Trần Trọng Kim bàn Kinh Dịch trong "Nho Giáo": cách một nhà sử học giải nghĩa quẻ cho người đọc quốc ngữ

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 8 phút đọc

Trần Trọng Kim bàn Kinh Dịch trong "Nho Giáo": cách một nhà sử học giải nghĩa quẻ cho người đọc quốc ngữ

Trong bộ "Nho Giáo" (in năm 1930), Trần Trọng Kim không dịch trọn Kinh Dịch mà dùng nó làm nền cho phần triết học của Khổng giáo. Ông viết thẳng rằng Dịch "là sách tượng số để bói-toán xem cát hung" và cũng là sách lý học; ông phê cả người "nệ về thuật-số, chỉ chú ý về việc bói toán" lẫn người chỉ bàn lẽ cao xa mà "chìm đắm vào cõi hư-vô tịch-mịch". Trọng tâm ông chọn là chữ "biến" và chữ "thời".

Đặt cạnh bộ Chu Dịch của Phan Bội Châu và cuốn "Kinh Dịch, đạo của người quân tử" của Nguyễn Hiến Lê, phần Dịch trong "Nho Giáo" là cửa vào sớm nhất bằng quốc ngữ, và cũng là cửa vào "lấy triết học làm chính" đầu tiên. Bài này đọc lại những trang ấy theo bản trên Wikisource tiếng Việt.

Cuốn sách và người viết

Trần Trọng Kim (1883 – 1953) là nhà giáo, nhà sử học, tác giả "Việt Nam Sử Lược", về sau làm Thủ tướng chính phủ năm 1945. "Nho Giáo" là bộ sách hai quyển, trình bày Khổng giáo từ thời thượng cổ Trung Hoa đến Nho học ở Việt Nam, viết bằng thứ quốc ngữ còn nhiều gạch nối, dành cho lớp người đọc vừa rời chữ Hán.

Bố cục quyển thượng cho thấy Kinh Dịch nằm ở đâu: Thiên III "Học thuyết của Khổng Tử" mở bằng phần Hình nhi thượng học (siêu hình học), và ở đây Dịch là xương sống; Thiên V "Những sách của Khổng Tử" có một mục riêng giới thiệu Kinh Dịch như một bộ kinh. Nói cách khác, ông dùng Dịch ở hai vai: nền triết học và một quyển sách cần giới thiệu.

Ngay khi ra đời, sách đã bị Phan Khôi phê bình trên báo và mở ra một cuộc tranh luận về cách hiểu Nho giáo; phần lớn tranh luận xoay quanh phương pháp và các khái niệm Khổng học, không riêng phần Dịch.

"Dịch là biến đổi": Dịch làm nền siêu hình học

Trong Thiên III, ông bắt đầu từ Thái cực sinh lưỡng nghi, rồi dừng lại ở một nhận xét khiêm tốn: bản thể của Thái cực không biết được, nên học thuyết chỉ bàn đến chỗ động của lý ấy. Từ đó, ông viết gọn: "Dịch là biến-đổi", và coi biến hoá là quan niệm trọng yếu nhất của Khổng giáo.

Cách ông giải quẻ, hào cho người đọc mới là đáng học:

  • Hai nét liền, đứt là dấu dương và âm; chồng ba thành tám quẻ, chồng sáu thành sáu mươi tư quẻ. Ông không đi vào bảng nạp giáp hay số học; chỉ cần người đọc nắm được rằng mọi quẻ là tổ hợp của hai ký hiệu.
  • Quẻ Càn, hào Sơ Cửu "tiềm long vật dụng": rồng còn chìm dưới nước thì chưa nên làm gì; ông lấy chữ "vật dụng" (chớ dùng) làm chỗ "trung" của hào.
  • Hào Cửu Nhị "hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân": ông lấy chữ "kiến" (gặp) làm chỗ "trung".
  • Câu "tam nhân hành tắc tổn nhất nhân" (ba người đi thì bớt một người) của quẻ Tổn, ông dùng để nói lẽ chẵn lẻ (cơ ngẫu) trong sinh hoá.
  • Câu "đồng đồng vãng lai, bằng tòng nhĩ tư" (đi lại bồn chồn, bạn bè theo ý mày) của quẻ Hàm, ông dùng để nói sự cảm ứng bị thu hẹp khi người ta chỉ chăm chăm nghĩ riêng.

Mỗi ví dụ đều được kéo về một khái niệm triết học: trung, cơ ngẫu, cảm ứng. Đó là cách một nhà sử học, nhà giáo đọc Dịch: không giải đoán, mà giải nghĩa.

Mục Kinh Dịch trong Thiên V: không giấu phần bói

Đây là chỗ cần đọc kỹ, vì người ta hay tóm tắt sai rằng Trần Trọng Kim "gạt bỏ chuyện bói". Thật ra ông viết khá công bằng:

  1. Nguồn gốc theo truyền thống. Ông kể Phục Hy nhân Hà Đồ mà vạch quẻ, Hạ Vũ nhân Lạc Thư mà đặt Cửu trù, Văn Vương diễn lại quẻ, đặt Hậu thiên bát quái và soạn Thoán từ, Chu Công soạn Hào từ, Khổng Tử làm Thập dực. Ông còn ghi năm của Phục Hy theo truyền thống (4477 – 4363 trước Công nguyên). Ở điểm này ông chưa phân lớp truyền thuyết với sử liệu như giới nghiên cứu về sau (xem bài Phục Hy và Hà Đồ, Lạc Thư của site).
  2. Dịch vốn chủ về bói. Ông viết rằng Dịch "tuy có phần bí-truyền nói về đạo-lý, nhưng vẫn chủ về việc bốc-phệ", và chỉ từ Khổng Tử thì phần đạo lý mới được đề cao.
  3. Hai lối lệch. Ông phê người đời sau "nệ về thuật-số, chỉ chú ý về việc bói toán", và cũng phê người chỉ bàn lý mà "chìm đắm vào cõi hư-vô tịch-mịch, trái với đạo nhân nghĩa trung chính".
  4. Định nghĩa gộp. Kết luận của ông: Dịch "là sách tượng số để bói-toán xem cát hung" và lại là sách lý học; tách rời hai phần là sai.
  5. Cách đọc. Đạo Dịch là nhân nghĩa trung chính; Dịch là sách mưu cho người quân tử, không mưu cho kẻ tiểu nhân; và: "Có hiểu được chữ thời thì mới hiểu được đạo Dịch."

Như vậy ông không gạt phần bói, mà đặt nó đúng chỗ: là một nửa của sách, nhưng không phải nửa ông muốn người đọc quốc ngữ dừng lại. Cách đặt vấn đề này gần với tinh thần câu "bất chiêm nhi dĩ hĩ" của Khổng Tử (xem Khổng Tử dạy đọc Dịch hay dạy đừng bói).

Ba người Việt đọc Dịch bằng quốc ngữ

Trần Trọng Kim, "Nho Giáo" (1930)Phan Bội Châu, "Chu Dịch" (viết những năm ở Huế)Nguyễn Hiến Lê, "Kinh Dịch, đạo của người quân tử"
Phạm vikhông dịch trọn; dùng Dịch làm nền triết học, có mục giới thiệudịch và giảng đủ 64 quẻchọn lọc, giảng theo lối xử thế
Thái độ với bóithừa nhận là một nửa của sách, phê người nệ thuật sốtheo Trình, Chu, có giữ phần chiêmgần như bỏ hẳn
Điểm mạnhđặt Dịch vào toàn bộ hệ thống Khổng giáo; khái niệm "biến", "thời", "trung"đầy đủ, sát chú giải Tống Nho, có lời bàn của người làm cách mạngsáng, dễ vào, gắn với đời sống
Điểm cần biếtnhận truyền thuyết Phục Hy, Văn Vương gần như nguyên vẹnvăn phong cổ, nặng Hán Việtít dữ kiện văn bản học

Chi tiết về hai bộ sau có ở bài Phan Bội Châu và bộ Chu Dịch và Nguyễn Hiến Lê và Kinh Dịch. Đọc cả ba theo thứ tự này (Trần Trọng Kim để thấy Dịch nằm ở đâu trong Nho giáo, Nguyễn Hiến Lê để vào cửa dễ, Phan Bội Châu để đọc đủ) là một lộ trình tốt cho người đọc tiếng Việt.

Vì sao cách đọc của ông vẫn có giá trị

  • Ông nói rõ cả hai mặt. Sách nhập môn thường hoặc tôn Dịch thành "khoa học vũ trụ", hoặc hạ nó thành "sách bói". Trần Trọng Kim nói bình thản rằng nó là cả hai, và mỗi lối lệch có cái hại riêng.
  • Chữ "thời". Câu "có hiểu được chữ thời thì mới hiểu được đạo Dịch" là một chìa khoá đọc Dịch rất gọn. Mỗi quẻ là một thời; cùng một việc, làm đúng thời thì lành, sai thời thì dữ. Đây cũng chính là lý do người ta gieo quẻ: để hỏi "thời này là thời nào".
  • Ngôn ngữ. Ông là người đầu tiên đưa các khái niệm Dịch học vào quốc ngữ một cách có hệ thống, dù còn nhiều chữ Hán Việt.

Sách cổ nói gì

易之為書也不可遠,為道也屢遷,變動不居,周流六虛。 Dịch chi vi thư dã bất khả viễn, vi đạo dã lũ thiên, biến động bất cư, chu lưu lục hư.

Dịch là sách không thể xa rời; đạo của nó thường đổi dời, biến động không ở yên, chảy khắp sáu ngôi. — Chu Dịch, Hệ Từ hạ truyện

Bình: đây là nền văn bản cho câu "Dịch là biến đổi" của Trần Trọng Kim. Ông đọc Hệ Từ như Tống Nho đọc: Dịch trước hết là triết lý về biến hoá.

初九:潛龍勿用。九二:見龍在田,利見大人。 Sơ Cửu: tiềm long vật dụng. Cửu Nhị: hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân.

Hào đầu: rồng ẩn, chớ dùng. Hào hai: rồng hiện ở ruộng, lợi gặp người lớn. — Chu Dịch, quẻ Càn

Bình: hai hào ông chọn làm ví dụ cho chữ "trung". Một hào dạy chờ, một hào dạy ra mặt; cùng một con rồng, khác thời thì khác việc. Đó là chữ "thời" ông nói.

"Có hiểu được chữ thời thì mới hiểu được đạo Dịch." — Trần Trọng Kim, Nho Giáo, Thiên V

Đọc cho đúng mức

  • "Nho Giáo" không phải bản dịch Kinh Dịch. Ai cần đọc lời từng quẻ nên tìm bản dịch trọn bộ; Trần Trọng Kim chỉ dẫn những câu phục vụ phần triết học.
  • Ông nhận truyền thống gần như nguyên vẹn: Phục Hy vạch quẻ từ Hà Đồ, Khổng Tử làm Thập dực, cả năm tháng của Phục Hy. Nghiên cứu văn bản học về sau đã đặt lại nhiều điều này.
  • Đừng tóm ông thành "gạt bỏ bói". Văn bản cho thấy ông thừa nhận phần bói, chỉ phê cái lệch chỉ thấy bói.
  • Trích dẫn trong bài theo bản trên Wikisource tiếng Việt, chính tả cũ với gạch nối; các bản in lại có thể đã chỉnh câu chữ.
  • Cuộc tranh luận với Phan Khôi chỉ được nhắc ở mức thông tin; bài này không đi vào nội dung.

Việc nên làm

  1. Đọc Thiên III, phần Hình nhi thượng học, rồi mục Kinh Dịch trong Thiên V của "Nho Giáo" trên Wikisource tiếng Việt.
  2. Ghi lại các câu Dịch ông dẫn và khái niệm ông rút ra từ mỗi câu (trung, cơ ngẫu, cảm ứng, thời).
  3. Đọc tiếp Nguyễn Hiến Lê rồi Phan Bội Châu theo lộ trình trong bài.
  4. Khi gieo quẻ, thử hỏi câu của ông: thời này là thời nào, việc mình định làm có hợp thời không.
  5. Dùng công cụ gieo quẻ của site để thực hành đọc một quẻ theo lối nghĩa lý.
☯️Gieo quẻ Kinh Dịch
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.
✨ Dùng thử

Nguồn tham khảo

  • Trần Trọng Kim, Nho Giáo, quyển thượng, Thiên III và Thiên V (bản Wikisource tiếng Việt).
  • Chu Dịch, Hệ Từ hạ truyện; quẻ Càn (đối chiếu bản số hoá).

Câu hỏi thường gặp

Trần Trọng Kim có dịch Kinh Dịch không?

Không dịch trọn. Trong "Nho Giáo" (1930), ông dùng Kinh Dịch làm nền cho phần siêu hình học của Khổng giáo và có một mục giới thiệu Kinh Dịch như một bộ kinh.

Trần Trọng Kim nghĩ gì về việc bói bằng Kinh Dịch?

Ông thừa nhận Dịch vốn chủ về bốc phệ và là sách tượng số để xem cát hung, nhưng phê người "nệ về thuật-số, chỉ chú ý về việc bói toán", cũng như người chỉ bàn lý mà rơi vào hư vô.

"Có hiểu được chữ thời thì mới hiểu được đạo Dịch" nghĩa là gì?

Mỗi quẻ là một thời; cùng một việc, làm đúng thời thì thuận, sai thời thì nghịch. Theo ông, nắm được chữ thời là nắm được đạo Dịch.

Nên đọc Kinh Dịch tiếng Việt của ai trước?

Có thể đọc Trần Trọng Kim để thấy Dịch nằm ở đâu trong Nho giáo, Nguyễn Hiến Lê để vào cửa dễ, rồi Phan Bội Châu để đọc đủ sáu mươi tư quẻ.

"Nho Giáo" của Trần Trọng Kim xuất bản năm nào?

Năm 1930, gồm hai quyển; về sau được in lại nhiều lần và có bản trên Wikisource tiếng Việt.

Nguồn tham khảo: Trần Trọng Kim — Nho Giáo, quyển thượng — Thiên III Hình nhi thượng học; Thiên V Những sách của Khổng Tử, mục Kinh Dịch · Chu Dịch — Hệ Từ hạ truyện · Chu Dịch — quẻ Càn, hào Sơ Cửu, Cửu Nhị

Vân Đằng Thái Thứ Lang và Tử Vi Đẩu Số Tân Biên: cuốn sách định hình tử vi ViệtThái Thứ Lang và Tử Vi Đẩu Số Tân Biên (Sài Gòn, 1956): cấu trúc ba phần, những cách an sao làm nên phái Việt, kết quả đối chiếu …
Hoàng Xuân Hãn và "Lịch và Lịch Việt Nam": tài liệu gốc cho mọi tranh luận Tết lệchLịch và Lịch Việt Nam của Hoàng Xuân Hãn (1982): ông dùng tháng nhuận trong sử, bia để dựng lại lịch Lý, Trần, Lê, chỉ ra lịch Vi…
Nguyễn Bỉnh Khiêm và lý số: Thái Ất, giai thoại và văn bản còn lạiNguyễn Bỉnh Khiêm và lý số: tách ba lớp văn bản ông viết, sử chép và giai thoại; đọc chữ Trung, chữ Nhàn trong thơ Bạch Vân Am nh…
Phạm Đình Hổ ghi chuyện thầy địa lý, ngày kiêng, điềm lạ trong Vũ Trung Tùy Bút: một nhà Nho hoài nghi có chọn lọcVũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ: bác thuyết long mạch của thầy phong thuỷ, không tin kiêng trùng tang vì điển lễ không chép, nh…
Ngô Tất Tố dịch Kinh Dịch: bản dịch của nhà văn, dựng trên Chu Dịch Đại Toàn và cố giữ cái "ngớ ngẩn đột ngột" của lời kinhBản Kinh Dịch của Ngô Tất Tố: dịch từ Chu Dịch Đại Toàn, đặt Trình truyện cạnh Bản nghĩa Chu Hy, dịch lời kinh bằng tiếng cổ thửa…
Nguyễn Hiến Lê và "Kinh Dịch – Đạo của người quân tử": đọc Dịch như sách sống ở đờiKinh Dịch – Đạo của người quân tử của Nguyễn Hiến Lê: vì sao đọc Dịch như sách đạo đức, 53 quẻ Đại Tượng nói quân tử, chỗ mạnh vớ…