Những người viết tử vi bằng tiếng Việt thế kỷ 20: một danh sách lập từ thư mục thư viện

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc

Những người viết tử vi bằng tiếng Việt thế kỷ 20: một danh sách lập từ thư mục thư viện

Thế kỷ hai mươi, tử vi bằng tiếng Việt chủ yếu được viết ở Sài Gòn từ đầu thập niên 1950 đến 1975, rồi được in lại ở hải ngoại. Theo thư mục thư viện, những tên tuổi có sách sớm và được in lại nhiều là Nguyễn Mạnh Bảo, Song An Đỗ Văn Lưu, Vân Đằng Thái Thứ Lang, Vũ Tài Lục, Nguyễn Phát Lộc, Thái Vân Trình. Danh sách dưới đây ghi theo bản biên mục, không theo trí nhớ.

Cách lập danh sách này

Viết về "những người viết tử vi" rất dễ thành một bảng tên đồn đại: người này là thầy của người kia, sách kia chép sách nọ. Chúng tôi làm ngược lại: chỉ ghi những gì có trong bản biên mục của thư viện, tức là phần thông tin mà người làm thư viện đã chép từ chính cuốn sách: nhan đề, tên người viết như in trên sách, nơi in, nhà in, năm in, số trang, và dòng ghi chú "in lại từ bản…".

Nguồn tra là thư mục Open Library, nơi gom dữ liệu biên mục của nhiều thư viện Mỹ, trong đó có Thư viện Quốc hội Mỹ, cơ quan đã sưu tập sách in ở miền Nam trước 1975 và sách in của cộng đồng người Việt sau 1975. Tra tháng 10/2026.

Nguyên tắc thứ hai: không bình phẩm người viết. Bài ghi sách, năm, nơi in; không chấm sách nào hay, ai giỏi. Nhiều người viết sau 1975 có thể vẫn còn sống; với họ, bài chỉ ghi dữ kiện thư mục.

Những cuốn có năm in đầu ở Sài Gòn

Người viết (theo tên in trên sách)SáchIn lần đầu theo ghi chú biên mụcBản in lại có trong thư mục
Nguyễn Mạnh BảoTử vi đẩu số: lấy số tử vi bằng đồ biểu toán phápSài Gòn, 1951 – 1958Đại Nam, Glendale (California), không ghi năm, 242 trang
Nguyễn Mạnh Bảo (soạn giả)Tử vi bổ túcSài Gòn, 1958, 183 trangin kèm cuốn trên
Song An Đỗ Văn LưuTử vi chỉ nam, trọn bộ ba quyểnSài Gòn, 1957Mỹ, 1982, 236 trang
Vân Đằng Thái Thứ LangTử vi đẩu số tân biên (lập thành, luận đoán)Tín Đức Thư xã, Sài Gòn, 1956Đại Nam, Glendale, 1981, 352 trang
Vũ Tài LụcTướng mệnh học khảo luậnNgân Hà Thư xã, Sài Gòn, 1972Mỹ, không ghi năm, 362 trang
Nguyễn Phát LộcTử vi hàm sốKhoa học Nhân văn, Sài Gòn, 1974Mỹ, 1980, 468 trang
Nguyễn Phát LộcTử vi tổng hợpKhoa học Nhân văn, Sài Gòn, 1974Mỹ, 1980, 686 trang
Thái Vân TrìnhTử vi đẩu số phú giảiĐất Việt, Sài Gòn, 1974, 274 trangDainamco, Glendale

Vài chi tiết đáng chú ý ngay trong bản biên mục:

  • Cuốn Tử vi bổ túc (1958) ghi trên trang tên sách: "trước tác Ma Y Lão Tổ; diễn giải quốc âm Lê Quí Đôn", và một dòng giới thiệu "hơn 400 cách để bổ túc cho khoa lý học tử vi… phần nhiều nói về bàng tinh". Gán sách cho Ma Y Lão Tổ (nhân vật truyền thuyết đời Tống) và cho Lê Quý Đôn là lời của sách tự giới thiệu; chúng tôi chưa thấy chứng cứ văn bản cho cả hai.
  • Nguyễn Mạnh Bảo còn có sách về các thuật khác, như Kỳ Môn độn giáp (Cổ Kim Ấn Quán, Sài Gòn, 1959, 670 trang). Một người viết đi qua nhiều môn là nét chung của thế hệ này.
  • Tử vi đẩu số tân biên của Thái Thứ Lang là cuốn ảnh hưởng nhất tới cách lập lá số của phái Việt; bài riêng về sách ấy ở Vân Đằng Thái Thứ Lang.

Những cuốn in ở hải ngoại sau 1975

Bản biên mục ghi rất nhiều sách in lại hoặc in mới ở California, Texas, Virginia. Một số ví dụ, chỉ ghi dữ kiện:

Người viếtSáchNơi, năm in theo thư mục
Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm TửTử vi áo bí biện chứng họcLê Tư Vinh, Alexandria (Virginia), 1979, 729 trang
Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm TửTướng pháp áo bí diện tướng họcLê Tư Vinh, 1979
Nguyễn Đắc LộcTử vi dưới mắt khoa họcDainamco, Glendale, không ghi năm
Bửu SơnTử vi tướng phápDainamco, Glendale, không ghi năm
Vũ Tài LụcTử vi tinh điểnNhà sách Tự Lực, Garden Grove, không ghi năm
Vũ Tài Lục (cùng tên Trần Đoàn trên sách)Tử vi đẩu số toàn thưNgân Hà thư xã, không ghi nơi, năm

Nhiều cuốn "không ghi năm" là bản in lại từ sách Sài Gòn; thư mục không phải lúc nào cũng ghi được năm in gốc.

Đọc nhan đề như đọc một dòng chảy

Không bình phẩm người, nhưng có thể đọc nhan đề như dấu vết của cách nghĩ một thời:

  • Thập niên 1950: "chỉ nam", "tân biên", "bổ túc", "đồ biểu toán pháp". Việc chính là hệ thống hoá, dạy cách lập và đọc lá số bằng quốc ngữ, bổ sung các sao phụ. Chữ "đồ biểu toán pháp" của Nguyễn Mạnh Bảo đáng để ý: lập lá số bằng bảng tra, tức là đã nghĩ về tử vi như một phép tính có quy tắc, điều mà bộ máy lá số của site hôm nay làm bằng mã.
  • Thập niên 1970: "hàm số", "tổng hợp", "phú giải", rồi ở hải ngoại "biện chứng học", "dưới mắt khoa học". Ngôn ngữ của toán học và khoa học xã hội đi vào nhan đề. Người viết muốn đặt tử vi vào khung tư duy hiện đại, dù nội dung vẫn là phép an sao cổ.
  • Bút hiệu nhiều hơn tên thật: Vân Đằng, Song An, Hà Lạc Dã Phu… Bút hiệu kiểu nhà nho là truyền thống, nhưng cũng khiến tiểu sử nhiều người viết gần như trống.

Những chỗ danh sách còn thiếu

Một danh sách lập từ thư mục thì mang thiên lệch của thư mục:

  • Thiếu sách in ở Hà Nội trước 1954 và trong nước sau 1975. Thư mục chúng tôi dùng nghiêng về sách miền Nam và hải ngoại. Trong nước sau 1975, bản biên mục chỉ cho thấy rải rác, ví dụ một cuốn Tử vi với số phận con người do Sở Văn hoá Thông tin Hà Nam Ninh in năm 1990, không ghi người viết. Sau năm 2000 sách tử vi in trong nước rất nhiều, nhưng đã ra ngoài khung thế kỷ hai mươi.
  • Thiếu sách Hán Nôm. Các bản chép tay về tử vi trong kho Hán Nôm là một mảng riêng, cần thư mục Hán Nôm.
  • Thiếu những người dạy mà không in sách. Nhiều thầy chỉ truyền miệng; thư mục không thấy họ.
  • Một số tên quen trong giới học tử vi mà chúng tôi chưa tìm được bản biên mục rõ ràng (tên người viết, năm in) thì không đưa vào bảng. Thiếu tên trong bài không có nghĩa là người ấy không viết.

Sách cổ nói gì

史官之廢久矣,其書既不能具,雖有其書而無其人。 Sử quan chi phế cửu hĩ, kỳ thư ký bất năng cụ, tuy hữu kỳ thư nhi vô kỳ nhân.

Chức sử quan bị bỏ đã lâu; sách đã không đủ, mà dẫu có sách cũng không có người. — Hán Thư, Nghệ Văn Chí, phần Số thuật lược

Bình: Ban Cố viết câu này cuối phần liệt kê sách thuật số, bản thư mục cổ nhất còn lại của Trung Hoa (bài thuật số trong Hán Thư Nghệ Văn Chí). Hai nghìn năm sau, lập danh sách sách tử vi tiếng Việt, chúng tôi gặp đúng tình cảnh ấy: tên sách, năm in còn trong thư mục, còn người viết thì nhiều khi chỉ là một bút hiệu. Ghi được sách đã là bước đầu để giữ lại người.

Đọc cho đúng mức

  • Năm "in lần đầu" lấy từ ghi chú biên mục của bản in lại; có thể có lần in sớm hơn chưa được ghi.
  • Tên người viết ghi theo cách sách in; cùng một người có thể ký nhiều bút hiệu, và cùng một bút hiệu có thể bị người khác dùng lại khi in lại sách.
  • Thư mục có lỗi gõ, nhất là dấu tiếng Việt; chúng tôi đã sửa dấu theo cách đọc hợp lý nhất, giữ nguyên nhan đề.
  • Bài không đánh giá nội dung sách. Cách lập lá số "phái Việt" mà site dùng chủ yếu theo Thái Thứ Lang và các sách phổ biến; điều đó không có nghĩa sách khác kém hơn.

Việc nên làm

  • Khi gặp một cuốn tử vi cũ, chép lại trang tên sách: người viết, nhà in, nơi in, năm in. Đó là dữ kiện quý hơn mọi lời giới thiệu.
  • Nếu có sách tử vi in ở Hà Nội trước 1954 hay in trong nước giai đoạn 1975 – 2000, thông tin thư mục của nó sẽ lấp được chỗ trống lớn nhất của danh sách này.
  • Đọc sách cũ với con mắt lịch sử: sách năm 1957 cho biết người năm 1957 hiểu tử vi thế nào, không chỉ là "sách đúng" hay "sách sai".

Muốn hỏi riêng cho trường hợp của bạn?

Đặt lịch gọi video với thầy — thầy xem lá số của bạn trước buổi gọi, nạp ví trước và chỉ trả theo thời gian gọi thật.

Xem lịch các thầy

Nguồn tham khảo

  • Hán Thư — Nghệ Văn Chí, phần tổng kết Số thuật lược (nguyên văn, đối chiếu bản Wikisource tiếng Trung).
  • Thư mục Open Library: các bản ghi Tử vi đẩu số và Tử vi bổ túc (Nguyễn Mạnh Bảo), Tử vi chỉ nam (Song An Đỗ Văn Lưu), Tử vi đẩu số tân biên (Vân Đằng Thái Thứ Lang), Tướng mệnh học khảo luận và Tử vi tinh điển (Vũ Tài Lục), Tử vi hàm số và Tử vi tổng hợp (Nguyễn Phát Lộc), Tử vi đẩu số phú giải (Thái Vân Trình), Tử vi áo bí biện chứng học (Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử), Tử vi dưới mắt khoa học (Nguyễn Đắc Lộc), Tử vi tướng pháp (Bửu Sơn), Kỳ Môn độn giáp (Nguyễn Mạnh Bảo); tra tháng 10/2026.

Câu hỏi thường gặp

Sách tử vi tiếng Việt đầu tiên là cuốn nào?

Chúng tôi chưa đủ dữ kiện để khẳng định. Trong thư mục đã tra, sớm nhất là bộ Tử vi đẩu số của Nguyễn Mạnh Bảo, ghi in ở Sài Gòn trong khoảng 1951 – 1958; sách in ở Hà Nội trước 1954 chưa được đối chiếu.

Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Thái Thứ Lang in năm nào?

Theo ghi chú biên mục của bản in lại năm 1981, sách in lần đầu ở Sài Gòn năm 1956, do Tín Đức Thư xã ấn hành.

Vì sao nhiều sách tử vi cũ in ở California?

Sau 1975, nhiều nhà sách của người Việt ở hải ngoại, như Đại Nam, Dainamco ở Glendale, in lại sách Sài Gòn để phục vụ cộng đồng. Thư viện Mỹ biên mục các bản in lại ấy nên chúng còn dấu vết.

Danh sách này có đầy đủ không?

Không. Nó thiếu sách in ở Hà Nội trước 1954, sách trong nước sau 1975, sách Hán Nôm và những người dạy không in sách. Đó là giới hạn của nguồn thư mục đã dùng.

Vì sao bài không đánh giá sách nào hay?

Vì mục đích là ghi lại dữ kiện có thể kiểm, và vì nhiều người viết có thể còn sống. Việc so nội dung các phép an sao để ở các bài kỹ thuật của trụ Mệnh, như các trường phái tử vi.

Nguồn tham khảo: Hán Thư — Nghệ Văn Chí, phần Số thuật lược · Thư mục Open Library (dữ liệu biên mục của các thư viện Mỹ, trong đó có Thư viện Quốc hội Mỹ) — tra cứu tháng 10/2026 · Vân Đằng Thái Thứ Lang — Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Tín Đức Thư xã, Sài Gòn, 1956

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác: y đức, Y Dịch và hai gốc tiên thiên, hậu thiên trong sách ôngHải Thượng Lãn Ông và Kinh Dịch: hai tập Huyền Tẫn Phát Vi, Khôn Hoá Thái Chân dựng trên cặp tiên thiên, hậu thiên; tên sách lấy …
Trần Trọng Kim bàn Kinh Dịch trong "Nho Giáo": cách một nhà sử học giải nghĩa quẻ cho người đọc quốc ngữKinh Dịch trong Nho Giáo của Trần Trọng Kim (1930): Dịch là sách tượng số để bói và cũng là sách lý học; ông phê cả người nệ thuậ…
La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp: ẩn sĩ núi Thiên Nhẫn, giai thoại xem thiên văn và chuyện chọn đất Phượng Hoàng Trung ĐôLa Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp: ẩn sĩ được Quang Trung mời nhiều lần, lời đoán "không quá mười ngày", việc chọn đất Phượng Hoàng Trun…
Nguyễn Bỉnh Khiêm và lý số: Thái Ất, giai thoại và văn bản còn lạiNguyễn Bỉnh Khiêm và lý số: tách ba lớp văn bản ông viết, sử chép và giai thoại; đọc chữ Trung, chữ Nhàn trong thơ Bạch Vân Am nh…
Thiền sư Vạn Hạnh: lời sấm cây gạo, nhà Lý và cách đọc một bài sấm như sử liệuThiền sư Vạn Hạnh qua Thiền Uyển Tập Anh và Toàn Thư: bài sấm cây gạo, chiết tự chữ Lê chữ Lý, vai trò trong việc Lý Công Uẩn lên…
Tả Ao (Nguyễn Đức Huyên): thầy địa lý của người Việt, một cái tên bốn cách ghiTả Ao, thầy địa lý nổi tiếng nhất của người Việt: tên thật mỗi sách ghi một kiểu, truyện sang Tàu học nghề, các sách ca quyết man…