Lộc nhập, Lộc xuất, Kỵ nhập, Kỵ xuất: biết cung nào cho, cung nào nhận

Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 9 phút đọc

Lộc nhập, Lộc xuất, Kỵ nhập, Kỵ xuất: biết cung nào cho, cung nào nhận

Trong phép phi hoá, "nhập" là hoá từ cung khác bay vào cung mình đang xét, "xuất" là hoá từ cung ấy bay ra ngoài. Lộc nhập là được cho, Lộc xuất là mình cho; Kỵ nhập là người khác đặt sự để tâm, đòi hỏi lên mình, Kỵ xuất là mình bám vào chỗ khác. Phái Khâm Thiên đọc thêm hướng đi giữa cung "của ta" và cung "của người".

Hai trục để đặt mọi đường bay

Mỗi cung trên lá số mang một thiên can (an theo Ngũ Hổ Độn, xem bài an can mười hai cung), và từ can ấy phát ra bốn hoá bay vào cung có sao bị hoá. Cách làm từng bước ở bài phi tinh Tứ Hoá. Bài này chỉ bàn một câu hỏi: một đường bay nói ai cho, ai nhận.

Để trả lời, phái Khâm Thiên dùng hai trục.

Trục thứ nhất: hoá gì. Lộc là duyên, cái thuận, cái được đem tới. Kỵ là chỗ chấp, chỗ bám, món nợ phải lo. Quyền và Khoa có vai riêng, nhưng hai hoá được dùng nhiều nhất để đọc cho – nhận là Lộc và Kỵ.

Trục thứ hai: từ đâu tới đâu. Mười hai cung chia làm sáu cung ngã (của mình: Mệnh, Tài Bạch, Tật Ách, Quan Lộc, Điền Trạch, Phúc Đức) và sáu cung tha (của người: Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, Thiên Di, Nô Bộc, Phụ Mẫu). Hoá đi từ tha vào ngã là người khác hướng về mình; đi từ ngã ra tha là mình hướng về người khác.

Bốn hướng, một bảng

Ghép hai trục ra bốn hướng chính. Khi nói "Lộc nhập", "Kỵ xuất" mà không nói rõ cung nào, các thầy thường đang đứng ở cung Mệnh hoặc cung đúng câu hỏi (Tài Bạch nếu hỏi tiền, Phu Thê nếu hỏi hôn nhân).

HướngĐịnh nghĩaĐọc về tiền bạcĐọc về quan hệ
Lộc nhậpcung khác phi Lộc vào cung đang xéttiền, cơ hội đến từ phía cung phátđược người ấy đem thuận tới, được nhờ
Lộc xuấtcung đang xét phi Lộc ra cung khácmình đem tiền, sức, cơ hội cho chỗ ấymình hào phóng, chủ động lo cho người ấy
Kỵ nhậpcung khác phi Kỵ vào cung đang xétchỗ ấy đặt gánh, đòi chi, đòi lo lên mìnhngười ấy để tâm vào mình, có khi kỳ vọng, can dự
Kỵ xuấtcung đang xét phi Kỵ ra cung khácmình lo, mình bám vào tiền ở chỗ ấymình đặt nhiều tâm sức, kỳ vọng vào người ấy

Có thêm một hướng đặc biệt: tự hoá, khi can của một cung hoá ngay sao trong cung ấy. Phái Khâm Thiên xếp tự hoá vào loại "xuất": năng lượng của cung tự chảy ra ngoài, không nhắm vào ai. Tự hoá Lộc thường được đọc là cho đi mà không tính; tự hoá Kỵ là tự lo, tự bám, rồi tự buông. Bài Tự Hoá đi riêng phần này.

Ngã và tha làm đổi giọng

Cùng là Lộc nhập Mệnh, Lộc từ Phu Thê bay vào và Lộc từ Tài Bạch bay vào là hai chuyện:

ĐườngLoạiĐọc gọn
tha → ngã (Phu Thê phi Lộc vào Mệnh)hướng tâmngười bạn đời mang thuận đến cho mình
ngã → ngã (Tài Bạch phi Lộc vào Mệnh)trong nhà mìnhtiền mình làm ra nuôi lại chính mình
ngã → tha (Mệnh phi Lộc vào Phu Thê)ly tâmmình lo cho người bạn đời
tha → tha (Huynh Đệ phi Lộc vào Nô Bộc)chuyện giữa người với ngườianh em giúp bạn bè của mình; mình đứng ngoài

Với Kỵ cũng vậy. Kỵ từ cung tha nhập cung ngã thường được đọc là món phải gánh vì người khác. Kỵ từ cung ngã xuất ra cung tha là món mình mang theo khi lo cho người khác. Kỵ đi giữa hai cung ngã là chuyện mình tự sắp xếp: ví dụ Tài Bạch phi Kỵ vào Điền Trạch, tiền làm ra dồn về nhà cửa.

Một lá số: tiền bạc và người bạn đời

Lá số nữ, sinh 14 giờ ngày 22/10/1989 (âm lịch 23 tháng Chín năm Kỷ Tỵ). Bộ máy lá số của site cho Mệnh ở Mão (can Đinh) có Thiên Cơ, Cự Môn cùng miếu, Văn Xương, Linh Tinh. Phu Thê ở Sửu (cũng can Đinh) có Thái Dương, Thái Âm cùng đắc. Tài Bạch ở Hợi (can Ất) có Thiên Đồng đắc và Văn Khúc mang Hoá Kỵ năm sinh.

Chuyện tiền: đứng ở Tài Bạch.

  • Lộc nhập Tài Bạch: Tử Tức và Huynh Đệ (cùng can Bính) phi Lộc vào Thiên Đồng ở Tài Bạch. Đường tha → ngã: tiền, cơ hội kiếm tiền đến qua anh chị em và qua người nhỏ, học trò, người mình dìu dắt.
  • Lộc xuất từ Tài Bạch: Tài Bạch phi Lộc vào Thiên Cơ ở Mệnh. Đường ngã → ngã: tiền làm ra nuôi lại chính mình, đầu tư vào học hỏi, vào bản thân.
  • Kỵ xuất từ Tài Bạch: Tài Bạch phi Kỵ vào Thái Âm ở Phu Thê. Đường ngã → tha: mối bận tâm về tiền hướng về người bạn đời. Tuỳ hoàn cảnh, đó có thể là chuyện quản tiền chung, chuyện chi cho gia đình bên kia, hoặc đơn giản là hai người hay bàn về tiền.
  • Kỵ nhập Tài Bạch: Phúc Đức (can Kỷ) phi Kỵ vào Văn Khúc ở Tài Bạch, Điền Trạch (can Canh) phi Kỵ vào Thiên Đồng ở Tài Bạch. Cả hai đều ngã → ngã: tâm lý và nhà cửa cùng đặt gánh lên chuyện tiền, chẳng hạn lo cho nhà làm mình tính tiền kỹ hơn.

Chuyện vợ chồng: đứng ở Mệnh và Phu Thê. Hai cung này cùng can Đinh, nên phi ra đúng bốn hoá giống nhau:

  • Từ Mệnh, Lộc xuất vào Thái Âm ở Phu Thê: mình đem thuận, đem sự chăm lo cho người bạn đời.
  • Từ Phu Thê, Kỵ nhập vào Cự Môn ở Mệnh: người bạn đời để tâm vào mình, và vì Cự Môn là sao của lời nói, sự để tâm ấy hay hiện ra bằng lời: góp ý, nhắc nhở, hỏi han.
  • Mệnh cũng tự hoá Kỵ trên Cự Môn: chính mình hay tự xét lời mình nói.

Đọc gộp, cặp đường này mô tả một nhịp quen trong nhiều gia đình: một người lo, một người nói. Không đường nào trong đó là "xấu". Lộc mình xuất sang người kia là cái mình cho; Kỵ người kia nhập vào mình là cái họ mong ở mình. Biết vậy thì dễ nói với nhau hơn.

Thêm một lớp thời gian: năm 2027, lưu Hoá Kỵ (Cự Môn) và lưu Hoá Khoa (Thiên Cơ) cùng rơi về Mệnh, và lưu Hoá Lộc (Thái Âm) rơi về Phu Thê. Đúng hai đầu của nhịp trên được nhắc lại trong năm.

Đừng biến đường bay thành câu phán

Phi hoá rất dễ bị đọc quá tay, vì mỗi đường bay nghe như một câu có chủ ngữ, vị ngữ rõ ràng. Mấy kiểu đọc sai thường gặp:

Đọc quá tayĐọc đúng mức
"Phu Thê Kỵ nhập Mệnh: vợ hoặc chồng làm khổ mình"người bạn đời để tâm, kỳ vọng vào mình; hiện ra thế nào tuỳ sao và tuỳ hai người
"Tài Bạch Kỵ xuất Phu Thê: tiền sẽ mất vào tay vợ hoặc chồng"chuyện tiền của mình gắn với người bạn đời; nên rạch ròi tiền chung, tiền riêng
"Không có Lộc nhập Mệnh: không ai giúp mình"mỗi lá số có mười hai đường Lộc; người giúp mình có thể hiện ra qua cung khác
"Kỵ nhập ba lần: ba lần mất"nhiều đường Kỵ cùng nhập một chỗ là chỗ được để tâm nhiều, cần sắp xếp trước

Ba nguyên tắc giữ cho việc đọc phi hoá tỉnh táo:

  1. Chỉ đọc đường của cung đúng câu hỏi. Mỗi lá số có bốn mươi tám đường bay; đọc hết như nhau thì ai cũng thấy đời mình rối.
  2. Đọc cùng sao. Kỵ nhập trên Cự Môn là chuyện lời nói, trên Vũ Khúc là chuyện tiền mặt, trên Văn Xương là chuyện giấy tờ. Đường bay chỉ cho biết hướng; sao cho biết chất liệu.
  3. Không gán mốc thời gian cho đường bay gốc. Muốn biết khi nào thì phải chồng Tứ Hoá đại vận, lưu niên lên.

Sách cổ nói gì

Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư có bảng Tứ Hoá theo mười can và dùng nó cho năm sinh, đại ý xem Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ rơi vào cung nào, gặp sao nào. Toàn Thư không có các khái niệm nhập, xuất, cung ngã, cung tha. — Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (đại ý)

Các tài liệu giảng dạy của phái Khâm Thiên Tứ Hoá, Phi Tinh ở Đài Loan từ nửa sau thế kỷ hai mươi mới hệ thống hoá phép phi hoá theo can cung, với những câu giảng gọn, đại ý: Lộc là duyên, Kỵ là nợ; hoá từ tha nhập ngã là hướng tâm, từ ngã nhập tha là ly tâm. — tài liệu giảng dạy Khâm Thiên, Phi Tinh (đại ý)

Bình: theo truyền thống của các phái này, phép phi hoá được truyền khẩu từ lâu; văn bản hiện còn thì mới có từ thế kỷ hai mươi. Người học nên biết điều đó để đặt phép này đúng chỗ: một công cụ đọc quan hệ khá tinh, chưa phải di sản có sách cổ làm chứng.

Đọc cho đúng mức

  • Cách chia ngã – tha không hoàn toàn thống nhất giữa các thầy. Bài theo cách chia phổ biến (sáu ngã, sáu tha như trên); gặp tài liệu chia khác thì đọc lại các đường theo cách chia của tài liệu ấy.
  • Tử vi Việt truyền thống không dùng phi hoá. Người theo sách Việt đọc cùng lá số sẽ không nói "Kỵ nhập", "Lộc xuất"; hai hệ đọc cùng tồn tại, xem bài Tứ Hoá ở tử vi Việt và Đài Loan.
  • Hai cung trùng can phi giống nhau. Đó là đặc điểm cơ học của lá số (Tý trùng Dần, Sửu trùng Mão), không phải điềm riêng.
  • Bảng Tứ Hoá có dị bản ở can Canh, can Nhâm, nên đường phi của cung mang can ấy có thể khác giữa các phần mềm.
  • Phi hoá mô tả xu hướng quan hệ, không thay được việc hai người nói chuyện với nhau.

Việc nên làm

  1. Chọn đúng một câu hỏi (tiền, hôn nhân, công việc) và cung tương ứng.
  2. Ghi bốn đường từ cung ấy phát ra (xuất), rồi tìm những cung phi Lộc, phi Kỵ vào nó (nhập).
  3. Đánh dấu từng đường là tha → ngã, ngã → tha hay ngã → ngã.
  4. Với mỗi Kỵ nhập, viết ra một câu: người hay việc ấy đang mong gì ở mình. Với mỗi Kỵ xuất: mình đang mong gì ở họ. Đó thường là chỗ cần nói rõ.

Xem lá số tử vi của chính bạn

Nhập ngày giờ sinh, có ngay lá số đủ 14 chính tinh, Tứ Hoá, đại vận và điểm từng cung — miễn phí, riêng tư.

Lập lá số miễn phí

Nguồn tham khảo

  • Tài liệu giảng dạy phái Khâm Thiên Tứ Hoá, Phi Tinh của Đài Loan — khái niệm nhập, xuất, cung ngã, cung tha, Lộc là duyên Kỵ là nợ (đại ý, mức khái quát).
  • Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — bảng Tứ Hoá theo can (đại ý).
  • Lá số ví dụ, can cung và bảng phi hoá mười hai cung: bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com.

Câu hỏi thường gặp

Lộc nhập và Lộc xuất khác nhau thế nào?

Lộc nhập là cung khác phi Hoá Lộc vào cung đang xét, nghĩa là được cho, được đem thuận tới. Lộc xuất là cung đang xét phi Lộc ra cung khác, nghĩa là mình chủ động cho, lo cho chỗ ấy.

Kỵ nhập Mệnh có phải bị người khác hại?

Không. Kỵ nhập Mệnh thường đọc là có người hoặc việc đặt sự để tâm, kỳ vọng lên mình. Từ cung tha vào thì là người khác mong ở mình; từ cung ngã vào là chính việc của mình dồn về mình.

Cung ngã và cung tha gồm những cung nào?

Theo cách chia phổ biến của phái Khâm Thiên: cung ngã là Mệnh, Tài Bạch, Tật Ách, Quan Lộc, Điền Trạch, Phúc Đức; cung tha là Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức, Thiên Di, Nô Bộc, Phụ Mẫu.

Tự hoá được tính là nhập hay xuất?

Phái Khâm Thiên xếp tự hoá vào loại xuất: năng lượng của cung tự chảy ra ngoài, không nhắm vào cung nào. Tự hoá Kỵ thường đọc là tự lo rồi tự buông.

Tài Bạch Kỵ xuất sang Phu Thê có nghĩa mất tiền vì vợ chồng?

Không nên đọc vậy. Đường này nói chuyện tiền của mình gắn với người bạn đời: quản tiền chung, chi cho gia đình hai bên, hay bàn về tiền. Rạch ròi tiền chung và tiền riêng là việc nên làm.

Nguồn tham khảo: Tài liệu giảng dạy phái Khâm Thiên Tứ Hoá, Phi Tinh (Đài Loan) về nhập, xuất, cung ngã, cung tha · Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — phần Tứ Hoá theo can · Lá số ví dụ và bảng phi hoá lập bằng bộ máy Tử Vi phái Việt của aihuyenhoc.com

An thiên can cho mười hai cung bằng Ngũ Hổ Độn: bước phải biết trước khi phi Tứ HoáCan cung tử vi an thế nào: bảng Ngũ Hổ Độn đủ 5 nhóm năm × 12 cung, vì sao Tý Sửu lặp can của Dần Mão, cặp cung nào trùng can, cá…
Hoá Quyền: nắm việc, quyết đoán và lúc nắm chặt thành cố chấpHoá Quyền trong tử vi: sao được tăng lực, chủ động, nắm việc. Mười kiểu quyền theo sao, Quyền ở Phu Thê là người kia nắm quyền, Q…
Tứ Hoá lưu niên chồng lên Tứ Hoá gốc: ba tầng Lộc Kỵ của năm, đại vận và năm sinhTứ Hoá lưu niên là gì và chồng lên Tứ Hoá năm sinh, Tứ Hoá đại vận ra sao: làm mẫu trọn một lá số qua năm 2027 Đinh Mùi, chỉ ra c…
Hoá Kỵ đóng ở mười hai cung: chỗ để tâm của đời người, đọc không hoảngHoá Kỵ ở cung Mệnh và mười một cung còn lại đọc thế nào: bảng 12 cung, lối đọc cũ, việc cụ thể nên chú ý và cung đối bị Kỵ xung, …
Lộc Kỵ đồng cung, Lộc Kỵ xung nhau: được và vướng ở cùng một chỗLộc Kỵ đồng cung là gì, phân biệt Lộc Kỵ cùng một sao (Lộc gốc gặp Kỵ năm, Kỵ vận) với Lộc Kỵ khác sao, Lộc Kỵ xung; khẩu quyết L…
Hoá Kỵ: chỗ vướng, chỗ để tâm và vì sao Kỵ không phải là "xui"Hoá Kỵ trong tử vi là chỗ mình để tâm, bám vào, không phải sao xui. Cách đọc Kỵ theo độ sáng, Kỵ xung cung đối, Kỵ chuyển Kỵ, kèm…