Kích thước bàn giám đốc theo thước Lỗ Ban 42,9 cm và chỗ đặt bàn
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 7 phút đọc
Bàn giám đốc là đồ đặc, nên đo bằng thước Lỗ Ban 42,9 cm, không phải thước 52,2 cm. Chọn khổ theo phòng trước (dài 1,6 – 2,4 m), rồi xê dịch vài phân cho lọt cung tốt: dài 170, 175, 190, 195, 212, 215 hoặc 240 cm; sâu 85 – 90 cm. Ba khổ tròn 160, 180, 200 cm của hàng làm sẵn đều rơi cung xấu.
Thước nào cho bàn: 42,9 chứ không phải 52,2
Ở Việt Nam đang lưu hành ba cây thước Lỗ Ban. Cây 52,2 cm đo khoảng rỗng (cửa, ô thoáng, lọt lòng). Cây 38,8 cm đo âm phần và đồ thờ. Cây 42,9 cm đo khối đặc trong nhà ở: giường, tủ, bàn, bệ bếp. Bàn làm việc là khối đặc, nên dùng 42,9 cm (so sánh đủ ba cây ở bài ba loại thước Lỗ Ban).
Cây 42,9 cm cũng là cây có gốc sách rõ nhất. Lỗ Ban Kinh, sách thợ mộc khắc cuối đời Minh, nói tới cây thước tám chữ Tài, Bệnh, Ly, Nghĩa, Quan, Kiếp, Hại, Bản, dài một thước bốn tấc bốn phân thước thợ thời ấy (đại ý). Bốn chữ Tài, Nghĩa, Quan, Bản là tốt; bốn chữ Bệnh, Ly, Kiếp, Hại là xấu. Con số 42,9 cm là quy đổi của thước cuộn hiện nay.
Nhịp của cây thước: 10,7 cm tốt, 10,7 cm xấu
Chạy công cụ thước Lỗ Ban của site trên dải 50 – 250 cm, các đoạn tốt hiện ra rất đều:
| Đoạn tốt (cm) | Cung | Đoạn xấu ngay sau (cm) |
|---|---|---|
| 59,0 – 69,7 | Nghĩa, Quan | 69,7 – 80,4 |
| 80,4 – 91,2 | Bản, Tài | 91,2 – 101,9 |
| 101,9 – 112,6 | Nghĩa, Quan | 112,6 – 123,3 |
| 123,3 – 134,1 | Bản, Tài | 134,1 – 144,8 |
| 144,8 – 155,5 | Nghĩa, Quan | 155,5 – 166,2 |
| 166,2 – 177,0 | Bản, Tài | 177,0 – 187,7 |
| 187,7 – 198,4 | Nghĩa, Quan | 198,4 – 209,1 |
| 209,1 – 219,9 | Bản, Tài | 219,9 – 230,6 |
| 230,6 – 241,3 | Nghĩa, Quan | 241,3 – 252,0 |
Lý do: mỗi cung dài 42,9 ÷ 8 ≈ 5,36 cm, và cung tốt, cung xấu xếp thành từng cặp (Bản liền Tài của vòng sau, Nghĩa liền Quan; Bệnh liền Ly, Kiếp liền Hại). Nên trên thước 42,9, cứ khoảng 10,7 cm tốt lại tới 10,7 cm xấu, đều như nhịp. Một nửa mọi kích thước là tốt; việc của người đặt bàn chỉ là đừng rơi vào nửa kia.
Ba khổ làm sẵn đều rơi cung xấu
Bàn văn phòng bán sẵn hay có chiều dài tròn mét:
| Dài | Cung | Số gần nhất lọt cung tốt |
|---|---|---|
| 160 cm | Kiếp (xấu) | 170 cm (Bản) |
| 180 cm | Bệnh (xấu) | 175 cm (Tài) hoặc 190 cm (Nghĩa) |
| 200 cm | Kiếp (xấu) | 195 cm (Quan) hoặc 212 cm (Bản) |
| 220 cm | Bệnh (xấu, sát ranh giới) | 215 cm (Tài) |
| 240 cm | Quan (tốt) | giữ nguyên |
Đây là chỗ đáng biết khi mua bàn: hàng làm sẵn khổ 1m6, 1m8, 2m đều nằm trong dải xấu. Muốn theo thước thì đặt đóng, hoặc chọn mẫu khổ 1m7, 1m9, khoảng 2m12, hoặc khổ 2m4.
Chiều sâu (rộng mặt bàn): 85 cm (Bản), 88 – 90 cm (Tài) đều tốt; 80 cm rơi Hại, 95 – 100 cm rơi Bệnh, Ly. Bàn hẹp kiểu bàn phụ thì 60 – 68 cm (Nghĩa, Quan).
Cánh phụ của bàn chữ L: dài 105 – 112 cm (Nghĩa, Quan) tốt; 115 – 120 cm rơi Kiếp, Hại; 125 – 130 cm (Bản, Tài) tốt trở lại.
Chiều cao: chỗ thước và thân người vênh nhau
Bàn làm việc ngồi thường cao 72 – 76 cm để vừa với ghế văn phòng và tầm tay người Việt. Cả dải ấy nằm trong đoạn 69,7 – 80,4 cm, toàn cung xấu (Kiếp, Hại) của thước 42,9. Bàn 75 cm rơi cung Kiếp.
Có ba cách xử lý, nói thẳng ưu nhược:
- Chiều cao theo người, không theo thước. Nhiều thợ chỉ xét dài và rộng, coi chiều cao là chuyện của ghế và thân người. Đây là cách chúng tôi khuyên: ngồi làm việc tám tiếng mỗi ngày ở độ cao sai thì cổ, vai chịu thật.
- Hạ xuống 66 – 68 cm (Quan), dùng ghế chỉnh được hạ thấp theo. Hợp người dưới khoảng 1,65 mét.
- Nâng lên 82 – 85 cm (Bản): chỉ hợp bàn đứng hoặc bàn tiếp khách đứng; ngồi ghế thường thì quá cao.
Chiều cao cũng nên đo đúng chỗ: mặt bàn tính từ sàn tới mặt trên, không tính chân tăng chỉnh hay thảm.
Đo cái gì, sai số bao nhiêu
- Đo phủ bì mặt bàn: mép ngoài tới mép ngoài, kể cả nẹp viền. Không đo khung chân, không đo phần kính đặt trên.
- Chừa lề: chọn số cách ranh giới sang cung xấu ít nhất 1 cm. Gỗ công nghiệp cắt máy sai vài milimet, nhưng mặt gỗ tự nhiên co ngót, nẹp dán thêm có thể làm số lệch 3 – 5 mm. Ví dụ bàn 177 cm đã lố sang cung Bệnh chưa tới 1 mm, còn 176 cm chỉ cách ranh giới đúng 1 cm; nên chọn 175 cm. Ranh giới giữa hai cung cùng tốt (Bản sang Tài, Nghĩa sang Quan) thì không cần né.
- Ghi trên bản vẽ đặt đóng con số phủ bì, để xưởng không tự cộng thêm viền.
Chọn khổ theo phòng trước
Thước chỉ dùng để nhích vài phân. Khổ bàn phải theo phòng:
| Phòng | Dài bàn hợp | Gợi ý số lọt cung |
|---|---|---|
| khoảng 3 x 4 m | 1,6 – 1,8 m | 170 hoặc 175 cm |
| khoảng 4 x 5 m | 1,8 – 2,0 m | 190 hoặc 195 cm |
| từ 5 x 6 m | 2,0 – 2,4 m | 212, 215 hoặc 240 cm |
Thói quen thiết kế văn phòng: sau lưng ghế chừa 90 – 110 cm cho ghế lùi và người đi qua; trước bàn chừa chỗ hai ghế khách và lối đi. Bàn to quá phòng làm người ngồi bị kẹt giữa bàn và tường, mất luôn cái "thế" mà phòng giám đốc cần.
Chỗ đặt bàn
Khổ bàn đúng mà đặt sai chỗ thì vô ích. Ba điều, theo thứ tự:
- Tựa lưng: sau lưng là tường đặc hoặc tủ cao, không phải cửa kính sát đất. Ghế lưng cao góp phần này (bài ghế làm việc lưng cao).
- Thấy cửa: ngồi ở góc chéo xa cửa, nhìn thấy người bước vào; không đặt bàn thẳng trục cửa.
- Ánh sáng từ bên cạnh, không ngược sáng sau lưng khách ngồi đối diện.
Rồi mới tới hướng theo cung phi người ngồi (bài hướng bàn làm việc) và vị trí phòng trong cả tầng (bài phòng giám đốc đặt ở đâu).
Sách cổ nói gì
Lỗ Ban Kinh, đoạn về thước, đại ý: thước Lỗ Ban dài một thước bốn tấc bốn phân thước thợ, chia tám phần, mỗi phần một chữ theo thứ tự Tài, Bệnh, Ly, Nghĩa, Quan, Kiếp, Hại, Bản; thợ làm đồ thì lấy chữ tốt mà dùng. — Lỗ Ban Kinh (dẫn đại ý vì các bản lưu hành khác chữ nhau)
Bình: đây là sách của thợ, không phải của thầy địa lý. Tám chữ là lời chúc và lời răn của nghề mộc. Cách dùng đúng tinh thần sách là người thợ chọn kích thước đẹp trong cái khổ mà công năng đã định, không phải để chữ trên thước quyết định khổ bàn.
Táng Thư, đại ý: sau có Huyền Vũ, trước có Chu Tước, hai bên Thanh Long, Bạch Hổ. — Táng Thư, Quách Phác (tương truyền)
Bình: sách tả thế đất quanh huyệt mộ; đời sau mượn cho chỗ ngồi thành nguyên tắc tựa lưng, thấy cửa. Với bàn giám đốc, nguyên tắc ấy quan trọng hơn mọi con số trên thước.
Đọc cho đúng mức
- Thước Lỗ Ban là tục của thợ mộc, không thuộc phái phong thủy lý khí nào. Không có kiểm chứng nào cho thấy bàn rơi cung Kiếp làm hao tổn gì.
- Chiều cao theo thân người là chỗ nên bỏ thước khi hai bên vênh nhau.
- Khổ bàn theo phòng, thước chỉ để nhích vài phân.
- Chỗ đặt bàn quan trọng hơn kích thước.
Việc nên làm
- Đo phòng, chọn khổ dài theo bảng phòng ở trên.
- Tra số dài, sâu trên công cụ thước Lỗ Ban; chọn số cách ranh giới sang cung xấu ít nhất 1 cm.
- Hàng làm sẵn 1m6, 1m8, 2m: đổi sang 1m7, 1m9, khoảng 2m12 hoặc 2m4 nếu muốn theo thước.
- Chiều cao: theo người ngồi và ghế; chỉ hạ xuống 66 – 68 cm nếu người ngồi thấp.
- Ghi số phủ bì lên bản vẽ đặt đóng.
- Đặt bàn tựa lưng tường, chéo cửa, ánh sáng từ bên cạnh.
Tra kích thước cửa, bàn thờ, mộ trên ba loại thước 52,2 – 42,9 – 38,8 cm.Mở
Nguồn tham khảo
- Lỗ Ban Kinh (Lỗ Ban Kinh Tượng Gia Kính), sách thợ cuối đời Minh — đoạn về thước tám chữ, dẫn đại ý.
- Táng Thư, tương truyền của Quách Phác — đoạn tứ linh, đại ý.
- Mọi cung thước 42,9 cm trong bài tính bằng công cụ thước Lỗ Ban của aihuyenhoc.com; khoảng chừa sau ghế là thói quen thiết kế văn phòng thường gặp.
Câu hỏi thường gặp
Bàn giám đốc đo bằng thước Lỗ Ban nào?
Thước 42,9 cm, cây dùng cho khối đặc trong nhà như bàn, giường, tủ. Thước 52,2 cm dùng cho khoảng rỗng như cửa, không dùng cho bàn.
Bàn giám đốc 1m8 có hợp thước Lỗ Ban không?
Không: 180 cm rơi cung Bệnh trên thước 42,9 cm. Số gần nhất lọt cung tốt là 175 cm (Tài) hoặc 190 cm (Nghĩa).
Kích thước bàn giám đốc đẹp là bao nhiêu?
Dài 170, 175, 190, 195, 212, 215 hoặc 240 cm; sâu 85 hoặc 88 – 90 cm. Chọn theo cỡ phòng trước, rồi lấy số gần nhất trong danh sách.
Bàn làm việc cao 75 cm có hợp thước Lỗ Ban không?
Không: 75 cm rơi cung Kiếp, và cả dải 69,7 – 80,4 cm đều là cung xấu. Nên ưu tiên chiều cao theo người ngồi; nếu muốn theo thước thì hạ xuống 66 – 68 cm.
Đo bàn theo mặt bàn hay theo khung chân?
Đo phủ bì mặt bàn, mép ngoài tới mép ngoài, kể cả nẹp viền. Không đo khung chân hay tấm kính đặt trên.
Nguồn tham khảo: Lỗ Ban Kinh (Lỗ Ban Kinh Tượng Gia Kính) — sách thợ mộc cuối đời Minh — đoạn về thước tám chữ · Táng Thư — Quách Phác (tương truyền đời Tấn) — tứ linh