Tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái: hai cách xếp, hai cách dùng, và vì sao phong thuỷ dùng hậu thiên

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc

Tiên thiên bát quái và hậu thiên bát quái: hai cách xếp, hai cách dùng, và vì sao phong thuỷ dùng hậu thiên

Tiên thiên bát quái xếp tám quẻ thành bốn cặp đối nhau (trời – đất, núi – đầm, sấm – gió, nước – lửa), còn hậu thiên bát quái xếp theo vòng bốn mùa, từ Chấn ở Đông. Người xưa nói tiên thiên là "thể", hậu thiên là "dụng". Phong thuỷ dùng hậu thiên vì chỉ vòng này gắn với phương hướng, mùa và Lạc Thư.

Hai vòng đặt cạnh nhau, đọc theo phương

Bài tám quẻ đơn đã có bảng "mỗi quẻ nằm ở đâu". Ở đây đọc theo chiều ngược lại, vì người làm phong thuỷ, la kinh hay hỏi câu này hơn: đứng ở một phương thì tiên thiên có quẻ gì, hậu thiên có quẻ gì.

PhươngTiên thiênHậu thiênSố Lạc Thư của ô
NamCànLy9
Tây NamTốnKhôn2
TâyKhảmĐoài7
Tây BắcCấnCàn6
BắcKhônKhảm1
Đông BắcChấnCấn8
ĐôngLyChấn3
Đông NamĐoàiTốn4

Bảng này là thứ người học phái Long Môn Bát Cục dùng hằng ngày, vì phái ấy xét cả "vị tiên thiên" lẫn "vị hậu thiên" của một quẻ. Ví dụ nhà nhìn về Nam (hậu thiên là Ly): ô Nam ấy trong vòng tiên thiên là của Càn. Tức là một phương mang hai quẻ, một quẻ "gốc", một quẻ "đang dùng".

Nguyên lý xếp: đối đãi và lưu hành

Người đời Tống, Minh tóm hai vòng bằng hai chữ:

Tiên thiên là "đối đãi", các cặp đứng đối mặt nhau. Gốc ở Thuyết Quái chương 3: trời đất định chỗ, núi đầm thông khí, sấm gió xô nhau, nước lửa không bắn nhau. Mỗi cặp là hai quẻ ngược hẳn từng hào (Càn ba liền đối Khôn ba đứt, Ly đối Khảm, Chấn đối Tốn, Cấn đối Đoài). Vòng tròn còn có một trật tự đẹp: nửa trái đi từ Chấn (một hào dương) lên Ly, Đoài (hai hào dương) đến Càn (ba hào dương); nửa phải đi từ Tốn (một hào âm) qua Khảm, Cấn đến Khôn (ba hào âm). Dương lớn dần bên này, âm lớn dần bên kia, như hình cá trong Thái Cực Đồ.

Hậu thiên là "lưu hành", các quẻ nối nhau thành một vòng chảy. Gốc ở Thuyết Quái chương 5: "Đế xuất hồ Chấn…", muôn vật ra ở Chấn (Đông, xuân), đều đặn ở Tốn, gặp nhau ở Ly (Nam, hạ), được nuôi ở Khôn, vui ở Đoài (Tây, thu), giao tranh ở Càn, mỏi ở Khảm (Bắc, đông), thành ở Cấn. Đó là lịch một năm.

Một chi tiết ít người để ý: trong hậu thiên, chỉ còn một cặp đối đãi thật là Khảm – Ly (Bắc – Nam). Càn ở Tây Bắc đứng đối Tốn ở Đông Nam, Khôn ở Tây Nam đối Cấn ở Đông Bắc, Chấn ở Đông đối Đoài ở Tây: không cặp nào ngược hẳn từng hào. Vòng hậu thiên đã phá thế đối xứng để đi theo mùa. Đó chính là khác biệt bản chất giữa "cái lý" và "cái việc".

"Tiên thiên là thể, hậu thiên là dụng" nghĩa là gì

Thiệu Ung, người vẽ vòng tiên thiên, có câu thường được dẫn, đại ý: học tiên thiên là học cái tâm, học hậu thiên là học cái dấu vết. Đời sau nói gọn thành "tiên thiên vi thể, hậu thiên vi dụng".

Hiểu theo lối thường:

Tiên thiênHậu thiên
Trả lời câu hỏicác thứ đứng với nhau thế nàocác thứ chuyển sang nhau thế nào
Hình ảnhbản đồ các cặp đối nhauvòng thời gian một năm
Tương truyềnPhục HyVăn Vương
Văn bản hiện cònđồ của Thiệu Ung đời Tống, Chu Hy in đầu Chu Dịch Bản Nghĩaphương vị ghi thẳng trong Thuyết Quái chương 5
Gắn vớithứ tự gấp đôi vạch, số tiên thiênLạc Thư, mùa, 24 sơn

Chỗ cần nói rõ (tách truyền thuyết với văn bản): Thuyết Quái chương 3 chỉ nói bốn cặp, không ghi phương. Việc đặt Càn ở Nam, Khôn ở Bắc là cách xếp của Thiệu Ung, được Chu Hy gán cho Phục Hy. Ngược lại, vòng hậu thiên có phương ghi ngay trong kinh văn (trừ Khôn và Đoài phải suy ra). Gọi là "tiên thiên" (trước trời) và "hậu thiên" (sau trời) là theo truyền thống; xét tuổi văn bản thì vòng "hậu thiên" lại cổ hơn.

Từ tiên thiên sang hậu thiên: Càn Khôn giao nhau

Vì sao Càn ở Nam lại nhường chỗ cho Ly, Khôn ở Bắc nhường cho Khảm? Lời giải phổ biến từ đời Tống: Càn và Khôn giao nhau. Hào giữa của Càn sang Khôn thì Khôn thành Khảm; hào giữa của Khôn sang Càn thì Càn thành Ly. Con thay cha mẹ đứng chỗ chính, còn Càn, Khôn lui về hai góc Tây Bắc, Tây Nam. Thiệu Ung và Chu Hy dùng hình ảnh này để nói: tiên thiên là trời đất ở thế tĩnh, hậu thiên là khi trời đất đã giao nhau, sinh ra muôn việc.

Lời giải này đẹp nhưng chỉ giải được Khảm, Ly; các quẻ khác thì mỗi nhà một thuyết. Bài vì sao hậu thiên đặt Ly ở Nam, Khảm ở Bắc đặt ba thuyết cạnh nhau và nói thẳng chưa thuyết nào trọn.

Môn nào dùng vòng nào

MônDùngVì sao
Phong thuỷ Bát Trạch, Huyền Không, 24 sơn la kinhhậu thiêncần phương thật, mùa thật; chín cung theo Lạc Thư
Kỳ Môn Độn Giáp, Thái Ấthậu thiênđặt trên cửu cung Lạc Thư
Mai Hoa Dịch Số, lập quẻsố tiên thiên (Càn 1… Khôn 8)thứ tự gấp đôi vạch
Mai Hoa, đoán theo phương, thể dụngphương và ngũ hành hậu thiênviệc xảy ra ở phương thật
Long Môn Bát Cụccả haixét vị tiên thiên và vị hậu thiên của từng quẻ
La kinhvòng tiên thiên ở tầng trong, hậu thiên chi phối 24 sơntiên thiên làm "gốc", hậu thiên để đo
Gương bát quái treo cửathường là tiên thiên (Càn trên, Khôn dưới)tục dân gian, xem gương bát quái

Bảng cho thấy câu "phong thuỷ dùng hậu thiên" đúng ở phần đo đạc, nhưng không có nghĩa tiên thiên vắng mặt. Mai Hoa là ví dụ rõ nhất về dùng cả hai: lập quẻ bằng số tiên thiên, đoán bằng phương và hành hậu thiên. Hai bộ số dễ lẫn ấy có bài riêng: số tiên thiên, số hậu thiên.

Vì sao phong thuỷ phải dùng hậu thiên

Ba lý do, xếp từ gốc đến ngọn:

  1. Kinh văn chỉ cho hậu thiên phương hướng. Thuyết Quái chương 5 nói Chấn là Đông, Ly là Nam, Khảm là chính Bắc… Muốn gắn quẻ với một căn nhà có hướng, phải dùng vòng có hướng.
  2. Lạc Thư khớp với hậu thiên. Đặt chín số Lạc Thư lên tám phương: Khảm 1, Khôn 2, Chấn 3, Tốn 4, giữa 5, Càn 6, Đoài 7, Cấn 8, Ly 9. Từ đó mới có cửu tinh, đường bay, vận 20 năm. Vòng tiên thiên không khớp với ô số này theo cùng cách.
  3. Phong thuỷ là chuyện thời gian. Hậu thiên là vòng mùa; nhà ở thì chịu nắng gió theo mùa, chịu vận đổi theo năm. Một hệ "đối đãi" tĩnh không đủ để tả sự đổi dời ấy.

Sách cổ nói gì

Thiên địa định vị, sơn trạch thông khí, lôi phong tương bạc, thuỷ hoả bất tương xạ, bát quái tương thác.

Dịch: Trời đất định chỗ, núi đầm thông khí, sấm gió xô nhau, nước lửa không bắn nhau, tám quẻ đan xen nhau. — Thuyết Quái, chương 3

Đế xuất hồ Chấn, tề hồ Tốn, tương kiến hồ Ly, trí dịch hồ Khôn, duyệt ngôn hồ Đoài, chiến hồ Càn, lao hồ Khảm, thành ngôn hồ Cấn.

Dịch: Muôn vật ra ở Chấn, đều đặn ở Tốn, thấy nhau ở Ly, được nuôi ở Khôn, vui ở Đoài, giao tranh ở Càn, mỏi ở Khảm, thành ở Cấn. — Thuyết Quái, chương 5

Bình: hai chương đứng gần nhau trong cùng một truyện, một chương nói quan hệ, một chương nói trình tự. Người đời Tống vẽ chương thứ nhất thành vòng tiên thiên, chương thứ hai thành vòng hậu thiên. Đọc lại nguyên văn sẽ thấy chương 5 mới là chương có phương hướng.

Đọc cho đúng mức

  • Tên "Phục Hy bát quái", "Văn Vương bát quái" là theo truyền thống; đồ tiên thiên chỉ thấy trong văn bản từ đời Tống.
  • "Thể – dụng" là cách nói của Tống Nho để giải thích quan hệ hai vòng, không phải kinh văn.
  • Lời giải Càn Khôn giao nhau giải thích được Khảm, Ly; vị trí sáu quẻ còn lại vẫn có nhiều thuyết.
  • Hai vòng là hai hệ quy ước. Dùng vòng nào là theo môn, không có vòng "đúng hơn".

Việc nên làm

  1. Học thuộc bảng theo phương ở trên: đứng một phương, nói được cả quẻ tiên thiên và hậu thiên.
  2. Khi đọc một sách phong thuỷ hay Mai Hoa, để ý tác giả đang dùng số hay phương của vòng nào.
  3. Thử xem hướng nhà mình ứng quẻ hậu thiên nào bằng công cụ dưới đây, rồi tra quẻ tiên thiên cùng ô trong bảng.
🧭Hướng nhà Bát Trạch
Cung phi chủ nhà, tám phương cát hung, đặt cửa – bếp – giường.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Chu Dịch, Thuyết Quái truyện — chương 3, chương 5 (trích nguyên văn).
  • Thiệu Ung — Hoàng Cực Kinh Thế, phần Quan Vật Ngoại Thiên (đại ý).
  • Chu Hy — Chu Dịch Bản Nghĩa, các đồ Phục Hy và Văn Vương bát quái in đầu sách (đại ý).

Câu hỏi thường gặp

Tiên thiên và hậu thiên bát quái khác nhau ở đâu?

Tiên thiên xếp tám quẻ thành bốn cặp đối nhau, Càn ở Nam, Khôn ở Bắc; hậu thiên xếp theo vòng mùa, Ly ở Nam, Khảm ở Bắc, Chấn ở Đông. Một bên nói quan hệ, một bên nói trình tự.

Vì sao phong thuỷ dùng hậu thiên bát quái?

Vì chỉ hậu thiên có phương ghi trong Thuyết Quái, khớp với chín số Lạc Thư và gắn với vòng mùa, là những thứ phong thuỷ cần để đo một căn nhà theo hướng và theo thời gian.

"Tiên thiên vi thể, hậu thiên vi dụng" nghĩa là gì?

Là cách nói của Tống Nho: tiên thiên tả bản chất, các thế đối nhau; hậu thiên tả sự vận hành, đổi dời. Đây là lời giải về sau, không có trong kinh văn.

Bát quái tiên thiên có từ thời Phục Hy không?

Theo truyền thống thì vậy, nhưng đồ tiên thiên có phương vị chỉ thấy từ Thiệu Ung đời Tống. Thuyết Quái chương 3 chỉ nói bốn cặp đối nhau, không ghi hướng.

Mai Hoa Dịch Số dùng tiên thiên hay hậu thiên?

Dùng cả hai: số tiên thiên (Càn 1 đến Khôn 8) để lập quẻ, còn phương và ngũ hành theo hậu thiên khi đoán thể dụng, phương hướng.

Nguồn tham khảo: Chu Dịch — Thuyết Quái truyện — chương 3 và chương 5 · Thiệu Ung — Hoàng Cực Kinh Thế, Quan Vật Ngoại Thiên · Chu Hy — Chu Dịch Bản Nghĩa, các đồ đầu sách

Hà Đồ: "một sáu cùng tông, hai bảy đồng đạo" — sinh số, thành số, ngũ hành và chỗ Huyền Không dùng lạiSinh số 1–5, thành số 6–10 của Hà Đồ: câu gốc trong Hệ Từ, chú của Trịnh Huyền, khẩu quyết "nhất lục cộng tông" từ đâu ra và cặp …
Tám quẻ phối người trong nhà: Càn cha, Khôn mẹ, Chấn trưởng nam… — bảng tra và cách phong thuỷ dùng nó cho phòng ởBát quái phối người nhà theo Thuyết Quái: bảng tám quẻ, phương tiên thiên, hậu thiên, tượng người chương 11, và phong thuỷ dùng b…
Liên Sơn, Quy Tàng, Chu Dịch: ba bộ Dịch của Chu Lễ, và thẻ tre Quy Tàng tìm thấy ở Vương Gia ĐàiLiên Sơn, Quy Tàng là hai bộ Dịch mà Chu Lễ đặt cạnh Chu Dịch. Quy Tàng mở đầu bằng quẻ Khôn, mất từ lâu, rồi thẻ tre Vương Gia Đ…
Hà Đồ, Lạc Thư: hai đồ số và cuộc tranh luận của Tống Nho về cái nào mới là Hà ĐồHà Đồ, Lạc Thư là gì: đồ 10 số và đồ 9 số, bảng số, phép Kim Hoả đổi chỗ; vì sao Lưu Mục gọi đồ 9 số là Hà Đồ còn Chu Hy đổi lại,…
Bốn quẻ trên quốc kỳ Hàn Quốc: Càn, Khôn, Khảm, Ly xếp theo tiên thiên và lá cờ Thái CựcQuốc kỳ Hàn Quốc có bốn quẻ Càn, Khôn, Khảm, Ly: lịch sử lá cờ từ 1882, vì sao chọn bốn quẻ ấy, cách xếp tiên thiên xoay 45 độ, s…
Tấm "Thái Ất cửu cung chiêm bàn" ở Song Cổ Đôi: ô vuông chín số khắc trên gỗ, sớm hơn Lạc Thư đời Tống hơn nghìn nămThái Ất cửu cung chiêm bàn trong mộ Nhữ Âm hầu ở Song Cổ Đôi (An Huy, đào năm 1977): bàn đầu Tây Hán khắc chín số đúng vị trí Lạc…