Nam | Nam | Tây Nam |
|---|---|---|
| 4 | 9 | 2 |
| Đông | Giữa | Tây |
| 3 | 5 | 7 |
| Đông Bắc | Bắc | Tây Bắc |
| 8 | 1 | 6 |
Một số con số đáng nhớ: tổng Hà Đồ là 55, đúng bằng "số trời đất" trong Hệ Từ (số trời 25 cộng số đất 30); tổng Lạc Thư là 45; hai đồ cộng lại là 100. Mọi hàng, cột, đường chéo của Lạc Thư đều bằng 15 (xem bài Lạc Thư là ma phương). Cách Hà Đồ ghép sinh số với thành số theo ngũ hành có bài riêng: Hà Đồ, sinh số và thành số.
Đặt hai đồ cạnh nhau: phép "Kim Hoả đổi chỗ"
So hai bảng sẽ thấy một chi tiết mà người học thuật số đời Tống rất chú ý. Bắc vẫn có 1 và 6, Đông vẫn có 3 và 8 ở cả hai đồ (8 dời sang Đông Bắc, 6 dời sang Tây Bắc nhưng vẫn ở phía ấy). Nhưng ở phía Nam và Tây thì khác:
- Trong Hà Đồ, cặp 2 – 7 (Hoả) ở Nam, cặp 4 – 9 (Kim) ở Tây.
- Trong Lạc Thư, 9 lên Nam, 4 ra Đông Nam; còn 7 sang Tây, 2 sang Tây Nam.
Tức là cặp số của Kim và cặp số của Hoả đổi chỗ cho nhau. Người đời Tống gọi đó là "Kim Hoả dịch vị", và giải bằng ngũ hành:
- Hà Đồ đi vòng tương sinh. Bắc Thuỷ sinh Đông Mộc, Mộc sinh Nam Hoả, Hoả sinh Thổ ở giữa, Thổ sinh Tây Kim, Kim sinh Bắc Thuỷ.
- Lạc Thư đi vòng tương khắc. Lấy bốn số lẻ ở bốn phương chính, gán hành theo Hà Đồ (1 Thuỷ, 3 Mộc, 7 Hoả, 9 Kim), rồi đi Bắc → Tây → Nam → Đông: 1 Thuỷ khắc 7 Hoả, 7 Hoả khắc 9 Kim, 9 Kim khắc 3 Mộc, 3 Mộc khắc 5 Thổ ở giữa, Thổ quay lại khắc Thuỷ.
Lời giải này là của Tống Nho, không có trong kinh; nhưng nó cho thấy vì sao về sau người ta coi Hà Đồ là "thể", Lạc Thư là "dụng", giống quan hệ giữa tiên thiên và hậu thiên bát quái.
Văn bản trước đời Tống: chỉ có tên, không có hình
Đây là chỗ các trang viết phổ thông hay bỏ qua. Ba câu cổ nhất nhắc tới Hà Đồ, Lạc Thư đều không mô tả hình dạng:
- Thượng Thư, thiên Cố Mệnh, kể đồ quý bày trong cung khi Chu Thành Vương mất có "Hà Đồ" đặt ở chái phía đông. Ở đây Hà Đồ là một bảo vật, cạnh ngọc, cạnh khí cụ.
- Luận Ngữ, thiên Tử Hãn: Khổng Tử than chim phượng không đến, sông không hiện đồ. Hà Đồ là một điềm lành báo có thánh nhân.
- Hệ Từ thượng: sông hiện Đồ, sông Lạc hiện Thư, thánh nhân noi theo. Đây là câu gắn Hà Đồ, Lạc Thư với việc làm ra Dịch.
Đến đời Hán, các nhà nho nói rõ hơn nhưng vẫn không vẽ chấm. Lưu Hâm, theo Hán Thư Ngũ Hành Chí, đại ý: Phục Hy nhận Hà Đồ mà vẽ ra bát quái; Đại Vũ nhận Lạc Thư mà bày ra chín trù của thiên Hồng Phạm. Nghĩa là thời Hán, Hà Đồ được hiểu là gốc của bát quái, Lạc Thư là gốc của Hồng Phạm cửu trù, chứ chưa phải hai đồ chấm.
Còn bản thân ô vuông 9 số thì có từ đời Hán, nhưng dưới tên khác: thiên Minh Đường của Đại Đới Lễ Ký ghi chín gian nhà theo số "hai, chín, bốn; bảy, năm, ba; sáu, một, tám", và sách vĩ thư Càn Tạc Độ nói Thái Nhất đi qua chín cung, bốn chính bốn duy đều hợp mười lăm. Bài ma phương Lạc Thư xuất hiện trong văn bản lúc nào đi kỹ phần này.
Đời Tống: hình chấm xuất hiện, và hai phe gọi ngược nhau
Hình chấm đen trắng mà ta quen chỉ thấy trong sách từ đời Bắc Tống. Và ngay khi xuất hiện, nó đã có hai cách gọi.
| Lưu Mục (Bắc Tống) | Thái Nguyên Định, Chu Hy (Nam Tống) | |
|---|---|---|
| Sách | Dịch Số Câu Ẩn Đồ | Dịch Học Khải Mông (1186), Chu Dịch Bản Nghĩa |
| Đồ 9 số (ô vuông) gọi là | Hà Đồ | Lạc Thư |
| Đồ 10 số (năm phương) gọi là | Lạc Thư | Hà Đồ |
| Khẩu quyết | "đồ cửu thư thập" | "đồ thập thư cửu" |
| Lý lẽ chính | đại ý: đồ 9 số gắn với bát quái và cửu cung, hợp với chuyện Phục Hy vẽ quái | đại ý: đồ 10 số chứa đủ "số trời đất" 55 của Hệ Từ nên phải là Hà Đồ; dẫn thêm thuyết của Quan Lãng và Thiệu Ung |
Theo Chu Chấn đời Nam Tống, các đồ này được truyền từ đạo sĩ Trần Đoàn qua Chủng Phóng, rồi qua mấy đời đến Lưu Mục. Chu Hy đổi tên lại, đặt cả hai đồ lên đầu Chu Dịch Bản Nghĩa. Vì sách của Chu Hy thành sách học chính thống suốt các đời Nguyên, Minh, Thanh, và ở cả Việt Nam thời khoa cử, nên cách gọi "đồ thập thư cửu" của ông thắng hẳn. Hà Đồ mười số, Lạc Thư chín số mà ta học ngày nay là cách gọi của Chu Hy, không phải cách gọi duy nhất từng có.
Vì sao chuyện đổi tên này quan trọng? Vì khi đọc sách thuật số đời Bắc Tống hay sách chịu ảnh hưởng Lưu Mục, chữ "Hà Đồ" có thể đang chỉ ô vuông chín số. Đọc lẫn là hiểu sai cả đoạn.
Đời Thanh: đồ bị tách khỏi kinh
Các học giả khảo chứng đời Thanh đặt lại câu hỏi từ gốc. Hoàng Tông Hy (Dịch Học Tượng Số Luận) và nhất là Hồ Vị (Dịch Đồ Minh Biện) lập luận: các đồ chấm không có trong kinh văn, không có trong chú giải đời Hán, Đường; chúng xuất hiện từ dòng truyền của Trần Đoàn và là sản phẩm của đạo gia, Tống Nho. Kết luận của Hồ Vị được giới học thuật về sau phần lớn chấp nhận. Bài Hồ Vị và Dịch Đồ Minh Biện bàn riêng.
Điều này không làm hai đồ mất giá trị dùng. Lạc Thư là nền của Cửu tinh, Huyền Không, Kỳ Môn; Hà Đồ là nền của số ngũ hành trong Mai Hoa. Chỉ có điều câu "Phục Hy nhìn lưng long mã thấy đúng các chấm này" là truyền thuyết, còn "văn bản hiện còn cho thấy" thì hình chấm có từ thế kỷ 10 – 11.
Ở Việt Nam: chữ "Hà Lạc" và một hiểu lầm về chữ "Lạc"
Người Việt quen chữ "Hà Lạc" qua phép Hà Lạc lý số (lập quẻ theo giờ sinh, tương truyền của Trần Đoàn, Thiệu Ung) và qua sách học thời khoa cử in theo bản Chu Hy. Thế kỷ 20 có một số tác giả Việt đọc chữ "Lạc" trong Lạc Thư như dấu vết của Lạc Việt. Cần nói rõ: "Lạc" trong Lạc Thư là tên sông Lạc ở vùng Hà Nam ngày nay, chảy vào Hoàng Hà; sự trùng âm với tên Lạc Việt không phải là bằng chứng về nguồn gốc. Muốn bàn chuyện ảnh hưởng qua lại giữa các vùng văn hoá thì phải dựa vào văn bản, hiện vật, không dựa vào âm đọc.
Sách cổ nói gì
Hà xuất Đồ, Lạc xuất Thư, thánh nhân tắc chi.
Dịch: Sông Hà hiện ra Đồ, sông Lạc hiện ra Thư, thánh nhân noi theo. — Chu Dịch, Hệ Từ thượng
Phượng điểu bất chí, Hà bất xuất Đồ, ngô dĩ hĩ phù!
Dịch: Chim phượng không đến, sông không hiện Đồ, ta thôi rồi chăng! — Luận Ngữ, Tử Hãn
Hà Đồ tại đông tự.
Dịch: Hà Đồ đặt ở chái phía đông. — Thượng Thư, Cố Mệnh
Bình: ba câu cổ nhất đều coi Hà Đồ là vật có thật hoặc điềm có thật, nhưng không câu nào tả nó trông ra sao. Hình chấm đen trắng là lời giải của người đời sau cho một cái tên có sẵn. Hiểu như vậy, ta vừa giữ được giá trị của hai đồ như công cụ tư duy, vừa không gán cho kinh điều kinh không nói.
Đọc cho đúng mức
- Hình Hà Đồ, Lạc Thư bằng chấm chỉ thấy trong văn bản từ đời Tống; câu chuyện long mã, rùa thần là truyền thuyết.
- Tên hai đồ từng bị gọi ngược (Lưu Mục so với Chu Hy); cách gọi phổ biến hiện nay là của Chu Hy.
- Ô vuông chín số thì cổ hơn hình chấm: có trong Đại Đới Lễ Ký và vĩ thư đời Hán, dưới tên Minh Đường, cửu cung.
- Các lời giải "Hà Đồ tương sinh, Lạc Thư tương khắc", "Hà Đồ là thể, Lạc Thư là dụng" là của Tống Nho, hữu ích để nhớ nhưng không phải kinh văn.
Việc nên làm
- Vẽ lại hai đồ trên giấy, Nam ở trên, rồi đánh dấu cặp Kim, cặp Hoả để tự thấy chỗ đổi chỗ.
- Khi đọc một sách thuật số, xem tác giả theo phe nào: chữ "Hà Đồ" của người theo Lưu Mục có thể là ô chín số.
- Học tiếp theo thứ tự: Lạc Thư và đường bay chín sao, rồi Huyền Không; hoặc Hà Đồ và số ngũ hành, rồi Mai Hoa.
Lập tinh bàn theo vận và toạ hướng, phi tinh năm – tháng.✨ Dùng thử
Nguồn tham khảo
- Chu Dịch, Hệ Từ thượng (trích nguyên văn).
- Luận Ngữ, thiên Tử Hãn (trích nguyên văn).
- Thượng Thư, thiên Cố Mệnh (trích nguyên văn).
- Hán Thư, Ngũ Hành Chí — lời Lưu Hâm về Hà Đồ, Lạc Thư (đại ý).
- Lưu Mục — Dịch Số Câu Ẩn Đồ (đại ý).
- Chu Hy, Thái Nguyên Định — Dịch Học Khải Mông; Chu Hy — Chu Dịch Bản Nghĩa, các đồ in đầu sách.
- Hồ Vị — Dịch Đồ Minh Biện; Hoàng Tông Hy — Dịch Học Tượng Số Luận (đại ý).
Câu hỏi thường gặp
Hà Đồ và Lạc Thư khác nhau thế nào?
Theo cách gọi phổ biến, Hà Đồ có mười số chia năm cặp theo năm phương và ngũ hành, tổng 55; Lạc Thư có chín số xếp ô vuông 3 × 3, mọi hàng cột chéo bằng 15, tổng 45.
Vì sao có người gọi đồ chín số là Hà Đồ?
Lưu Mục đời Bắc Tống gọi đồ chín số là Hà Đồ, đồ mười số là Lạc Thư. Đến Nam Tống, Thái Nguyên Định và Chu Hy đổi ngược lại, và cách của Chu Hy thành phổ biến.
Hà Đồ, Lạc Thư có từ thời Phục Hy, Đại Vũ thật không?
Đó là truyền thuyết. Văn bản cổ chỉ nhắc tên, không vẽ hình; hình chấm đen trắng chỉ thấy trong sách từ đời Tống, còn ô vuông chín số có trong sách đời Hán dưới tên Minh Đường, cửu cung.
"Kim Hoả dịch vị" là gì?
Là chỗ cặp số của Kim (4, 9) và cặp số của Hoả (2, 7) đổi phương khi chuyển từ Hà Đồ sang Lạc Thư: trong Hà Đồ Hoả ở Nam, Kim ở Tây; trong Lạc Thư 9 lên Nam, 7 sang Tây.
Học phong thuỷ cần Hà Đồ hay Lạc Thư?
Huyền Không, Cửu tinh, Kỳ Môn dựa vào Lạc Thư và đường bay của nó; Hà Đồ dùng nhiều ở số ngũ hành trong Mai Hoa và một số phép hợp số trong tinh bàn.
Nguồn tham khảo: Chu Dịch — Hệ Từ thượng · Luận Ngữ — Tử Hãn · Thượng Thư — Cố Mệnh · Hán Thư — Ngũ Hành Chí (lời Lưu Hâm) · Lưu Mục — Dịch Số Câu Ẩn Đồ · Chu Hy, Thái Nguyên Định — Dịch Học Khải Mông · Hồ Vị — Dịch Đồ Minh Biện