Nguyệt kiến, nhật thần trong Lục Hào: vì sao cùng một quẻ, gieo tháng khác ngày khác thì đoán khác
Chủ biên Thắng Hồ · Cập nhật 21/10/2026 · 10 phút đọc
Nguyệt kiến là địa chi của tháng gieo quẻ, tính theo tiết khí (từ Lập Xuân là tháng Dần); nhật thần là địa chi của ngày gieo. Hai mốc này quyết định hào nào vượng, hào nào suy, hào nào bị xung, bị phá. Cùng một quẻ, gieo ở tháng khác hay ngày khác thì sức của các hào đổi, nên lời đoán đổi theo.
Nguyệt kiến tính theo tiết, không theo tháng âm
Đây là chỗ người mới sai nhiều nhất. Tháng trong Lục Hào không phải tháng âm lịch trên tờ lịch treo tường, mà là tháng tiết: mỗi tháng bắt đầu ở một "tiết" (Lập Xuân, Kinh Trập…), tức lúc mặt trời đến một vị trí cố định trên hoàng đạo. Tháng âm theo trăng, tháng tiết theo mặt trời; hai lịch lệch nhau từ vài ngày tới gần một tháng.
Ngày bắt đầu mười hai tháng tiết năm 2027, tính bằng bộ máy lịch của site (giờ Việt Nam):
| Tháng tiết (nguyệt kiến) | Bắt đầu từ tiết | Ngày dương lịch 2027 |
|---|---|---|
| Sửu | Tiểu Hàn | 5/1 |
| Dần | Lập Xuân | 4/2 |
| Mão | Kinh Trập | 6/3 |
| Thìn | Thanh Minh | 5/4 |
| Tỵ | Lập Hạ | 6/5 |
| Ngọ | Mang Chủng | 6/6 |
| Mùi | Tiểu Thử | 7/7 |
| Thân | Lập Thu | 8/8 |
| Dậu | Bạch Lộ | 8/9 |
| Tuất | Hàn Lộ | 8/10 |
| Hợi | Lập Đông | 7/11 |
| Tý | Đại Tuyết | 7/12 |
Tết Đinh Mùi rơi vào thứ Bảy 6/2/2027, còn Lập Xuân là 4/2. Nghĩa là quẻ gieo ngày 4/2 hoặc 5/2/2027, khi lịch âm còn ghi tháng Chạp năm Bính Ngọ, đã là tháng Dần. Ai lấy tháng âm làm nguyệt kiến sẽ đọc sai cả quẻ. Bảng tiết khí đủ hai mươi bốn tiết có ở bài tiết khí 2027.
Vượng, tướng, hưu, tù, tử: nguyệt kiến chia sức cho năm hành
Hành của nguyệt kiến cầm quyền trong tháng. So hành của một hào với hành của tháng, ta có năm mức:
| Tháng (nguyệt kiến) | Vượng | Tướng | Hưu | Tù | Tử |
|---|---|---|---|---|---|
| Dần, Mão (Mộc) | Mộc | Hỏa | Thủy | Kim | Thổ |
| Tỵ, Ngọ (Hỏa) | Hỏa | Thổ | Mộc | Thủy | Kim |
| Thìn, Tuất, Sửu, Mùi (Thổ) | Thổ | Kim | Hỏa | Mộc | Thủy |
| Thân, Dậu (Kim) | Kim | Thủy | Thổ | Hỏa | Mộc |
| Hợi, Tý (Thủy) | Thủy | Mộc | Kim | Thổ | Hỏa |
Cách nhớ: cùng hành với tháng là vượng; được tháng sinh là tướng; sinh ra tháng (mất sức vì nuôi người khác) là hưu; khắc tháng (đánh vào kẻ đang cầm quyền) là tù; bị tháng khắc là tử. Vài sách đổi chỗ tù và tử, nhưng trong Lục Hào người ta thường gộp hai mức cuối và hưu thành "hưu tù", tức là yếu. Nguyên lý chung của bảng này ở bài vượng, tướng, hưu, tù, tử.
Lục Hào dùng thẳng chi tháng, nên bốn tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi đều là tháng Thổ vượng. Một số thầy cho rằng tháng Thìn còn dư khí Mộc, tháng Mùi còn dư khí Hỏa; Tăng San không nhấn chuyện này, và chúng tôi theo lối dùng thẳng chi tháng.
Nguyệt kiến làm được bốn việc với một hào
| Quan hệ với nguyệt kiến | Tên | Tác dụng |
|---|---|---|
| Cùng chi, hoặc cùng hành | lâm nguyệt, nguyệt phù | hào vượng, có gốc cả tháng |
| Tháng sinh hào | nguyệt sinh | hào tướng, có lực |
| Tháng khắc hào | nguyệt khắc | hào tử, yếu trong tháng ấy |
| Tháng xung hào (Tý – Ngọ, Sửu – Mùi, Dần – Thân, Mão – Dậu, Thìn – Tuất, Tỵ – Hợi) | nguyệt phá | hào hiện tại vô lực, như bị nhổ gốc |
| Tháng hợp hào (Tý – Sửu, Dần – Hợi, Mão – Tuất, Thìn – Dậu, Tỵ – Thân, Ngọ – Mùi) | nguyệt hợp | hào được níu, được giúp |
Nguyệt phá có bài riêng, kèm bảng đủ mười hai tháng: tuần không, nguyệt phá. Ở đây chỉ cần nhớ: nguyệt kiến quản cả tháng, hơn ba mươi ngày. Nó là cái nền; một hào được tháng giúp thì mấy ngày xấu chưa làm nó gục, một hào bị tháng khắc thì mấy ngày tốt chỉ đỡ tạm.
Nhật thần: chi của ngày gieo
Nhật thần đổi mỗi ngày, nên nó là lực tác động trực tiếp lên hào hơn là cái nền. Nó làm được những việc nguyệt kiến làm (sinh, phù, khắc, hợp), cộng thêm vài việc riêng:
- Xung hào tĩnh. Hào tĩnh mà vượng bị ngày xung thì "ám động", như bị đánh thức; hào tĩnh mà suy bị ngày xung thì "nhật phá", như bị đánh gãy. Hai chuyện này có bài ám động, nhật phá.
- Hợp hào. Ngày hợp hào tĩnh thì đọc là hào được kéo dậy; ngày hợp hào động thì hào bị níu lại, chậm việc.
- Mộ và trường sinh. Hào gặp ngày là mộ của hành mình (Thủy, Thổ mộ ở Thìn; Mộc ở Mùi; Hỏa ở Tuất; Kim ở Sửu) thì "nhập mộ ở nhật thần", bị bó; gặp ngày trường sinh thì được nuôi. Chi tiết ở bài trường sinh, mộ, tuyệt.
- Tuần không. Can chi ngày quyết định tuần giáp, tức hai chi bị "không" trong mười ngày ấy.
Tăng San Bốc Dịch coi nhật thần là chủ của sáu hào, đại ý: ngày có thể cứu một hào đang bị tháng khắc, cũng có thể hại một hào đang được tháng giúp. Nhiều sách còn nói nhật thần bốn mùa đều có lực, không bị coi là hưu tù như hào.
Tháng và ngày đá nhau thì nghe ai
| Tháng | Ngày | Cách đọc phổ biến |
|---|---|---|
| giúp | giúp | hào mạnh nhất, việc có nền và có lực đẩy |
| giúp | khắc | có nền, nhưng trước mắt bị cản; thường chỉ chậm, không hỏng |
| khắc | giúp | được ngày cứu: yếu nền nhưng có người đỡ, việc vẫn có cửa |
| khắc | khắc | yếu cả nền lẫn tay; trừ khi có hào động sinh, khó trông vào |
Lối đọc này gom từ các chương nguyệt, nhật của Tăng San và Bốc Phệ Chính Tông, đại ý. Ở ca giữa, các thầy cân nặng nhẹ không giống nhau; người theo Tăng San thường cho ngày nặng tay hơn trong việc ngắn hạn, tháng nặng hơn trong việc kéo dài.
Một hào, mười hai tháng
Để thấy nguyệt kiến làm đổi quẻ đến mức nào, lấy một hào cụ thể: Dần Mộc. Trên cùng một quẻ, hào này mạnh yếu như sau tuỳ tháng gieo:
| Tháng tiết | Dần Mộc | Ghi chú |
|---|---|---|
| Dần | vượng | lâm nguyệt, mạnh nhất |
| Mão | vượng | nguyệt phù |
| Thìn | tù | |
| Tỵ, Ngọ | hưu | Mộc sinh Hỏa, mất sức |
| Mùi | tù | |
| Thân | tử | lại bị nguyệt phá (Dần – Thân xung) |
| Dậu | tử | Kim khắc Mộc |
| Tuất | tù | |
| Hợi | tướng | lại được nguyệt hợp (Dần – Hợi) |
| Tý | tướng | |
| Sửu | tù |
Chỉ riêng tháng đã chia một năm của hào này thành bốn tháng có lực, tám tháng yếu, trong đó một tháng bị phá. Cộng thêm ba mươi ngày mỗi tháng, mười hai nhật thần khác nhau, thì chuyện "cùng quẻ mà đoán khác" là lẽ thường của môn này, không phải chỗ tuỳ tiện.
Ví dụ: cách nhau hai ngày, kết luận ngược
Người hỏi: "Khoản tiền công khách hứa trả trước Tết, có về không?" Hỏi tiền nên lấy Thê Tài làm dụng thần. Quẻ ra Trạch Thủy Khốn, sáu hào tĩnh. Khốn là quẻ nhất thế của cung Đoài (Kim), Thế hào 1, Ứng hào 4:
| Hào | Can chi | Lục thân | Vai khi hỏi tiền |
|---|---|---|---|
| 6 | Đinh Mùi Thổ | Phụ Mẫu | cừu thần |
| 5 | Đinh Dậu Kim | Huynh Đệ | kỵ thần |
| 4 (Ứng) | Đinh Hợi Thủy | Tử Tôn | nguyên thần |
| 3 | Mậu Ngọ Hỏa | Quan Quỷ | nhàn thần |
| 2 | Mậu Thìn Thổ | Phụ Mẫu | cừu thần |
| 1 (Thế) | Mậu Dần Mộc | Thê Tài | dụng thần, trì Thế |
Tài trì Thế: tiền gắn với chính người hỏi. Giờ đặt quẻ vào hai ngày cuối năm âm lịch, tính bằng bộ máy lịch của site.
Gieo ngày 3/2/2027 (27 tháng Chạp Bính Ngọ): tháng tiết Sửu (chưa tới Lập Xuân), ngày Quý Sửu, tuần Giáp Thìn, tuần không Dần, Mão.
- Dụng thần Dần Mộc: tháng Sửu là Thổ, Mộc khắc Thổ nên Tài ở thế tù; ngày Sửu không sinh, không phù; lại rơi đúng vào tuần không. Tài yếu, tĩnh, không, là loại "không thật".
- Kỵ thần Dậu Kim: tháng Sửu Thổ sinh Kim, tướng; ngày Sửu cũng là Thổ sinh Kim. (Sửu còn là mộ của Kim, nhưng hào đang tướng thì sách ít coi chuyện nhập mộ là nặng.)
- Nguyên thần Hợi Thủy: tháng Sửu Thổ khắc Thủy, tử; ngày Sửu cũng khắc.
Đọc theo sách: tiền chưa có thật, lực cản (người chia phần, khoản chi khác) đang mạnh, nguồn nuôi tiền bị chặn. Khoản này khó về trong mấy ngày ấy.
Gieo ngày 5/2/2027 (29 tháng Chạp, vẫn trước Tết): tháng tiết đã sang Dần (Lập Xuân 4/2), ngày Ất Mão, tuần Giáp Dần, tuần không Tý, Sửu.
- Dụng thần Dần Mộc: lâm nguyệt, vượng nhất có thể; ngày Mão cùng hành phù thêm; không còn tuần không.
- Kỵ thần Dậu Kim: tháng Dần, Kim khắc Mộc, tù; ngày Mão xung Dậu, hào suy bị ngày xung là nhật phá.
- Nguyên thần Hợi Thủy: tháng Dần ở thế hưu, nhưng Hợi với Dần là lục hợp: nguyên thần hợp với dụng thần, nguồn nuôi gắn với tiền.
Đọc theo sách: tiền có lực, lực cản bị gãy. Cùng một quẻ, cùng tháng Chạp trên tờ lịch, chỉ cách hai ngày, mà kết luận đảo ngược. Toàn bộ sự khác biệt nằm ở nguyệt kiến đổi từ Sửu sang Dần và nhật thần đổi từ Sửu sang Mão.
Một ngày thứ ba để thấy ngày "cứu" tháng. Gieo cùng quẻ ngày 20/9/2027: tháng Dậu, ngày Nhâm Dần, tuần không Thìn, Tỵ. Tài Dần Mộc bị tháng Dậu khắc, ở thế tử; nhưng ngày lại đúng Dần, Tài lâm nhật. Đây là ca "tháng khắc, ngày giúp" trong bảng trên: nền yếu mà có tay đỡ. Lối đọc phổ biến coi Tài vẫn có lực trong việc ngắn hạn, nhưng kỵ thần Dậu Kim lâm nguyệt đang vượng, nên chỉ cần thêm một hào Kim động là thế đổi. Một quẻ như vậy nên đọc dè dặt hơn hẳn ngày 5/2.
Gieo đúng lúc giao tiết, hoặc gần nửa đêm
Hai tình huống làm nguyệt kiến, nhật thần trở nên mơ hồ:
Gieo ngày giao tiết. Tiết bắt đầu ở một giờ cụ thể, không phải đầu ngày. Theo bộ máy lịch của site, Lập Đông 2027 rơi vào khoảng 22 giờ 40 tối 7/11/2027 (giờ Việt Nam, sai số vài phút). Quẻ gieo chiều 7/11 vẫn thuộc tháng Tuất; gieo sau giờ ấy mới là tháng Hợi. Hào Thìn, Tuất, Sửu, Mùi đang vượng ở tháng Tuất sẽ thành tù ở tháng Hợi. Gieo ngày giao tiết thì phải ghi giờ.
Gieo gần nửa đêm. Ngày can chi đổi ở giờ Tý, nhưng các thầy không thống nhất đổi lúc 23 giờ hay 0 giờ (chuyện giờ Tý đêm, giờ Tý sớm). Gieo khoảng 23 đến 24 giờ là gieo vào vùng tranh cãi: nhật thần, lục thú, tuần không đều có thể lệch một ngày. Cách đơn giản nhất là tránh gieo trong khung giờ ấy, hoặc chọn một lối và ghi rõ trong sổ quẻ.
Sách cổ nói gì
Đại ý, Tăng San Bốc Dịch coi nguyệt kiến là cương lĩnh của quẻ: nó làm hào vượng được, làm hào suy được, sinh được, khắc được, xung thành phá, hợp thành giúp; ra khỏi tháng ấy thì quyền của nó cũng hết. — Tăng San Bốc Dịch, chương Nguyệt tướng (đại ý)
Đại ý, sách cũng gọi nhật thần là chủ tể của sáu hào: nó cứu được hào bị tháng khắc, hại được hào đang được tháng giúp, xung được hào tĩnh cho động, hợp được hào động cho dừng. — Tăng San Bốc Dịch, chương Nhật thần (đại ý)
Bình: hai câu này ghép lại cho thấy cấu trúc thời gian của Lục Hào: tháng là thời thế, ngày là lực trước mắt. Người hỏi việc kéo dài nhiều tháng nên nhìn nguyệt kiến kỹ hơn; người hỏi việc tính bằng ngày, tuần nên nhìn nhật thần kỹ hơn. Các thầy khác nhau ở cách cân hai lực này, và chính chỗ cân ấy làm nên khác biệt giữa các lối đoán.
Đọc cho đúng mức
Phép vượng suy theo tháng, ngày là quy tắc cố định: ai tính đúng tháng tiết và can chi ngày cũng ra cùng một bảng. Phần đọc sức mạnh của hào thành sự việc là diễn giải của Lục Hào, chưa được kiểm chứng là đoán tốt hơn ngẫu nhiên. Chính việc cùng một quẻ đổi kết luận theo ngày cho thấy Lục Hào dựa trên giả định rằng thời điểm gieo phản ánh việc hỏi; người dùng nên biết đó là giả định, không phải điều đã được chứng minh. Vì thế đừng gieo lại liên tục để tìm một ngày cho quẻ "đẹp"; làm vậy là đang chọn đáp án, không phải hỏi.
Việc nên làm
- Ghi ngày, giờ gieo ngay khi gieo; tra tháng tiết bằng công cụ lịch của site, không dùng tháng âm.
- Với dụng thần, nguyên thần, kỵ thần, ghi đủ hai cột: so với tháng (vượng, tướng, hưu, tù, tử, phá, hợp) và so với ngày (sinh, phù, khắc, xung, hợp, mộ).
- Gieo trong ngày giao tiết thì đối chiếu giờ giao tiết; tránh gieo trong khung 23 đến 24 giờ.
- Việc kéo dài thì cân tháng nặng hơn; việc trong vài ngày thì cân ngày nặng hơn; ghi lại lựa chọn ấy.
- Mỗi câu hỏi gieo một lần, rồi ghi sổ và đối chiếu khi việc đã rõ.
Gieo ba đồng xu sáu lần, ra quẻ chủ, hào động, quẻ biến — AI giải theo câu hỏi.✨ Dùng thử
Nguồn tham khảo
- Dã Hạc lão nhân, Lý Văn Huy tăng san — Tăng San Bốc Dịch, chương Nguyệt tướng, chương Nhật thần, chương Tứ thời vượng tướng (đại ý)
- Vương Hồng Tự — Bốc Phệ Chính Tông (đại ý)
- Ngày bắt đầu tháng tiết và giờ giao tiết năm 2027, can chi ngày, tuần không: bộ máy lịch của aihuyenhoc.com; quẻ lập bằng bảng nạp giáp Kinh Phòng
Câu hỏi thường gặp
Nguyệt kiến là gì?
Là địa chi của tháng gieo quẻ, tính theo tiết khí: từ Lập Xuân là tháng Dần, từ Kinh Trập là tháng Mão, và cứ thế. Nó quyết định hào nào vượng, hào nào suy trong cả tháng.
Nhật thần là gì?
Là địa chi của ngày gieo quẻ. Nhật thần sinh, khắc, xung, hợp các hào, cứu được hào bị tháng khắc và quyết định tuần không.
Nguyệt kiến có tính theo tháng âm lịch không?
Không. Nguyệt kiến tính theo tháng tiết; ví dụ ngày 5/2/2027 vẫn là tháng Chạp âm lịch nhưng đã là tháng Dần vì Lập Xuân rơi vào 4/2.
Tháng khắc mà ngày sinh thì hào mạnh hay yếu?
Lối đọc phổ biến coi hào được ngày cứu, vẫn có lực trước mắt nhưng nền yếu; việc có cửa nhưng dễ đổi nếu gặp thêm hào động khắc.
Vì sao cùng một quẻ gieo hai ngày lại đoán khác?
Vì nguyệt kiến và nhật thần đổi thì sức của từng hào đổi; dụng thần có thể từ tù và tuần không thành vượng chỉ sau một lần chuyển tiết.
Nguồn tham khảo: Tăng San Bốc Dịch — Dã Hạc lão nhân, Lý Văn Huy tăng san — chương Nguyệt tướng (nguyệt kiến), chương Nhật thần, chương Tứ thời vượng tướng · Bốc Phệ Chính Tông — Vương Hồng Tự · Giờ giao tiết năm 2027, can chi ngày, tháng tiết, tuần không tính bằng bộ máy lịch của aihuyenhoc.com; quẻ lập bằng bảng nạp giáp Kinh Phòng