Lộc Kỵ đồng cung, Lộc Kỵ xung nhau: được và vướng ở cùng một chỗ
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc
Lộc Kỵ đồng cung là khi Hoá Lộc và Hoá Kỵ cùng nằm trong một cung: mảng đời ấy vừa có cái thuận vừa có chỗ vướng. Cần tách hai trường hợp: Lộc và Kỵ đậu trên cùng một sao (thường là Lộc năm sinh gặp Kỵ của đại vận hay của năm), và Lộc, Kỵ đậu trên hai sao khác nhau cùng cung. Lộc Kỵ xung là khi hai hoá ở hai cung đối diện.
Ba thế hay bị gọi chung một tên
| Thế | Nghĩa là | Ví dụ |
|---|---|---|
| Lộc Kỵ cùng sao | một sao mang Lộc ở tầng này, mang Kỵ ở tầng khác | người tuổi Tân có Cự Môn hoá Lộc gốc; năm 2027 can Đinh làm Cự Môn hoá Kỵ |
| Lộc Kỵ khác sao, đồng cung | hai sao trong một cung, sao này mang Lộc, sao kia mang Kỵ | tuổi Tân có Cự Môn hoá Lộc và Văn Xương hoá Kỵ cùng ngồi một cung |
| Lộc Kỵ xung | Lộc ở một cung, Kỵ ở cung đối diện | tuổi Ất có Thiên Cơ hoá Lộc ở Tỵ, Thái Âm hoá Kỵ ở Hợi |
Ba thế này đọc khác nhau. Lộc Kỵ cùng sao là một việc đổi chiều theo thời gian: chỗ vốn thuận nay đòi công. Lộc Kỵ khác sao là hai việc cùng một mảng đời: một mặt suôn, một mặt vướng. Lộc Kỵ xung là một trục bị kéo hai đầu: bên này được, bên kia lay.
Năm sinh: chỉ ba can tạo được Lộc Kỵ cùng cung
Xét riêng Tứ Hoá năm sinh, Lộc và Kỵ luôn đậu trên hai sao khác nhau, nên chỉ có thể là thế khác sao. Bộ máy của site lập đủ 262.944 lá số cho trọn sáu mươi năm sinh (từ Tết Canh Tý 1960 tới hết năm Kỷ Hợi 2019, mọi ngày, mọi giờ) và đếm:
| Can năm sinh | Lộc – Kỵ | Lộc Kỵ cùng cung | Lộc Kỵ xung |
|---|---|---|---|
| Ất | Thiên Cơ – Thái Âm | 16,9% | 15,5% |
| Tân | Cự Môn – Văn Xương | 8,3% | 8,3% |
| Kỷ | Vũ Khúc – Văn Khúc | 8,4% | 8,3% |
| bảy can còn lại | 0% | 0% | |
| cả sáu mươi năm | 3,35% | 3,21% |
Bảy can không bao giờ có, vì khoảng cách giữa hai sao mang Lộc và Kỵ của chúng là cố định trên mọi lá số:
- Đinh: Thái Âm và Cự Môn luôn cách nhau hai cung.
- Canh: Thái Dương và Thiên Đồng luôn cách nhau hai cung.
- Quý: Phá Quân và Tham Lang luôn cách nhau bốn cung, tức luôn tam hợp. Người tuổi Quý có Lộc và Kỵ năm sinh lúc nào cũng hội chiếu nhau qua tam hợp, không bao giờ đồng cung, không bao giờ xung.
- Giáp, Bính, Mậu, Nhâm: hai sao cách nhau một số lẻ bước, không bao giờ trùng nhau hay đối nhau.
Riêng tuổi Ất, Thiên Cơ và Thái Âm chỉ đồng cung khi đứng ở Dần hoặc Thân (thế Cơ Âm đồng cung), và chỉ xung nhau khi đứng ở Tỵ – Hợi. Tuổi Tân và Kỷ có một trong hai sao là Văn Xương, Văn Khúc, an theo giờ sinh, nên chuyện đồng cung hay xung tuỳ giờ.
Lộc Kỵ cùng sao: chuyện của đại vận và lưu niên
Thế đáng để ý hơn nằm ở các tầng thời gian: sao mang Lộc năm sinh, tới một đại vận hay một năm nào đó, lại mang Kỵ. Bảng dưới cho biết can nào làm sao Lộc gốc của mình hoá Kỵ, và ngược lại can nào làm sao Kỵ gốc của mình hoá Lộc.
| Tuổi (can năm sinh) | Sao Lộc gốc | Hoá Kỵ khi gặp can | Sao Kỵ gốc | Hoá Lộc khi gặp can |
|---|---|---|---|---|
| Giáp | Liêm Trinh | Bính | Thái Dương | Canh |
| Ất | Thiên Cơ | Mậu | Thái Âm | Đinh |
| Bính | Thiên Đồng | Canh | Liêm Trinh | Giáp |
| Đinh | Thái Âm | Ất | Cự Môn | Tân |
| Mậu | Tham Lang | Quý | Thiên Cơ | Ất |
| Kỷ | Vũ Khúc | Nhâm | Văn Khúc | không can nào |
| Canh | Thái Dương | Giáp | Thiên Đồng | Bính |
| Tân | Cự Môn | Đinh | Văn Xương | không can nào |
| Nhâm | Thiên Lương | không can nào | Vũ Khúc | Kỷ |
| Quý | Phá Quân | không can nào | Tham Lang | Mậu |
Cách dùng: "gặp can" là can của năm đang xem hoặc can của cung đại vận đang chạy (cách chồng ba tầng ở bài Tứ Hoá lưu niên). Năm 2027 là năm Đinh, nên:
- Người tuổi Tân (1961, 1971, 1981, 1991, 2001): sao Cự Môn mang Lộc gốc, năm 2027 mang thêm lưu Kỵ. Mảng đời có Cự Môn là chỗ vốn suôn, năm này cần nói kỹ, thoả thuận kỹ.
- Người tuổi Ất (1965, 1975, 1985, 1995): sao Thái Âm mang Kỵ gốc, năm 2027 nhận lưu Lộc. Chỗ để tâm lâu năm có dịp gỡ ra.
Hai dòng Nhâm, Quý cho thấy một điều thú vị: Thiên Lương và Phá Quân không bao giờ hoá Kỵ ở bất kỳ can nào, nên người tuổi Nhâm, Quý không bao giờ thấy sao Lộc gốc của mình bị Kỵ đè ở tầng vận hay năm. Ngược lại Văn Khúc, Văn Xương không bao giờ hoá Lộc, nên Kỵ gốc của tuổi Kỷ, Tân không bao giờ được Lộc của tầng khác đi qua đúng sao ấy.
Lộc tuỳ Kỵ tẩu: Lộc mở đầu, Kỵ thu lại
Phái Phi Tinh có một khẩu quyết quen, đại ý "Lộc tuỳ Kỵ tẩu": Lộc đi theo Kỵ. Bài Hoá Lộc đã dùng nó để lần đường bay từ cung này sang cung khác. Ở đây xét nó ngay trong một chỗ.
Các thầy Phi Tinh hay giảng Lộc là khởi, Kỵ là thu: Lộc mở ra một việc, Kỵ là chỗ việc ấy dừng lại, kết lại, hoặc phải trả. Khi Lộc và Kỵ ở cùng một sao hay cùng một cung, câu chuyện khép kín ngay tại đó: việc bắt đầu thuận và cũng kết ở đó với một món phải lo.
Đặt vào đời thường:
- Về tiền bạc. Lộc Kỵ cùng ở Tài Bạch: tiền đến dễ và đi cũng nhanh, hay có khoản vừa thu đã phải chi. Việc nên làm là tách tiền vào và tiền giữ, để Kỵ không "thu" hết những gì Lộc vừa mở.
- Về quan hệ. Lộc Kỵ cùng ở Nô Bộc: bạn bè mang cơ hội tới, và cũng chính họ mang việc nhờ. Giúp người trong giới hạn mình chịu được là cách giữ cả hai phía.
- Lộc gốc gặp Kỵ của vận. Mười năm ấy, chính cái mình vốn giỏi, vốn được, trở thành chỗ đòi công. Ví dụ người tuổi Canh có Thái Dương hoá Lộc gốc, gặp đại vận mang can Giáp thì Thái Dương hoá Kỵ: chuyện được ghi nhận, vốn là thế mạnh, mười năm ấy thành chỗ người ấy để tâm và bỏ công nhiều nhất.
Lộc Kỵ xung đọc khác một chút: Lộc làm ấm cung nó ngồi, Kỵ lay cung đối của nó, mà cung đối của Kỵ lại chính là chỗ Lộc đang ngồi. Một trục vừa được vừa bị kéo; hai mảng đời ở hai đầu trục cần được giữ cân bằng, đừng dồn hết sức vào một đầu. Sáu trục và mười hai chiều xung có ở bài Hoá Kỵ ở mười hai cung.
Một lá số: bốn hoá dồn về cung Điền Trạch
Lá số nam, sinh 12 giờ ngày 11/7/1981 (âm lịch 10 tháng Sáu năm Tân Dậu). Bộ máy lá số của site cho Mệnh ở Sửu có Thiên Phủ. Cung Điền Trạch ở Thìn có Cự Môn hãm mang Hoá Lộc năm sinh và Văn Xương mang Hoá Kỵ năm sinh, cùng Linh Tinh, Thiên La. Đó là thế Lộc Kỵ khác sao, đồng cung, ngay từ lá số gốc.
Các tầng thời gian dồn thêm vào đây:
| Tầng | Can | Hoá vào Điền Trạch |
|---|---|---|
| Gốc | Tân | Lộc (Cự Môn), Kỵ (Văn Xương) |
| Đại vận 45 – 54, cung Tài Bạch ở Dậu | Đinh | Kỵ (Cự Môn) |
| Lưu niên 2027 | Đinh | Kỵ (Cự Môn) |
Năm 2027 người này 47 tuổi âm, đang ở giữa đại vận Tài Bạch. Cự Môn mang Lộc gốc lại mang Kỵ của vận và Kỵ của năm: thế Lộc Kỵ cùng sao, chồng lên thế Lộc Kỵ khác sao vốn có.
Lớp Phi Tinh nói cùng một điều. Cung Mệnh mang can Tân (Tân Sửu) nên chính người này cũng phi Lộc và phi Kỵ vào Điền Trạch. Cung Tài Bạch can Đinh phi Kỵ vào Cự Môn ở Điền Trạch: đúng đại vận Tài Bạch dồn Kỵ về nhà đất.
Đọc gọn. Nhà cửa, đất đai, nề nếp gia đình là mảng đời người này có duyên (Lộc gốc) và cũng là chỗ hay vướng giấy tờ (Văn Xương hoá Kỵ) và lời qua tiếng lại (Cự Môn). Mười năm từ 45 tới 54 tuổi, tiền của chặng đời này có xu hướng đổ về nhà đất; năm 2027 là năm việc ấy nổi lên rõ. Kỵ ở Điền Trạch xung Quan Lộc ở Tỵ, nơi có Thiên Tướng đắc cùng Địa Không, Địa Kiếp: chuyện nhà dễ kéo sức khỏi công việc.
Việc cụ thể. Năm 2027, mọi giấy tờ nhà đất của người này nên được đọc kỹ, có người thứ hai cùng xem; thoả thuận với người nhà về tài sản chung nên viết ra; khoản vay cho nhà nên tính cả trường hợp thu nhập chậm lại. Lộc gốc vẫn ở đó: những việc nhà đất làm cẩn thận thường vẫn thành. Hai lớp Kỵ cùng đè một sao còn gọi là thế Song Kỵ, xem bài Song Kỵ, Kỵ chuyển Kỵ.
Sách cổ nói gì
Câu phú quen chép, thường dẫn là của Thái Vi Phú trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư:
Lộc phùng xung phá, cát xứ tàng hung.
Dịch: Lộc gặp xung phá thì trong chỗ lành có giấu chỗ dữ. — Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, Thái Vi Phú (câu phú quen chép; chưa đối chiếu bản in)
Bình: "xung phá" trong sách cũ trước hết là sát tinh và Hoá Kỵ chiếu tới Lộc. Câu này không nói Lộc mất, mà nói cái thuận ấy mang theo điều phải phòng. Lối giảng "Lộc tuỳ Kỵ tẩu" của Phi Tinh đi cùng hướng nhưng cụ thể hơn: nó chỉ ra cái phải phòng nằm ở đâu, đến lúc nào.
Đọc cho đúng mức
- Đừng gộp ba thế làm một. Nhiều trang gọi mọi trường hợp Lộc gặp Kỵ là "Lộc Kỵ đồng cung" rồi phán chung. Cùng sao, khác sao và xung nhau là ba câu chuyện khác nhau.
- "Lộc tuỳ Kỵ tẩu" là khẩu quyết của Phi Tinh thế kỷ hai mươi. Nó không có trong Toàn Thư; tử vi Việt truyền thống ít dùng. Nên đọc như một cách nhìn, không như luật.
- Văn Xương, Văn Khúc mang Kỵ đọc nhẹ hơn chính tinh mang Kỵ theo nhiều thầy, vì chúng là phụ tinh; nhưng chỗ chúng chỉ (giấy tờ, chữ ký) lại rất cụ thể.
- Can Canh có dị bản Hoá Kỵ (Thiên Đồng hay Thái Âm). Bảng trên theo bản site dùng (bảng Tứ Hoá theo can); người theo bản khác sẽ thấy dòng Canh và vài dòng liên quan đổi theo.
- Không có thế nào trong bài là lời báo trước mất mát. Chúng chỉ chỗ cần làm kỹ.
Việc nên làm
- Xem Lộc và Kỵ năm sinh của mình có cùng cung hay xung nhau không (chỉ có thể nếu tuổi Ất, Tân, Kỷ).
- Tra bảng thứ hai: sao Lộc gốc của mình hoá Kỵ khi gặp can nào; tìm xem đại vận nào mang can ấy, năm nào mang can ấy.
- Với cung có Lộc Kỵ cùng chỗ, đặt một việc "giữ lại": tách tiền, ghi thoả thuận, giới hạn việc nhận lời.
- Với trục Lộc Kỵ xung, chia sức cho cả hai đầu trục thay vì dồn về phía đang được.
Xem lá số tử vi của chính bạn
Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.
Lập lá số miễn phíNguồn tham khảo
- Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — Thái Vi Phú (câu "Lộc phùng xung phá…", theo bản chép phổ biến) và các phú luận về Lộc, Kỵ (đại ý).
- Vân Đằng Thái Thứ Lang — Tử Vi Đẩu Số Tân Biên (đại ý về Hoá Lộc, Hoá Kỵ).
- Tài liệu giảng dạy phái Phi Tinh, Khâm Thiên Tứ Hoá của Đài Loan về "Lộc tuỳ Kỵ tẩu", Lộc khởi Kỵ thu (đại ý, mức khái quát).
- Phép đếm 262.944 lá số (mọi ngày, mọi giờ từ Tết Canh Tý 1960 tới hết năm Kỷ Hợi 2019) và lá số ví dụ: bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com.
Câu hỏi thường gặp
Lộc Kỵ đồng cung là tốt hay xấu?
Không tốt hẳn, không xấu hẳn. Đó là mảng đời vừa có cái thuận vừa có chỗ vướng; việc bắt đầu dễ nhưng hay kết lại với một món phải lo. Đọc kỹ sao mang từng hoá và độ sáng trước khi kết luận.
Vì sao tuổi Đinh không bao giờ có Lộc Kỵ năm sinh cùng cung?
Vì Thái Âm (Lộc) và Cự Môn (Kỵ) của can Đinh luôn đứng cách nhau hai cung trên mọi lá số. Bảy can Giáp, Bính, Đinh, Mậu, Canh, Nhâm, Quý đều không bao giờ có thế này ở năm sinh.
"Lộc tuỳ Kỵ tẩu" nghĩa là gì?
Khẩu quyết của phái Phi Tinh, đại ý Lộc đi theo Kỵ: Lộc mở ra một việc, Kỵ là chỗ việc ấy kết lại hoặc phải trả. Dùng để lần xem cái thuận của một mảng đời cuối cùng đọng ở đâu.
Năm 2027 tuổi nào gặp Lộc Kỵ cùng sao?
Người tuổi Tân: Cự Môn mang Lộc gốc gặp lưu Kỵ của năm Đinh. Người tuổi Ất gặp chiều ngược lại: Thái Âm mang Kỵ gốc được lưu Lộc đi qua.
Lộc Kỵ xung khác đồng cung ở đâu?
Đồng cung là được và vướng trong cùng một mảng đời. Xung là được ở một mảng, vướng ở mảng đối diện, như được ở Quan Lộc mà lay ở Phu Thê, nên cần chia sức cho cả hai đầu.
Nguồn tham khảo: Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — Thái Vi Phú và các phú luận về Lộc, Kỵ · Tử Vi Đẩu Số Tân Biên — Vân Đằng Thái Thứ Lang · Tài liệu giảng dạy phái Phi Tinh, Khâm Thiên Tứ Hoá (Đài Loan) về Lộc tuỳ Kỵ tẩu · Phép đếm đủ 262.944 lá số của 60 năm sinh bằng bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com